BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
BIỆN KHẮC HUY
LỚP: 12DTM2
KHÓA: 2012 - 2016
MSSV: 1212050042
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Tên đề tài:
“TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC
XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP)
ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU
TÔM THẺ CHÂN TRẮNG CỦA VIỆT NAM
VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020”
CHUYÊN NGÀNH: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THẠC SỸ NGUYỄN THỊ CẨM LOAN
TP. HCM, NĂM: 2014
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
BIỆN KHẮC HUY
LỚP: 12DTM2
KHÓA: 2012 - 2016
MSSV: 1212050042
………………………………………………………………………………………………
….
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………..
4
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- TPP: Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định Đối tác
-
xuyên Thái Bình Dương).
tế Hoa Kỳ)
FTA: Free trade agreement (Hiệp định thương mại tự do)
TRIPS: Trade Related Intellectual Property Rights (Hiệp định liên quan đến quyền
sở hữu trí tuệ)
ACTU :Australian Council of Trade Unions (Hội đồng các liên đoàn lao động
Australia)
DANH MỤC HÌNH ẢNH
6
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Trong nhiều năm qua, thuỷ sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của
Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tăng liên tục qua các năm với mức tăng trưởng
khoảng 15 - 20%/năm. 10 năm qua, thuỷ sản Việt Nam liên tục tăng trưởng với kim ngạch
xuất khẩu tăng hơn 3 lần, từ 2 tỷ USD năm 2002 lên 6,1 tỷ USD vào năm 2011. Năm
2013, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 6,7 tỷ USD, vượt qua chỉ tiêu 6,5 tỷ USD. Trong
9 tháng năm 2014, kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này cũng đã đạt 5,7 tỷ USD. Đây là
cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam hướng tới con số 10 tỷ USD vào
năm 2020 theo mục tiêu chiến lược phát triển xuất khẩu thuỷ sản giai đoạn 2010 - 2020
của Chính phủ, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một trong bốn quốc gia đứng đầu về
xuất khẩu thuỷ sản trên thế giới.1
3 Bảo Ngọc (2014), “Xuất khẩu tôm có thể vượt mức 3,5 tỷ USD”, Báo điện tử Vietnam Economic
News, truy cập ngày 1/12/2014, xem tại “ />4 Nhật Minh (2013), “Ngoạn mục xuất khẩu tôm thẻ chân trắng”, Báo điện tử stockbiz.vn, truy cập
ngày 1/12/2014, xem tại “ />
8
-
-
-
giai đoạn rà soát lần thứ 8. Theo đó, giai đoạn rà soát lần thứ 8 diễn ra từ ngày 1/2/2012
đến ngày 31/1/2013 có 32 doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam chịu thuế chống bán phá
giá, với mức thuế bình quân là 6,37%.5
Có thể thấy, đây là một khó khăn lớn cho doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của
Việt Nam. Do vậy, việc 32 doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam bị phía Mỹ áp thuế
chống bán phá giá vào cuối tháng 9 này đang làm nảy sinh vấn đề đến xuất khẩu thủy sản
nói chung và mặt hàng tôm nói riêng vào năm 2014 và lộ trình đạt con số 10 tỷ USD vào
năm 2020.
Nhưng bên cạnh đó, một chủ đề thu hút được rất nhiều sự quan tâm đó chính là
Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic
Economic Partnership Agreement - viết tắt TPP). Trải qua rất nhiều vòng đàm phán với
mức ảnh hưởng rộng lớn và sâu sắc trên nhiều lĩnh vực, với nhiều đối tác tiềm năng lớn
hứa hẹn sẽ là những bạn hàng, những thị trường đầy triển vọng đối với nước ta sau này.
Đó là cơ hội cũng như thách thức đến xuất khẩu thủy sản nói chung cũng như mặt hàng
tôm, đặc biệt là tôm thẻ chân trắng nói riêng.
Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Tác động của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình
Dương (TPP) đến hoạt động sản xuất và xuất khẩu tôm thẻ chân trắng của Việt Nam
và định hướng đến năm 2020” là một vấn đề hết sức cần thiết, nhằm tìm lời giải cho
từ Internet và sách, báo chuyên ngành. Sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so
sánh, tham khảo ý kiến từ các nhận xét khách quan của những chuyên gia trong lĩnh vực
sản xuất và xuất khẩu thủy sản, đặc biệt là tôm thẻ chân trắng để kết hợp phân tích từ đó
làm rõ hơn nội dung đề tài.
Sử dụng công cụ SWOT để phân tích các điểm mạnh, điểm yếu trong sản xuất và
xuất khẩu tôm thẻ chân trắng của Việt Nam; những cơ hội và thách thức mà TPP sẽ đem
đến. Từ đó, đưa ra các đề xuất hành động thích hợp cho các doanh nghiệp sản xuất và
xuất khẩu tôm thẻ chân trắng.
5.
KẾT CẤU ĐỀ ÁN :
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, mục lục và phụ lục, nội
dung chính của đề tài gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Chương 2: Tình hình sản xuất và xuất khẩu tôm thẻ chân trắng của Việt Nam.
Chương 3: Các tác động của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đến
việc sản xuất và xuất khẩu tôm thẻ chân trắng của Việt Nam.
Chương 4: Một số đề xuất và giải pháp đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu khẩu tôm
thẻ chân trắng của Việt Nam và định hướng phát triển đến năm 2020.
NỘI DUNG
1.
HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TRANS PACIFIC STRATEGIC ECONOMIC PARTNERSHIP AGREEMENT
- TPP)
10
1.1. Tổng quan về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương.6
1.1.1. Khái niệm.
Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (tiếng Anh: TransPacific Strategic Economic Partnership Agreement - viết tắt TPP) là một hiệp đinh/thỏa
phán P4 mở rộng và chính thức tham gia một số cuộc thảo luận về mở cửa thị trường dịch
vụ tài chính với các nước P4. Tháng 11 cùng năm, các nước Úc, Peru và Việt Nam cũng
bày tỏ sự quan tâm và tham gia đàm phán TPP, nâng tổng số thành viên tham gia lên 8
6 Chuyên đề “Đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP, truy cập ngày
5/12/2014, xem tại “ />
11
nước (trừ Việt Nam đến 13/11/2010 mới tuyên bố tham gia đàm phán với tư cách thành
viên đầy đủ, các nước khác quyết định tham gia chính thức ngay từ đầu). Cũng từ thời
điểm này, đàm phán mở rộng P4 được đặt tên lại là đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên
Thái Bình Dương (TPP).
Tuy nhiên đàm phán TPP mới đã bị trì hoãn đến tận cuối 2009 do phải chờ đợi Hoa
Kỳ hoàn thành kỳ bầu cử Tổng thống và Chính quyền mới của Tổng thống Obama tham
vấn và xem xét lại việc tham gia đàm phán TPP. Tháng 12/2009 Văn phòng Đại diện
Thương mại Hoa Kỳ (Office of the United States Trade Representative – USTR) mới
thông báo quyết định của Tổng thống Obama về việc Hoa Kỳ tiếp tục tham gia TPP. Chỉ
lúc này đàm phán TPP mới được chính thức khởi động.
Vòng đàm phán TPP đầu tiên được tiến hành tại Melbourn - Úc vào tháng 3/2010.
Ngày 10/9/2014 Các trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương
(TPP) đã hoàn tất 10 ngày đàm phán căng thẳng tại Hà Nội – Việt Nam, kết thúc vòng
đàm phán thứ 20.
Trong vòng đàm phán tại Hà Nội, Việt Nam, Mỹ, Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật
Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru và Singapore đã giải quyết thành công nhiều
vấn đề và thu hẹp khoảng cách trong nhiều lĩnh vực khác.Các đoàn đàm phán đã đạt được
tiến bộ quan trọng về doanh nghiệp nhà nước, sở hữu trí tuệ, đầu tư, quy tắc xuất xứ, tính
minh bạch và chống tham nhũng, lao động. Các đoàn cũng tiếp tục xây dựng các gói tiếp
cận đầy tham vọng nhằm đưa hàng hóa, dịch vụ/đầu tư, dịch vụ tài chính và mua sắm
chính phủ vào thị trường của nhau với thuế suất ưu đãi, theo thông cáo báo chí từ Đại sứ
quán Mỹ tại Hà Nội. Sau khi giảm số lượng các vấn đề còn tồn đọng, Mỹ và 11 quốc gia
-
•
•
-
-
-
•
•
•
-
-
TPP và cũng muốn trở thành một phần trong những giao dịch với khu vực có tốc độ phát
triển nhanh nhất- Châu Á-Thái Bình Dương.
Chính vì những lợi ích đó nên Nhật Bản đã khởi động việc chuẩn bị gia nhập vào TPP.
Điều này làm cho quá trình đàm phán TPP trở nên phức tạp nhất là khi có những quan
điểm trái chiều giữa Nhật và một số nước chủ chốt trong tiến trình TPP đặc biệt là Mỹ.
Nếu hàng rào thuế quan được bãi bỏ trên cả hai mặt hàng :
Nhật Bản mở rộng được thị trường xuất khẩu ô tô và hàng hóa chế tạo, sản phẩm ô tô của
Nhật ở thị trường Mỹ sẽ có giá cạnh tranh hơn.
Thay vào đó, khu vực nông nghiệp của Nhật sẽ chịu nhiều sức ép về giá vì lượng nhập
khẩu mặt hàng nông sản sẽ tăng và mức giá sẽ thấp, nông nghiệp trong nước khó phát
triển.
Tuy nhiên, ý định bảo hộ 5 mặt hàng nhạy cảm về mặt chính trị đó của Nhật Bản đã vấp
13
1.2.2. Các nước đang phát triển.
Đối với các nước đang phát triển, mục tiêu lớn nhất khi tham gia TPP là tăng
cường lợi thế xuất khẩu sang các nước TPP, thông qua việc các nước này miễn hoặc giảm
thuế cho hàng hóa. Tuy nhiên, điều này chỉ đạt được nếu hàng hóa của các nước đáp ứng
đầy đủ các yêu cầu rất cao và phức tạp về quy tắc xuất xứ, bắt buộc phải có nguyên liệu
hoặc giá trị chủ yếu từ các nước thành viên.
1.3. Nội dung một vài điều khoản của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương.
1.3.1. Thương mại hàng hóa (Trade in goods).
1.3.1.1. Các vấn đề được quan tâm.
Có thể nói, TPP đẩy mạnh tiến trình giảm thuế nhập khẩu xuống còn 0% cho hầu
hết các mặt hàng giữa các thành viên với lộ trình thực hiện là khá ngắn. Nhưng đây chính
là cái bẫy của các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển. Ta phân tích 2
chiều:
- Nước đang phát triển xuất khẩu sang nước phát triển
Dù thuế quan giảm, cơ hội cạnh tranh với hàng hóa nước bạn tăng cao nhưng chính đối
phương cũng đã đặt ra những rào cản phi thuế vô cùng khắt khe mà hầu hết các nước
đang phát triển đều vấp phải. Đó chính là các rào cản kỹ thuật (TBT), các tiêu chuẩn an
toàn vệ sinh (SPS) khiến cho lượng xuất khẩu giảm mạnh do các nước không thể đáp ứng
được yêu cầu này. Bên cạnh đó, do đa số các mặt hàng xuất khẩu của các nước đang phát
triển là các mặt hàng thâm dụng lao động với giá nhân công rẻ nên giá thành sản phẩm
cũng khá rẻ dẫn đến hàng loạt vụ kiện chống bán phá giá xảy ra từ đó dù không vướng
phải thuế quan thì các nước cũng mắc phài thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp xuất
khẩu.
- Nước đang phát triển nhập khẩu từ nước phát triển
Cơ hội duy nhất dành cho các nước đang phát triển là có thể tiếp cận nguồn nguyên liệu
rẻ do không bị đánh thuế. Mặt khác thách thức thì rất lớn, đó là sự đổ bộ của các ông trùm
đến từ các nước phát triển với trình độ kỹ thuật cao, gây thiệt hại đến ngành sản xuất nội
các nước để được nhận các ưu đãi. Ví dụ giữa Việt Nam và Nhật Bản, nếu giá trị RVC lớn
hơn hoặc bằng 40% thì được cho là có xuất xứ từ Việt Nam.
- Nguyên tắc cộng gộp:
Nguyên tắc cộng gộp xuất xứ nội vùng sẽ được áp dụng cho tất cả các loại hàng
hóa, kể cả những hàng hóa nhạy cảm mà các nước TPP có thể áp dụng thuế suất khác
nhau cho hàng hóa nhập khẩu đến từ các nước khác nhau. Nhưng trong vòng đàm phán 19
này Hoa Kỳ đã đồng ý sử dụng nguyên tắc cho mọi hàng hóa.
De minimis:
Hàm lượng không đáng kể (de minimis) của nguyên liệu không có xuất xứ có thể
được sử dụng trong hàng hóa mà vẫn đáp ứng tiêu chuẩn được ưu đãi thuế quan theo TPP.
15
Một nguồn tin cho biết, các nước TPP đồng ý rằng nên quy định một mức không đáng kể,
nhưng Hoa Kỳ không muốn quy định này được áp dụng cho các hàng hóa nhạy cảm.
- Chấp nhận xuất xứ:
Vấn đề vừa được thảo luận trong phiên họp về quy tắc xuất xứ (ở vòng đàm phám
19) là liệu TPP có nên chấp thuận cho các doanh nghiệp tự chứng nhận rằng họ đã đáp
ứng quy tắc xuất xứ để được cắt giảm thuế quan không, hay doanh nghiệp phải xin giấy
chứng nhận xuất xứ chính thức từ cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu.
- Các vấn đề về thủ tục:
Các doanh nghiệp cần nắm bắt thông tin về thủ tục xác nhận Xuất xứ hàng hóa.
Điều này sẽ giúp các doanh phòng tránh các tranh chấp, hay chủ động hơn khi có tranh
chấp xảy ra. Sau đây là một vài điểm cần lưu ý:
• Việc kê khai, giấy chứng nhận xuất xứ sẽ có hiệu lực trong vòng 2 năm kể từ ngày có văn
bản tương ứng đã được ban hành.
•
Yêu cầu các thành viên phải lưu trữ hồ sơ xuất nhập khẩu ít nhất là 3 năm.
độ thuế hay những sự chênh lệch khác có tác động tới việc so sánh giá.
- Thuế đối kháng:
Được hiểu là một khoản thuế đặc biệt áp dụng nhằm mục đích triệt tiêu mọi khoản
ưu đãi hay trợ cấp dành trực tiếp hay gián tiếp cho công đoạn chế biến, sản xuất hay xuất
khẩu bất cứ hàng hoá nào. Không một sản phẩm nào xuất xứ lãnh thổ của một bên ký kết
nhập khẩu vào lãnh thổ của một bên ký kết khác sẽ cùng lúc phải chịu cả thuế bán phá giá
và thuế đối kháng cho cùng một hoàn cảnh bán phá giá hay trợ cấp xuất khẩu.
1.3.3.2. Kết luận.
Tuy WTO có những quy định khá rõ ràng về điều kiện để các nước có thể áp dụng
các biện pháp phòng vệ thương mại, mức độ áp dụng và phương thức áp dụng vẫn còn
phụ thuộc khá lớn ở mỗi nước. Do vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn phải tìm hiểu rõ
về điều kiện riêng của từng quốc gia để tránh rơi vào tình trạng bị động và bị kiện. Bên
cạnh đó, Hiệp định TPP cũng có những bước phát triển khi đang cố gắng bổ sung các quy
định cụ thể hơn để khắc phục nhược điểm này, trước khi TPP được kí kết thì chúng ta vẫn
chưa biết được chính xác các quy định này là gì.
1.3.4. Các biện pháp kiểm dịch động thực vật.
1.3.4.1. Các vấn đề được quan tâm.
- Quyền quy định các tiêu chuẩn SPS của các nước thành viên
Các nước thành viên có toàn quyền quyết định biện pháp SPS riêng của mình miễn
là phù hợp với các điều khoản trong Hiệp định SPS và được khuyến khích xây dựng các
biện pháp SPS riêng của mình dựa trên những hướng dẫn, khuyến nghị và tiêu chuẩn
quốc tế hiện có.
- Công nhận tương đương
Hiệp định SPS yêu cầu các nước nhập khẩu là thành viên TPP chấp nhận các biện
pháp SPS của các nước xuất khẩu là thành viên TPP là tương đương, nếu nước xuất khẩu
chứng minh được một cách khách quan cho nước nhập khẩu thấy rằng những biện pháp
đó đảm bảo an toàn và đạt được mức độ bảo vệ phù hợp (ALOP) của nước nhập khẩu
- Hỗ trợ kỹ thuật
thuật và các thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn.
• Nguyên tắc 3: Hài hòa hóa. Hiệp định TBT khuyến khích các nước thành viên sử dụng
các tiêu chuẩn quốc tế trong xuất khẩu, các tiêu chuẩn quốc gia (toàn bộ hoặc một phần)
trừ khi việc sử dụng đó không phù hợp, làm mất tính hiệu quả trong thực hiện một mục
18
đích nào đó. Tiếp theo, TBT khuyến khích các nước thành viên tham gia vào các Tổ chức
tiêu chuẩn quốc tế như OIE, FAO, WHO, IPPC… Là những tổ chức đã thiết lập những bộ
tiêu chuẩn kỹ thuật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi hoạt động của các tổ chức này. TBT
còn đề cập đến vấn đề đối xử đặc biệt và khác biệt với các thành viên WTO là các nước
đang và chậm phát triển.
• Nguyên tắc 4: Bình đẳng. WTO khuyến khích các nước thành viên hợp tác để công nhận
các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn của nhau.
• Nguyên tắc 5: Công nhận lẫn nhau.Nhà xuất khẩu, nhà sản xuất sẽ chỉ phải tiến hành
kiểm tra, chứng nhận tiêu chuẩn kỹ thuật ở một nước; kết quả kiểm tra và chứng nhận tại
quốc gia đó sẽ được các nước khác công nhận.Trong thực tế, các nước thành viên WTO
đều công nhận kết quả của thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn của nước khác ngay cả khi thủ
tục đánh giá sự hợp chuẩn của các quốc gia không giống nhau.
• Nguyên tắc 6: Minh bạch.
- Ủy ban về TBT: chức năng tương tự Ủy ban SPS
Để tăng thêm sự đảm bảo tính minh bạch trong thực thi hiệp định TBT, WTO cũng
đã thành lập một cơ quan chuyên trách đó là Ủy Ban TBT. Ủy ban này sẽ cung cấp cho
các thành viên WTO các thông tin liên quan đến hoạt động của hiệp định và việc xúc tiến
thực hiện các mục đích của hiệp định.
- Tham vấn kỹ thuật
Một Bên có thể bắt đầu tư vấn kỹ thuật thông qua các điểm liên lạc tương ứng với
mục đích giải quyết bất kỳ vấn đề phát sinh theo Chương này.
1.3.5.2. Kết luận.
vào một chương cho hợp tác hay là hỗ trợ kỹ thuật.
- Đối với nhãn hiệu hàng hóa, Việt Nam được yêu cầu gia nhập Điều ước về Luật Nhãn
hiệu. Điều ước này đòi hỏi đơn giản hóa thủ tục, xác định quyền đối với nhãn hiệu. Về
mặt đối tượng, các nước yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, nhãn hiệu mùi. Việt Nam về
mặt hiện tại chưa thể đáp ứng được tất cả các yêu cầu của Điều ước.
- Đối với chỉ dẫn địa lý, các nước yêu cầu phải bảo hộ chỉ dẫn địa lý, tức là tên gọi của các
địa phương dùng để chỉ dẫn hàng hóa, những đặc sản của vùng miền. Ví dụ như cà phê
Buôn Mê Thuột hay nước mắm Phú Quốc. Họ muốn chúng phải được bảo hộ như nhãn
hiệu, thậm chí là nhãn hiệu cá thể. Như vậy thì có nguy cơ chỉ dẫn địa lý của cộng đồng
sẽ bị thuộc những người đăng ký trước. Ở đây, nếu như có ai đó đã đăng ký chỉ dẫn địa lý
dưới dạng nhãn hiệu thì người đó sẽ có quyền chống lại các chỉ dẫn địa lý khác. Quy định
20
về điện tử hóa, hay là minh bạch hóa quy trình xử lý đơn ở cơ quan đăng ký nhãn hiệu.
Điều này cũng rất thỏa đáng, mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên,
điều kiện của cơ quan đăng ký nhãn hiệu của Việt Nam chưa đáp ứng được những yêu cầu
đó.
- Đối với sáng chế, các nước yêu cầu Việt Nam tham gia hàng loạt các điều ước quốc tế về
thủ tục. Đặc biệt là đối với đối tượng bảo hộ, các nước bắt phải bảo hộ những phương
pháp sử dụng mới hoặc các công dụng mới của các sản phẩm đã biết, Việt Nam bị yêu cầu
phải bảo hộ các phương pháp phòng và chẩn đoán bệnh, hay bảo hộ thực vật, động vật,
các quá trình sản xuất thực vật, động vật bằng quy trình sinh học. Tất cả những đối tượng
này là những đối tượng được phép loại trừ khỏi phạm vi bảo hộ sáng chế mà WTO cho
phép. Họ đòi phải kéo dài thời gian bảo hộ, nếu như thủ tục đăng ký sáng chế, thủ tục
đăng ký thuốc, hay thủ tục đăng ký các sản phẩm hóa chất nông nghiệp bị chậm trễ. Họ
đề nghị rằng không cho phép các quốc gia có thủ tục phản đối việc cấp văn bằng bảo hộ
trước khi văn bằng bảo hộ được cấp, vì họ muốn tạo điều kiện cho văn bằng được cấp thật
nhanh. Riêng đối với dược phẩm và nông hóa phẩm, các FTA có những điều rất riêng,
đưa ra một định nghĩa về quy mô thương mại khiến cho bản chất của hành vi không còn
là quy mô thương mại nữa.
1.3.6.2. Kết luận.
Quyền sở hữu trí tuệ trong TPP tuy lấy cơ sở từ Hiệp định TRIPS trong WTO
nhưng có rất nhiều điều khoản trong chương này được đàm phán với mức độ chuyên sâu
hơn. Nhìn chung những vấn đề vẫn còn đang trên bàn đàm phán rất phức tạp và có ảnh
hưởng rất lớn đến Việt Nam. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải tìm hiểu
và trang bị cho mình những kiến thức cần thiết liên quan đến vấn đề này để tránh những
thiệt hại cũng như những kiện tụng không đáng có.
1.3.7. Mua sắm chính phủ.
1.3.7.1. Các vấn đề được quan tâm.
- Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương-TPP sẽ lấy GPA (Hiệp định mua sắm công
trong WTO) làm chuẩn mực chung bên cạnh việc Hoa Kỳ có thể sẽ đề nghị thêm những
tiêu chuẩn khác cao hơn. Trong đó, Hoa Kỳ chỉ tập trung vào các quy định về mua sắm
công ở cấp trung ương (central government) chứ không bao gồm cả các cấp địa phương
22
(sub-federal). Từ trước đến nay việc tham gia của các bang ở Hoa Kỳ vào bất kỳ một hiệp
định quốc tế nào về mua sắm công đều là tự nguyện. Tuy nhiên, sau khi tham gia vào
TPP, Canada, Australia và Singapore đưa ra một đề xuất mới yêu cầu mở rộng các quy
định đối với mua sắm công ra cả cấp địa phương (sub-federal). Tức là các gói thầu của
các cấp chính quyền địa phương nhưng do trung ương cấp vốn sẽ vẫn phải mở cửa cho
các nhà cung cấp nước ngoài cạnh tranh như bình thường. Australia cũng yêu cầu rằng
nếu Hoa Kỳ muốn áp dụng các nguyên tắc nhằm đảm bảo hoạt động của các điều trong
Chương này không gây bóp méo thương mại thì cũng phải áp dụng các nguyên tắc đối với
cạnh tranh trong xuất khẩu hàng nông sản, điều khó có thể chấp nhận bởi Chính phủ Hoa
Kỳ.
- Việt Nam đã hai lần bỏ qua chương Mua sắm chính phủ: một lần trên bàn đàm phán hiệp
AFL-CIO; Hội đồng các liên đoàn lao động Australia ACTU, Hội đồng các liên đoàn lao
động New Zealand CTU…). Do đó bản dự thảo này sẽ có trọng lượng nhất định trong
đàm phán.
- Về phía Việt Nam, sẽ phải đối mặt với các thử thách lớn trong việc đàm phán khi một số
quy định trong Dự thảo chương Lao động có liên quan đến vấn đề tự do lập hội, một trong
những vấn đề khá nhạy cảm khi ảnh hưởng đến chính trị; thử thách khác phải kể đến là
những quy định về Lao động trẻ em, khi các nước TPP đề nghị biện pháp ngăn chặn hàng
tại biên giới đối với những hàng hóa được sản xuất bởi lao động trẻ em, ngoài ra còn có
những vấn đề quan tâm khác như môi trường làm việc, lương tối thiểu, thời gian…
1.3.8.2. Kết luận.
Sự cách biệt trong những quy định về lao động trong Luật Việt Nam và các văn
bản Quốc tế là tiền đề cho việc ký kết TPP như Tuyên bố về các Quyền lao động cơ bản
ILO và Dự thảo Chương lao động, tạo nên các trở ngại rất lớn cho Việt Nam trong việc
đàm phán bởi vì nó đòi hỏi những thay đổi lớn trong hệ thống pháp luật và thực thi pháp
luật lao động Việt Nam, các vấn đề nhạy cảm khác về chính trị, vai trò của Đảng và Nhà
nước trong công tác quản lý. Bên cạnh những khó khăn mà Việt Nam sẽ gặp phải về vấn
đề lao động này thì bên cạnh đó nó vẫn đem lại cơ hội để Việt Nam cải thiện hệ thống
pháp luật, người lao động được đối xử công bằng và làm việc trong điều kiện tốt hơn với
mức lương đảm bảo hơn từ đó gia tăng mức sống của người dân. Những cải tiến để phù
24
hợp với những văn bản Quốc tế giúp Việt Nam từng bước được công nhận và hòa nhập
trong môi trường toàn cầu, từng bước tiến ra năm Châu.
1.4.
Tóm tắt chương.
Phần đầu tiên của Chương 1 giới thiệu vài nét về Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược
Loài: Penaeus vannamei
7 Vũ Thế Trụ (2000), “Cải tiến kỹ thuật nuôi tôm tại Việt Nam”, Nhà xuất bản Nông nghiệp.
25
Hình 2.: Tôm thẻ chân trắng
Phân bố: Châu Mỹ La Tinh, Hawaii, hiện nay được nuôi ở rất nhiều nước trên thế giới
như: Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam...
Cấu tạo và điều kiện sinh thái: cũng như các loài tôm cùng họ Penaeid, tôm chân
trắng cái ký thác hoặc rải trứng ra thay vì mang trứng tới khi trứng nở. Chủy tôm này có 2
răng cưa ở bụng và 8-9 răng cưa ở lưng. Tôm nhỏ lúc thay vỏ cần vài giờ để vỏ cứng
nhưng khi tôm đã lớn thì cần khoảng 1-2 ngày.
Tôm chân trắng không cần đồ ăn có lượng protein cao như tôm sú, 35% protein
được coi như là thích hợp hơn cả, đồ ăn có thêm mực tươi rất được tôm ưa chuộng.
Trong thiên nhiên, tôm trưởng thành, giao hợp, sinh đẻ trong những vùng biển có
độ sâu 70 mét với nhiệt độ 26-28 độ C, độ mặn khá cao (35 phần ngàn). Trứng nở ra ấu
trùng và vẫn loan quanh ở khu vực sâu này. Tới giai đoạn Potlarvae, chúng bơi vào gần
bờ và sinh sống ở đáy những vùng cửa sông cạn. Nơi đây điều kiện môi trường rất khác
biệt: đồ ăn nhiều hơn, độ mặn thấp hơn, nhiệt độ cao hơn ... Sau 1 vài tháng, tôm con
trưởng thành, chúng bơi ngược ra biển và tiếp diễn cuộc sống giao hợp, sinh sản làm chọn
chu kỳ.
Tôm chân trắng lớn rất nhanh trong giai đoạn đầu, mỗi tuần có thể tăng trưởng 3g
với mật độ 100con/m2 tại Hawai không kém gì tôm sú, sau khi đã đạt được 20g tôm bắt
đầu lớn chậm lại, khoảng 1g/tuần, tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực.
Nếu nuôi tôm mẹ thì nên tạo nhiệt độ nước ít thay đổi (27 độ C), nước cần phải lọc
bằng than nhằm mục đích loại bỏ tất cả những chất hữu cơ hòa tan trong nước. Tôm sinh