Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH TÓM TẮT NỘI DUNG Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã chính thức được thông qua từ ngày 05102015, là hiệp định thương mại của thế kỷ 21 với cá - Pdf 42

Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro

Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH

TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH TPP VÀ KHUYẾN NGHỊ CẤP
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGÀNH NGÂN HÀNG

Nội dung trọng tâm:
1. Tổng quan về Hiệp định TPP
2. Tác động của Hiệp định tới các yếu tố vĩ mô
của nền kinh tế và ngành Ngân hàng
3. Tác động của Hiệp định tới các ngành kinh
tế của Việt Nam và khuyến nghị cấp tín
dụng đối với ngành Ngân hàng

Lập Báo cáo:
Lê Thị Xuân / Chuyên viên
Phòng Nghiên cứu Chiến lược và Phân tích
Kinh tế
Email:
Vũ Nguyễn Tuấn Anh / Chuyên viên
Phòng Nghiên cứu Chiến lược và Phân tích
Kinh tế
Email:

Kiểm soát:
Nguyễn Ngọc Duẩn / Phó Trưởng phòng
Phòng Nghiên cứu Chiến lược và Phân tích
Kinh tế
Email:


gồm ngành Ngân hàng, Bất động sản, Xây
dựng, Tiêu dùng, Nông nghiệp & Thủy sản,
Dệt may & Da giày và Vận tải kho bãi), từ
đó đưa ra những khuyến nghị cấp tín dụng
đối với ngành Ngân hàng.


Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro

Chương
I - Tổng
quan
về TPP
Tác động của TPP và khuyến nghị cấp
tín dụng
đối với
ngành
NH

I. Tổng quan về Hiệp định đối
tác kinh tế xuyên Thái Bình
Dương (TPP)
1. TPP - Khái niệm
Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình
Dương (TPP - Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) là một hiệp
định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12
quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế
khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. 12
thành viên của TPP bao gồm: Úc, Brunei,
Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand,

3. TPP - Những chuẩn mực của thế kỷ 21
Tiếp cận thị trường toàn diện và công bằng

Ví dụ, các công ty, tập đoàn nước ngoài và
quốc tế sẽ có khả năng mang Chính phủ của
các quốc gia thành viên ra tòa án đặc biệt
của TPP khi các quốc gia này đặt ra các luật
lệ, chính sách đi ngược lại với chỉ tiêu của
TPP. Tòa án đặc biệt này có toàn quyền bắt
chính phủ đền bù không những cho các thiệt
hại đã xảy ra, mà còn những mất mát về cơ
hội trong tương lai của các tập đoàn, công ty
quốc tế.

TPP đưa ra chính sách miễn - giảm các hàng
rào thuế quan và phi thuế quan với hầu hết
các loại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, tạo ra
cơ hội và những lợi ích mới cho kinh doanh,
người lao động cũng như người tiêu dùng.
Theo đó, tại Phụ lục của Chương 2 Nguyên tắc đối xử quốc gia và việc tiếp cận
thị trường hàng hóa, các nước đã cam kết
xóa bỏ phần lớn dòng thuế ngay trong năm
đầu hiệu lực, một số có lộ trình dài từ 4 - 17
năm, dành cho Việt Nam.

Giải quyết những thách thức mới một cách
toàn diện

TPP bao gồm các yếu tố mới nhằm đảm bảo
các nền kinh tế ở tất cả các cấp độ phát triển


TPP tạo điều kiện cho sự phát triển sản xuất,
chuỗi cung ứng, nâng cao hiệu quả và hỗ trợ
mục tiêu của việc tạo ra và hỗ trợ việc làm,
nâng cao đời sống. Hiệp định cũng tăng
cường năng lực giám sát, tạo điều kiện hội
nhập qua biên giới cũng như mở cửa thị
trường trong nước.

Nguyên tắc minh bạch được đặt ra ở hầu hết
các chương đàm phán trong hiệp định TPP
và cũng đứng riêng thành 1 chương (Minh
bạch hóa và chống tham nhũng), giúp các
thành viên giám sát và đẩy nhanh tiến trình
hội nhập. Điển hình như trong vấn đề hải
quan

3


Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro

Chương
I -tín
Tổng
I I- -Tổng
quan
Tổng
quan
quan

Chương 12: Nhập cảnh tạm thời cho doanh
nhân
Chương 13: Viễn thông
Chương 14: Thương mại điện tử
Chương 16: Chính sách cạnh tranh

TPP được kỳ vọng tạo ra một nền tảng cho
hội nhập kinh tế khu vực và có thể cho phép
các nền kinh tế khác trong khu vực châu ÁThái Bình Dương tham gia. Cho đến nay,
Hàn Quốc, Colombia, Costa Rica, Indonesia, Đài Loan, Thái Lan, và nhiều nước khác
đang có ý định tham gia vào TPP.

Chương 17: Các doanh nghiệp nhà nước và
đơn vị độc quyền
Chương 18: Sở hữu trí tuệ
Chương 19: Lao động
Chương 20: Vệ sinh môi trường
Chương 21: Nâng cao năng lực và hợp tác

4. TPP - Các nội dung được đàm phán

Chương 22: Tạo thuận lợi trong kinh doanh
và năng lực cạnh tranh
Chương 23: Phát triển

Các chương về liên quan trực tiếp đến xuất
nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

Chương 24: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chương 25: Sự đồng nhất về quy định

Chương 3: Quy tắc xuất xứ và thủ tục về
xuất xứ
Chương 7: Biện pháp vệ sinh dịch tễ

4


Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro

Chương
I -tín
Tổng
I I- -Tổng
quan
Tổng
quan
quan
TPP
vềvềTPP
TPP
Tác động của TPP và khuyếnChương
nghịChương
cấp
dụng
đối về
với
ngành
NH

5. TPP - Quy mô

Úc

Mexico
Malaysia
Singapore

16,4%

62,1%

Chile
Peru
New Zealand
Vietnam

Brunei

Biểu đồ 1: Giá trị và tỷ trọng GDP theo giá hiện hành của 12 nước thành viên TPP (Nguồn: Worldbank)

cửa thị trường giữa Việt Nam và các nước
này là không đáng kể. Giá trị gia tăng cao
nhất Việt Nam có thể khai thác là từ 3 đối
tác còn lại gồm Hoa Kỳ, Canada và Mexico.

Theo Ngân hàng Thế giới, năm 2014, giá trị
GDP theo giá hiện hành của 12 nước thành
viên TPP ước đạt 28.031 tỷ USD, chiếm
36,3% GDP toàn cầu. GDP của các nước
tham gia không cân đối khi GDP của Hoa
Kỳ và Nhật Bản chiếm tỷ trọng tới 78,6%,

nhập WTO. Do đó, tác động của TPP về mở

2000
1000
0

Tỷ trọng thương mại của các quốc gia
0,9%
trong TPP
2,7%

4,2%

United States
Japan

5,3%

Canada
Singapore

7,3%

43,2%

Mexico
Australia

9,3%


đốicủa
với Việt
ngành
NH

Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro

II. Tác động của hiệp định
TPP đến các yếu tố vĩ mô
của Việt Nam
kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh
quốc gia, cải cách doanh nghiệp, đặc biệt là
khối doanh nghiệp nhà nước, minh bạch và
công khai mua sắm chính phủ, nâng cao các
tiêu chuẩn về môi trường, lao động,...

1. Tác động đến nền kinh tế Việt
Nam
Cơ hội
Cải cách thể chế, môi trường kinh doanh,
cơ cấu lại nền kinh tế

Tạo thêm việc làm cũng như cơ hội tiếp
cận với công nghệ hiện đại

Theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu
2015-2016 của Diễn đàn kinh tế thế giới
(WEF), Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia
có năng lực cạnh tranh thấp nhất trong TPP,
với các yếu tố đang còn ở mức thấp như

Chile

4,58

Úc

5,15

Malaysia

5,23

New …

5,25

Canada

5,31

Nhật Bản

5,47

Mỹ

5,61

Singapore


cấpyếu
tín tố
dụng
đốicủa
với Việt
ngành
NH

Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro

Cơ cấu thị trường nhập khẩu năm 2014

Cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2014

1,4%

4,3%
8,7%

19,1%

0,3%
0,2%
0,3%

4,6%

0,1%

0,2%

Chi lê
Peru

Nhật Bản
Niudilan
Singapore
Brunei
Malaysia
Xuất khẩu sang các nước

Nhật Bản
Niudilan
Singapore
Brunei
Malaysia
Nhập khẩu từ các nước

Biểu đồ 4: Cơ cấu thị trường xuất - nhập khẩu từ TPP và các nước khác (Nguồn: TCHQ)

Thúc đẩy và cơ cấu lại cán cân thương mại
quốc tế

Thái Lan. Năm 2014, quy mô nhập khẩu từ
các nước TPP đạt 34 tỷ USD, chiếm 23%
tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam.
Với trên 65% số dòng thuế được xoá bỏ
thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu
lực và gần 98% số dòng thuế sau 10 năm,
đây là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp cắt
giảm chi phí đầu vào.

dụng nguyên vật liệu nhập khẩu từ các nước
TPP với chi phí thấp giúp giảm chi phí sản
xuất, tăng khả năng cạnh tranh về giá của
hàng hoá Việt Nam khi tiếp cận thị trường
các nước đối tác, đặc biệt khi phải cạnh
tranh với hàng hoá của Trung Quốc, Ấn Độ,

7


Chương
II -của
TácTPP
độngvàcủa
TPP đến
vĩ mô
Nam
Tác động
khuyến
nghịcác
cấpyếu
tín tố
dụng
đốicủa
với Việt
ngành
NH

Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro



60%

0,0%

2%

70,7%

4%

1%
0%

0%
Hoa Kỳ

Nhậ t Bả n

Úc

Niudilan

Hoa Kỳ

Nhậ t Bả n

Úc

Niudilan


Các nước khác

Biểu đồ 5: Thu hút FDI từ khối TPP và các nước khác vào Việt Nam (Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài)

6,4 tỷ USD, chiếm tỷ trọng gần 30%. Lũy kế
các dự án còn hiệu lực đến năm 2014, tổng
vốn đầu tư đăng ký vào Việt Nam đạt 252 tỷ
USD, trong đó, từ các nước TPP đạt 100 tỷ
USD, chiếm 40%.

Đẩy mạnh đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam
Do FDI đóng vai trò trụ cột trong nền kinh
tế, những năm gần đây Việt Nam đã có
nhiều nỗ lực để cải thiện môi trường đầu tư,
kinh doanh, trong đó nổi bật là Luật đầu tư
năm 2014 nhằm đơn giản hoá thủ tục đầu tư
và tạo môi trường bình đẳng hơn cho các
thành phần kinh tế. Với tác động từ TPP,
dòng vốn đầu tư dự báo tiếp tục tăng mạnh
vào Việt Nam như đã xảy ra trong giai đoạn
đầu khi mới gia nhập WTO. Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Mỹ - các quốc gia thuộc
TPP - đều là các nhà đầu tư hàng đầu hiện
nay tại Việt Nam và các doanh nghiệp thuộc
các nước này sẽ tiếp tục đầu tư vốn vào Việt
Nam để tận dụng lợi thế nhân công rẻ, chi
phí thấp.

Đối với nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FII),

đẩy tốc độ di chuyển lao động từ nông thôn
8


Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro

Chương
II -của
TácTPP
độngvàcủa
TPP đến
vĩ mô
Nam
Tác động
khuyến
nghịcác
cấpyếu
tín tố
dụng
đốicủa
với Việt
ngành
NH

tới thành phố và các khu công nghiệp. Sức
ép về việc làm ở các khu đô thị sẽ tăng lên
gây mất cân bằng giữa cung và cầu lao động
dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp có nguy cơ tăng
cao.


tỷ trọng lớn và nhận được nhiều ưu đãi tại
Việt Nam trong khi hoạt động không thực
sự hiệu quả. Các tiêu chuẩn cao của TPP
buộc khu vực này phải đẩy mạnh cải cách,
tuy nhiên quá trình tái cơ cấu đang diễn ra
khá chậm.

Đối với Chính phủ
Dự báo dòng vốn đầu tư nước ngoài sẽ chảy
vào Việt Nam với quy mô lớn khi TPP có
hiệu lực, nếu Chính phủ không có các giải
pháp điều tiết hợp lý sẽ tiềm ẩn rủi ro mất
cân đối vĩ mô (Trong giai đoạn 2006-2011
mức tăng lạm phát thường xuyên ở mức trên
2 con số do sự bùng phát dòng vốn đầu tư
nước ngoài sau khi Việt Nam gia nhập
WTO vượt quá năng lực hấp thụ của nền
kinh tế, cùng với điều hành kinh tế vĩ mô
không được điều chỉnh phù hợp để xử lý các
bất ổn).

Việc cắt giảm thuế quan dẫn đến gia tăng
hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào Việt
Nam với giá cả cạnh tranh, gây áp lực lớn
tới hàng hoá trong nước, nhất là nhóm hàng
được sản xuất bởi đối tượng dễ bị tổn
thương khi hội nhập như nông nghiệp, dẫn
tới thị trường hàng hoá, dịch vụ nội địa bị
các doanh nghiệp nước ngoài thâm nhập và
chiếm lĩnh.

tín tố
dụng
đốicủa
với Việt
ngành
NH

trạng nợ xấu của ngành ngân hàng do phần
lớn tài sản đảm bảo của các khoản vay hiện
nay đều là bất động sản.

khẩu giảm sẽ ảnh hưởng tới việc cân đối
ngân sách của Chính phủ trong những năm
tới. Bên cạnh đó, theo quy định của TPP,
Chính phủ Việt Nam có nguy cơ bị kiện ra
Cơ quan giải quyết tranh chấp của TPP nếu
có những chính sách ưu đãi với các doanh
nghiệp trong nước hoặc đưa ra các luật định
đi ngược với những cam kết tại các chương
trong Hiệp định.

Nâng cao năng lực cạnh tranh
Gia nhập TPP làm áp lực cạnh tranh trong
lĩnh vực ngân hàng gia tăng, đây là động lực
để các ngân hàng trong nước có sự chuyển
mình mạnh mẽ. Thúc đẩy các ngân hàng
tích cực cạnh tranh để tồn tại và phát triển
không chỉ ở trong nước mà còn mở rộng
hoạt động sang các nước TPP.


Hiệp định TPP có nhiều cam kết về hạn chế
vai trò của khu vực doanh nghiệp Nhà nước.
Như vậy đối với lĩnh vực ngân hàng, sẽ
không có sự phân biệt đối xử giữa các ngân
hàng thuộc sở hữu của Nhà nước với các
ngân hàng nội khác và các ngân hàng nước
ngoài. Nếu Chính phủ có những hành động
phân biệt đối xử thì những ngân hàng này có
quyền kiện Chính phủ Việt Nam ra các tòa
trọng tài quốc tế.

2. Tác động tới ngành ngân hàng
Cơ hội
Thúc đẩy hoạt động của các ngân hàng
Tham gia TPP thúc đẩy nền kinh tế phát
triển, tạo điều kiện để ngành thương mại,
dịch vụ Việt Nam tăng trưởng mạnh mở ra
cơ hội cho các ngân hàng tài trợ vốn cho các
doanh nghiệp. Các dòng vốn đầu tư quốc tế
vào Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh trong
những năm tới, hỗ trợ quá trình tái cơ cấu
cho hệ thống ngân hàng Việt Nam. Nếu
dòng vốn này chảy vào lĩnh vực bất động
sản là điều kiện thuận lợi để cải thiện tình

Thách thức
Gia tăng rủi ro khi hội nhập
Hội nhập quốc tế có thể làm gia tăng rủi ro
và tính nhạy cảm của thị trường tài chính
10

đốicủa
với
ngành
NH

trong nước đối với các biến động trên thị
trường thế giới. Trong bối cảnh năng lực
quản trị điều hành, quản lý rủi ro của ngân
hàng trong nước còn yếu, việc mở cửa thị
trường tài chính khiến các ngân hàng đối
mặt với nhiều rủi ro từ sự lan truyền của các
cú sốc, khủng hoảng tài chính khu vực và
thế giới.

không chỉ đến từ sản phẩm dịch vụ của các
ngân hàng ngoại. Lĩnh vực tín dụng, vốn là
thế mạnh của các ngân hàng Việt Nam, tuy
nhiên các ngân hàng nội hiện nay rất thiếu
nguồn vốn trung dài hạn. Với TPP, các định
chế tài chính nước ngoài với nguồn vốn
trung dài hạn dồi dào và chi phí thấp có
nhiều thuận lợi để chiếm lĩnh thị trường.

III. Tác động của Hiệp định
đến các ngành kinh tế của
Việt Nam

Việc gia nhập TPP giúp dòng vốn từ thị
trường nước ngoài chảy mạnh vào Việt
Nam, tuy nhiên nếu tiếp diễn tình trạng

hạt điều.

Cạnh tranh khốc liệt hơn với các ĐCTC
nước ngoài khi không cần lập chi nhánh
TPP cho phép các định chế tài chính nước
ngoài (thuộc các nước thành viên TPP) cung
cấp dịch vụ tài chính ngân hàng cho các
khách hàng tại Việt Nam mà không cần phải
thành lập chi nhánh tại Việt Nam. Như vậy,
một trong những lợi thế so sánh quan trọng
của ngân hàng nội so với các ngân hàng
ngoại là hệ thống mạng lưới rộng khắp có
thể không còn phát huy nhiều tác dụng,
trong khi các yếu tố về trình độ quản lý điều
hành, cung ứng sản phẩm dịch vụ hiện đại
vẫn đang là điểm yếu của các ngân hàng
Việt Nam.

Đây là những mặt hàng Việt Nam có thế
mạnh và dự báo cũng sẽ là những mặt hàng
đầu tiên các nước này tham gia xây dựng
nhà máy, dịch vụ gia tăng để trực tiếp cung
cấp sang thị trường nước này. Hơn nữa, các
nước ngoài hiệp định TPP như Trung Quốc,
Thái Lan, Campuchia, Indonesia, Ấn Độ…
cũng sẽ ưu tiên đầu tư tại Việt Nam nhằm
đáp ứng quy tắc xuất xứ để hưởng lợi ích
mà hiệp định TPP mang lại.

Áp lực cạnh tranh của các ngân hàng nội

Dương (dệt may, giày dép, túi xách, ví), Bà
Rịa-Vũng Tàu (dầu thô), Đồng bằng sông
Cửu Long (hàng thủy sản).

án đầu tư mới và 8 lượt dự án tăng vốn, tổng
vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là
2,13 tỷ USD, chiếm 11,1% tổng vốn đầu tư.
Tổng vốn cấp mới và tăng thêm 10 tháng
2015 tăng 75,4% so với cùng kỳ năm 2014,
sau khi tăng mạnh 150% trong năm 2014.
Tỷ USD
25

Ở phân khúc nhà ở, so với các quốc gia phát
triển trong khu vực, giá nhà tại Việt Nam
vẫn được đánh giá là thấp nếu so với GDP
và mặt bằng thu nhập của các nước đó.
Chính vì vậy, cùng với việc luật cho phép
người nước ngoài mua nhà từ 1/7/2015, một
sự tăng tốc về nhu cầu nhà ở, bao gồm cả
mua để đầu tư, đầu cơ được dự báo chỉ là
vấn đề thời gian. Như vậy, việc các chuyên
gia nước ngoài tăng cường sang Việt Nam
sẽ ảnh hưởng tích cực tới phân khúc nhà ở,
nghỉ dưỡng, văn phòng.

Thách thức

Về phân khúc văn phòng, thương mại bán
lẻ, với cam kết mở cửa thị trường hoàn toàn

100%
10

0%

5

-100%

0

-200%

Tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm vào ngành BĐS
Tăng trưởng

Biểu đồ 6: Thu hút FDI vào ngành BĐS

Hầu hết các phân khúc BĐS đều có triển
vọng tích cực sau khi TPP có hiệu lực, dù
vậy, các Ngân hàng vẫn nên ưu tiên tín dụng
vào BĐS công nghiệp gồm kho bãi, nhà
xưởng và nhà ở, nhà cho thuê gần khu công
nghiệp. Đây là các phân khúc dự kiến sẽ đón
nhận lượng vốn FDI lớn, nhu cầu đầu tư cao
hơn hẳn các phân khúc khác do gắn trực tiếp
với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa
xuất nhập khẩu và dịch vụ.

Khi TPP có hiệu lực, hàng loạt rào cản trước

Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro

2. Ngành Xây dựng, Vật liệu xây dựng Tăng trưởng FDI vào ngành Xây dựng dự
báo sẽ ổn định hơn nhờ nhu cầu xây dựng
tăng mạnh trong thời gian tới

Cơ hội
Ngành xây dựng cũng sẽ là ngành hưởng
lợi nhờ đầu ra là thị trường BĐS phục hồi
tích cực cũng như nhu cầu lớn hơn từ giao
dịch thương mại

Từ năm 2010 đến nay, tăng trưởng FDI vào
ngành xây dựng trải qua chu kỳ cứ một năm
tăng lại một năm giảm với biên độ dao động
rất lớn. Năm 2014, thu hút FDI đạt 1 tỷ
USD, tăng 375,5% so với năm 2013, sau khi
giảm 84,6% vào năm 2013. Sang 10 tháng
đầu năm 2015, giá trị FDI của ngành xây
dựng đạt 682 triệu USD, lại giảm 33,9% so
với cùng kỳ năm 2014. Dù vậy, tốc độ giảm
đã chậm lại, cho thấy, trong những tháng
cuối năm 2015, thu hút FDI vào ngành vẫn
có cơ hội tăng trưởng dương nhờ tác động
tích cực từ TPP.

Những dự báo khả quan từ thị trường bất
động sản sẽ tạo đà cho 2 phân khúc là xây
dựng công trình nhà ở và nhà không để ở
phát triển vững chắc. Trong khi đó, hoạt

1000

100%

800
0%

600

400

-100%

200
0

-200%

Năm
2010

Năm
2011

Năm
2012

Giá trị FDI

Năm


400.000

6%

300.000

Cụ thể, theo biểu thuế cam kết chung cho tất
cả các nước TPP, Việt Nam đã xóa bỏ hoàn
toàn thuế nhập khẩu các sản phẩm làm bằng
đá, thạch cao, amiăng, mica hoặc các vật
liệu tương tự (hiện đang có thuế suất 020%); đất đá, thạch cao, vôi, xi măng (034%). Các sản phẩm như gạch xây dựng
(thuế nhập khẩu 35%), ngói lợp (35-45%),
(gạch lát (40-45%), thiết bị nhà vệ sinh, nhà

4%

200.000
2%

100.000
-

0%
Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014


Tác
động của
khuyến
nghịđịnh
cấp tín
dụng
ngành
NH

3. Ngành Tiêu dùng

bếp (0-40%) sẽ có lộ trình cắt giảm trong 4
năm, sắt thép có lộ trình 4-11 năm tùy loại.

Cơ hội

Thách thức

Cơ hội sẽ đến với người tiêu dùng và các
nhà cung cấp dịch vụ tiêu dùng khi thuế
nhập khẩu nhiều mặt hàng tiêu dùng được
xóa bỏ, thúc đẩy cầu tiêu dùng

Khả năng cạnh tranh kém, dễ mất các hợp
đồng đấu thầu, đặc biệt là các hợp đồng
BOT và hợp đồng chuyển nhượng các công
trình công cộng. Bởi theo chương 15 – Mua
sắm công, hàng hóa, dịch vụ được mua sắm
bởi Chính phủ sẽ được đầu thầu công khai,
minh bạch theo nguyên tắc đối xử quốc gia

KHUYẾN NGHỊ
Trong ngắn hạn, các Ngân hàng nên ưu tiên
cấp tín dụng vào loại xây dựng công trình
nhà ở và không để ở do tương thích với đầu
ra tích cực là BĐS công nghiệp và BĐS nhà
ở. Trong dài hạn, phân khúc công trình dân
dụng (đường xá, cầu cảng) nên được cân
nhắc.

năm, do đó, tác động ngay là không có. Do
đó, trong ngắn và trung hạn, ngân hàng
vẫn nên tập trung các sản phẩm cho vay
tiêu dùng đối với ô tô nội địa.
Ở mảng sản phẩm điện tử tiêu dùng gồm:
máy tính, điện thoại di động, thiết bị nghe
nhìn, thuế nhập khẩu cũng giảm ngay về 0%
từ mức 0-12% hiện tại. Đặc biệt, giá trị nhập
khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh
kiện từ khối TPP chiếm 33,6% tổng kim
ngạch nhập khẩu sản phẩm này trong năm
2014, trong khi thấp hơn ở hàng điện gia
dụng (tỷ trọng 13,1%), điện thoại di động và

Ngành Vật liệu xây dựng, ngược lại sẽ phải
cạnh tranh với hàng ngoại nhập vốn có ưu
thế hơn về mẫu mã, chủng loại, chất lượng.
Cộng với nhu cầu hàng cao cấp của người
dân cải thiện, kết quả kinh doanh của các
nhà nhập khẩu, thương mại vật liệu xây
dựng ngoại nhập sẽ tích cực hơn. Đây cũng

4. Ngành Nông nghiệp và Thủy sản

Triệu USD
20000
18000

Cơ hội

16000
14000

Hiệp định sẽ thúc đẩy đầu tư của các nước
thành viên vào Việt Nam, đặc biệt là các
lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao

12000
10000
8000
6000
4000
2000

TPP sẽ tạo cơ hội hình thành các chuỗi khép
kín với công nghệ tiên tiến, tạo khả năng
cho Việt Nam tham gia tốt hơn vào chuỗi
giá trị khu vực và toàn cầu. Đặc biệt, đến
nay, thu hút FDI vào ngành nông nghiệp dù
đạt giá trị thấp nhưng tốc độ tăng trưởng
hàng năm lại rất cao, trái ngược với hầu hết
các ngành thu hút vốn lớn như BĐS, Xây

nhanh nhất trong mảng sản phẩm điện tử
tiêu dùng. Đây cũng là sản phẩm mà ngân
hàng nên tập trung đẩy mạnh.
Thu nhập cải thiện cũng sẽ tác động tích
cực tới cầu tiêu dùng
Điều này thể hiện khá rõ khi GDP ước tính
tăng mạnh trong thời gian tới. Cụ thể, các
chuyên gia của Ngân hàng Thế giới ước tính
đến năm 2030 TPP sẽ giúp GDP của Việt
Nam tăng khoảng 8%. Trong khi đó, hãng
nghiên cứu Eurasia Group tuyên bố rằng
đến năm 2025 GDP của Việt Nam sẽ tăng
thêm 11%, tương đương 36 tỷ USD, so với
khi không có hiệp định thương mại này.

Triệu USD
350

350%
300%

300

250%
250

200%

200


lượng, mẫu mã cũng như cắt giảm chi phí,
doanh nghiệp sản xuất có thể đối mặt với
việc thu hẹp sản xuất, thậm chí là đóng cửa.

Năm
2011

Năm
2012

Năm
2013

Năm 10T2015
2014

Giá trị FDI vào ngành nông nghiệp

Tăng trưởng

Biểu đồ 10: Thu hút FDI vào ngành Nông nghiệp

Thủy sản là một trong những ngành xuất
khẩu thế mạnh của Việt Nam được hưởng
lợi khi TPP có hiệu lực nhờ mở rộng hoạt
động xuất khẩu, dù vậy, mức độ gia tăng là
không đáng kể
Về mặt xuất khẩu, năm 2014, Việt Nam xuất
khẩu thủy sản sang các nước TPP trị giá 3,7
15

nhập khẩu 0% trước đó, một số ít dòng thuế
như cá bơn chịu thuế 1,1 cents/kg, sẹ và bọc
trứng cá là 15%…. Tuy nhiên đối với loại
thủy sản đang chịu thuế nhập khẩu, Mỹ lại
áp dụng lộ trình giảm thuế từ 3-10 năm tùy
loại.

Cơ hội sẽ đến nhiều hơn với các doanh
nghiệp nhập khẩu và thương mại hàng
thủy sản nhập khẩu

Do đó, tác động ngay về mặt thuế quan của
TPP tại thị trường Mỹ gần như là không
đáng kể. Trong khi đó, rào cản lớn nhất là
biện pháp kĩ thuật (thuế chống bán phá giá)
và vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn đang hiện
hữu. Tại thị trường Canada, thuế nhập khẩu
thủy sản hiện đang ở mức 0-5%, sẽ được
xóa bỏ hoàn toàn ngay trong năm đầu, tạo
cơ hội cho các doanh nghiệp thủy sản Việt
Nam đẩy mạnh xuất khẩu. Tại thị trường
Mexico, thủy sản là một trong những ngành
được bảo hộ cao khi hầu hết thuế nhập khẩu
đều ở mức 10-20%. Khi TPP có hiệu lực,
một nửa sẽ giảm ngay về 0%, nửa còn lại
vẫn chịu lộ trình 3-15 năm, trong đó có tôm
và phi lê các loại cá. Như vậy, cơ hội tăng
xuất khẩu thủy sản vào Mexico là có nhưng
cần khá nhiều thời gian.


Nhật Bản

4,4%

Úc
Niudilan
9,4%

Mehico
51,7%

Singapore
Canada

47,4%
52,6%

Brunei

6,8%

Từ TPP

Chi lê

Từ các nước

0,8%
1,6%


NH

Tại thị trường Hoa Kỳ, cà phê đang chịu
thuế 0-1,5 cents/kg, chè là 0-6,4%, hạt tiêu 0
-5 cents/kg, sắn 7,9-11,3%, gạo 0,83-2,1
cents/kg, hạt điều 0%, Mỹ cam kết xóa bỏ
hoàn toàn thuế quan ngay trong năm đầu
TPP hiệu lực. Tại thị trường Malaysia, tất cả
sản phẩm này (trừ chè đen chịu thuế 5%)
đều đang có thuế nhập khẩu 0%, do đó
không có tác động nào từ TPP tới xuất khẩu
sang Malaysia (trừ thuế nhập khẩu gạo đang
là 15-40% sẽ có lộ trình giảm thuế trong 11
năm). Tại thị trường Nhật Bản, cà phê đang
chịu thuế 0-12% sẽ được xóa bỏ hoàn toàn
ngay năm đầu; chè đang chịu thuế từ 0-17%
sẽ có lộ trình giảm thuế trong 6 năm; hạt
tiêu đang chịu thuế 0-3%, sắn đang chịu
thuế 0-15% sẽ giảm về 0% trong năm đầu;
gạo được nhập khẩu từ khu vực thương mại
sẽ vẫn chịu thuế tối huệ quốc (MFN) là 341
Yen/kg. Như vậy, xuất khẩu sản phẩm trồng
trọt sang Mỹ thời gian tới có khả năng tăng
mạnh nhất nhờ mức thuế suất 0%, tiếp đến
là Nhật Bản, Malaysia.

người sản xuất/nhà xuất khẩu phần lớn bị
thiệt hại do không cạnh tranh được với các
mặt hàng từ nước ngoài tràn vào như thịt bò
từ Úc, thịt gà, thịt lợn từ Mỹ.

đối với cả 3 lĩnh vực thủy sản, trồng trọt và
chăn nuôi.

Chăn nuôi được đánh giá là lĩnh vực chịu
tác động tiêu cực lớn nhất bởi sức cạnh
tranh thấp
Nguyên nhân là do ngành chăn nuôi Việt
Nam có hình thức sản xuất nhỏ lẻ, lệ thuộc
vào việc nhập khẩu giống và thức ăn từ
nước ngoài, tình trạng bệnh tật còn phổ
biến, khả năng và ý thức đảm bảo vệ sinh an
toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường nhiều
yếu kém. Đây là hiện tượng điển hình trong
khắp các phân ngành như chăn nuôi lợn, gà,
đại gia súc, sữa và các sản phẩm sữa…. Xét
tổng thể ngành chăn nuôi, người tiêu dùng/
nhà nhập khẩu sẽ có cơ hội tiếp cận với các
sản phẩm giá rẻ hơn và được lợi, trong khi

Đàm phán về vấn đề lao động (Chương 19)
cũng gây khó khăn không nhỏ cho nông
thôn nói chung và nông nghiệp nói riêng.
Cụ thể là trong dự thảo chương lao động,
nếu điều khoản về việc chặn và buộc trả lại
toàn bộ hàng xuất khẩu được làm từ lao
17


Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro


Cơ hội
Giá trị xuất khẩu dệt may, da giày của Việt
Nam sẽ tăng mạnh nhờ giảm thuế khi xuất
khẩu vào các nước thành viên TPP
Đến hết năm 2014, xuất khẩu dệt may vào
khối TPP đạt 13,5 tỷ USD, chiếm 57,6%
tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may, xuất
khẩu da giày đạt 4,6 tỷ USD, chiếm 44,7%.

KHUYẾN NGHỊ
Đối với phân ngành thủy sản, Hiệp định
TPP mang lại cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu,
tuy nhiên mức độ tác động là hạn chế do lộ
trình giảm thuế khá dài, từ 3-15 năm tùy thị
trường. Trong bối cảnh ngành thủy sản gặp
khó khăn với xuất khẩu, nuôi trồng, giá bán
đều giảm, các Ngân hàng chỉ giữ mức độ
duy trì cấp tín dụng vào ngành này.

Trong khối TPP, xuất khẩu sang Hoa Kỳ
chiếm tỷ trọng 42% với hàng dệt may và
32,2% với da giày. Xuất khẩu sang Nhật
Bản chiếm lần lượt 11,4% và 5%. Các nước
còn lại chiếm 4,3% và 7,5%, tương ứng với
dệt may và da giày.
Sau khi TPP có hiệu lực, thị trường Hoa Kỳ
giảm thuế về 0% với phần lớn quần áo và
hàng dệt may đã hoàn thiện trong khi áp
dụng lộ trình nhiều hơn với nguyên phụ liệu
dệt may, so với mức thuế trung bình 17,5%

ngân hàng nên cân nhắc cấp tín dụng đối với
các doanh nghiệp trong những ngành này.
Đối với ngành chăn nuôi, những thiệt hại do
tác động của TPP là rất lớn. Cần xem xét
duy trì cấp tín dụng trong ngắn hạn nhưng
cẩn trọng với dự án đầu tư trung dài hạn.
18


Chương
III -TPP
Tácvà
động
của hiệp
TPP
đếnđối
cácvới
ngành
kinh
tế
Tác
động của
khuyến
nghịđịnh
cấp tín
dụng
ngành
NH

Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro


Brunei

Chi lê

Ma la ysia

Peru

Cá c nước khá c

Hoa Kỳ
Mexico
Chi lê

Nhậ t Bả n
Singa pore
Ma la ysia

Úc
Ca na da
Peru

Niudila n
Brunei
Cá c nước khá c

Biểu đồ 13: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của dệt may, da giày

Chi phí đầu vào cũng sẽ giảm do xóa bỏ

ứng được trên dưới 20% các nguyên phụ
liệu sản xuất, còn lại còn khoảng 80% phụ
thuộc vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài.

Nhận thấy tiềm năng to lớn từ việc Việt
Nam gia nhập TPP, nhiều doanh nghiệp FDI
cũng như doanh nghiệp nội địa đã xây dựng
mới, mở rộng nhà máy cũ để nâng sản lượng
nguyên phụ liệu nội địa. Nhờ đó, trong 10
tháng đầu năm 2015, tỷ lệ giá trị gia tăng
của ngành (Xuất khẩu - Nhập khẩu cho xuất
khẩu) đạt 51,5%. Dự kiến ngành sẽ đạt mục
tiêu về giá trị gia tăng là 60% vào năm 2016
và 70% vào năm 2020.

Đặc biệt, ngành dệt may nước ta lại đang
phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nhập
khẩu từ Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước
ASEAN - những nước không tham gia TPP.
Cụ thể, năm 2014, kim ngạch nhập khẩu
bông, sợi, vải, nguyên phụ liệu dệt may, da
giày đạt 17,1 tỷ USD, thì nhập từ khối TPP
chỉ đạt 1,9 tỷ USD, chiếm 11,3%. Do đó,

Thị trường lao động trong ngành dệt may
cũng sẽ tích cực hơn
Khi thuế suất bằng 0%, hàng hóa xuất khẩu
sang các nước TPP sẽ tăng lên nhiều, lực
19


4,8%

88,7%

Hoa Kỳ

Nhật Bản

Úc

Niudilan

Mexico

Singapore

Canada

Brunei

Chi lê

Malaysia

Peru

Các nước khác

Biểu đồ 14: Cơ cấu thị trường nhập khẩu
nguyên phụ liệu dệt may, da giày

đầu tư và công nghệ được cho là các yếu tố
kìm hãm việc tăng năng lực sản suất cũng
như xuất khẩu của doanh nghiệp Việt trong
khuôn khổ TPP. Môi trường cũng là vấn đề
nhức nhối đối với những ngành sản xuất gây
ô nhiễm có liên quan đến dệt may (ngành
nhuộm). Ngoài ra, nhiều khả năng các nước
nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam đưa ra
các hàng rào kỹ thuật và thương mại phi
thuế quan… để bảo hộ ngành công nghiệp
dệt may nội địa, qua đó, làm giảm kim
ngạch xuất khẩu dệt may.
Phía Chính phủ cần thực hiện tốt hơn nữa
vai trò hỗ trợ ngành dệt may phát triển các
tỷ lệ về nội địa hóa, giá trị gia tăng
Nhiều địa phương từ chối các dự án dệt
nhuộm do lo sợ ô nhiễm môi trường. Do đó,
Chính phủ cần bổ sung quy hoạch các khu
công nghiệp chuyên biệt để tạo điều kiện
cho việc sản xuất nguyên phụ liệu phát triển.
Ngoài ra, Chính phủ cũng cần đưa ra các
quy định để định hướng doanh nghiệp sản
xuất theo hướng tăng tỷ trọng giá trị gia tăng
hơn là phụ thuộc vào nhân công giá rẻ, phát
triển mảng gia công như hiện nay.

KHUYẾN NGHỊ
Các Ngân hàng nên đẩy mạnh dư nợ đối với
ngành dệt may, cụ thể ưu tiên các đối tượng
sau: doanh nghiệp đang có thị trường tiêu

ngành
NH

bên thứ hai trong khi xu hướng thời gian tới
là thuê các dịch vụ trọn gói bên thứ ba, thứ
tư – vốn nằm trong tay các doanh nghiệp
FDI.

6. Ngành Logistics
Cơ hội
Nhu cầu đối với các dịch vụ logistics sẽ
tăng lên nhờ gia tăng hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hóa

Thu hút FDI vào lĩnh vực Vận tải kho bãi ở
mức thấp trong 5 năm qua và cũng trải qua
giai đoạn tăng trưởng một năm tăng một
năm giảm như các ngành Bất động sản, Xây
dựng. Trong 10 tháng đầu năm 2015, ngành
đã thu hút 71,3 triệu USD, giảm 53,5% so
với cùng kỳ năm 2014, đặc biệt, tốc độ giảm
đã chậm lại so với mức giảm của các năm
trước. Đây cũng là tín hiệu tích cực cho
dòng vốn vào ngành này trong thời gian tới.

Theo Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính
sách Việt Nam (VEPR), kim ngạch xuất
khẩu sẽ tăng tới 37% vào năm 2025, thúc
đẩy các nhu cầu về vận tải hàng hóa, bốc
xếp, kho bãi…

300%

1000

200%

800

100%

600

Thách thức

400

0%

200

-100%

0

-200%

Tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm
Tăng trưởng FDI vào Vận tải kho bãi

Doanh nghiệp logistics trong nước sẽ phải

vốn ít và thiếu cơ sở vật chất như kho bãi,
công nghệ thông tin, phương tiện vận
chuyển…; do đó chỉ cung cấp được dịch vụ
21


Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro

Tác động của TPP và khuyến nghị cấp tín dụng đối với ngành NH

Báo cáo này được thực hiện bởi Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro – Ngân hàng
TMCP Bưu Điện Liên Việt. Các thông tin nêu trong báo cáo được thu thập từ các
nguồn thông tin đáng tin cậy với mức cẩn trọng tối đa có thể để thể hiện quan điểm
của Khối Chiến lược và Quản lý rủi ro. Báo cáo này thuộc bản quyền của Ngân
hàng TMCP Bưu điện Liên Việt. Nghiêm cấm mọi hành động sao chép một phần
hoặc toàn bộ nội dung báo cáo và/hoặc xuất bản mà không được sự cho phép bằng
văn bản của Ngân hàng Bưu điện Liên Việt.

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status