Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*****
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là : Nguyễn Thị Thanh Mai
Lớp : Kế hoạch 48A
Khoa : Kế hoạch & Phát triển
Trường : Đại học Kinh tế quốc dân
Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “ Giải pháp phát triển ngành
công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010” là một công trình nghiên cứu, nỗ lực cuả
bản thân tôi trong suốt thời gian thực tập cùng với sự, hướng dẫn, chỉ bảo của thầy
giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn và các cán bộ tại Vụ kinh tế Công nghiệp – Bộ Kế
hoạch đầu tư.
Những thông tin và số liệu trong bài là hoàn toàn trung thực và rõ ràng.
Hà Nội, ngày … tháng … năm
Sinh viên
Nguyễn Thị Thanh Mai Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện được được bài chuyên đề thực tập tốt nghiệp này, tôi xin chân
thành cảm ơn thầy giáo – PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn đã tận tình hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài, đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các chuyên
viên làm việc tại Vụ Kinh tế Công nghiệp – Bộ Kế hoạch và Đầu tư nơi tôi thực tập
đã tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt thời gian qua, đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khoá luận này. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng… năm…
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thanh Mai
Nguyễn Thị Thanh Mai Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sách ưu đãi để khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào sản
xuất ô tô và phụ tùng. Nhưng sau gần 20 năm xây dựng và phát triển ngành, công
nghiệp ô tô Việt Nam dường như vẫn chưa đi được bao xa so với điểm xuất phát.
Thực tế này đã khiến Chính phủ cùng với các cơ quan Bộ ngành liên quan, các doanh
nghiệp trong ngành cùng vào cuộc nhằm xem xét lại một cách chi tiết và khách quan
những thành quả đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại, để từ đó có cơ sở
vạch ra một chiến lược cụ thể cho việc phát triển ngành. Bởi lúc này đây chúng ta
phải ý thức được tính cấp thiết và bức bách cần phải xây dựng và phát triển một
ngành công nghiệp ô tô thực sự của riêng Việt Nam. Chính vì thế, tôi đã mạnh dạn
chọn đề tài "Giải pháp phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm
2020" với hi vọng góp phần cùng tìm hiểu thực trạng phát triển của ngành công
nghiệp ô tô Việt Nam đồng thời nghiên cứu con đường đi tới tương lai của ngành
công nghiệp này.
Mục đích nghiên cứu của đề tài: tìm hiểu thực trạng của ngành công ngiệp ô tô
Việt Nam và quá trình hình thành và phát triển, phân tích những khó khăn tồn tại
cũng như những cơ hội và thách thức đối với việc xây dựng và phát triển ngành trong
thời gian tới nhằm giúp cho bản thân, những người trong và ngoài ngành hiểu sâu sắc
hơn về tầm quan trọng của ngành công nghiệp này, từ đó mỗi người có cái nhìn đúng
đắn hơn về hiện tại và cả tương lai của ngành nhằm khuyến khích sự đóng góp của
mỗi cá nhân, tổ chức cho sự phát triển của ngành công nghiệp cực kỳ quan trọng này
trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hoá nước nhà.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các
vấn đề liên quan đến ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam trong thời gian qua như
quá trình hình thành và phát triển, thực trạng cũng như định hướng phát triển ngành
trong thời gian tới của Chính phủ. Qua việc đi sâu vào nghiên cứu thực trạng xây
dựng và phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đồng thời phân tích những khó
Nguyễn Thị Thanh Mai Lớp: Kế hoạch 48A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khăn và tồn tại cũng như cơ hội và thách thức của ngành từ đó mạnh dạn đưa ra các
1. Khái niệm chung về ngành công nghiệp ô tô
1.1. Khái quát chung về ngành công nghiệp
- Khái niệm công nghiệp theo nghĩa là một ngành kinh tế: Một nghĩa rất phổ
thông của công nghiệp là “ hoạt động kinh tế qui mô lớn, sản phẩm ( có thể là phi vật
thể) tạo ra trở thành hàng hóa”. Theo định nghĩa này, những hoạt động kinh tế
chuyên sâu khi đạt được một qui mô nhất định sẽ trở thành một ngành công nghiệp,
ngành kinh tế như: công nghiệp phần mềm máy tính, công nghiệp điện ảnh, công
nghiệp giải trí, công nghiệp thời trang,công nghiệp ô tô, công nghiệp báo chí…
1.2. Khái niệm ngành công nghiệp ô tô
- Xe hơi hay ô tô là loại phương tiện giao thông chạy bằng bánh có chở theo
động cơ của chính nó. Tên gọi ô-tô được nhập từ tiếng Pháp (automobile), tên
tiếng Pháp xuất phát từ từ auto (tiếng Hy Lạp, nghĩa là tự thân) và từ mobilis
(tiếng La Tinh, nghĩa là vận động). Từ automobile ban đầu chỉ những loại xe tự di
chuyển được gồm 'xe không ngựa' và 'xe có động cơ'. Còn từ ô tô trong tiếng Việt
chỉ dùng để chỉ các loại có 4 bánh. Các kiểu khác nhau của xe hơi gồm các loại
xe, xe buýt, xe tải. Tới năm 2005 có khoảng 600 triệu xe hơi trên khăp thế giới
(0,074 trên đầu người).
Khi lần đầu tiên ra mắt, xe hơi được hoanh nghênh như một (phương tiện) cải
tiến về môi trường so với ngựa. Trước khi nó ra mắt, ở Thành phố New York, hơn
10.000 tấn phân hàng ngày được dọn khỏi các đường phố. Tuy nhiên, năm 2006, các
xe hơi là một trong những nguồn gây ô nhiễm không khí và tiếng ồn cũng như ảnh
hưởng tới sức khoẻ trên khắp thế giới.
- Công nghiệp xe hơi là ngành sản xuất, chế tạo, lắp ráp để tạo ra sản phẩm là
xe hơi hoàn chỉnh. Ngành công nghiệp xe hơi bao gồm cả: công nghiệp phụ trợ: sản
xuất linh phụ kiện, chi tiết máy…phục vụ cho ô tô; nghiên cứu cải tiến,chế tạo, phát
minh ra kiểu dáng các loại xe mới; lắp ráp xe hơi; các dịch vụ chăm sóc;…công
nghiệp xe hơi bị thống trị bởi một số lượng khá nhỏ các nhà sản xuất, những nhà sản
Nguyễn Thị Thanh Mai Lớp: Kế hoạch 48A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
-Hardtop Cơ bản giống Sedan, nhưng không có khung cửa sổ, và cộ trụ cửa.
-Convertible Đây là một kiểu Sedan hoặc Coupe, nhưng nó có khả năng thu gọn
Nguyễn Thị Thanh Mai Lớp: Kế hoạch 48A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mui lại thành một chiếc mui trần.
-Pickup Đây là một loại xe tải nhỏ, có khoang máy kéo dài về phía trước ghế
người lái.
-Van and wagon Kiểu xe này là sự kết hợp khoang hành khách và khoang
hành ký, nó chứa được nhiều người và hành lý. Khoang hành khách thông với khoang
hành lý.
2.2. Phân loại theo ô tô sử dụng nhiên liệu động cơ
- Xe có động cơ sử dụng nhiên liệu xăng: Đây là loại xe có động cơ sử dụng
nhiên liệu xăng, vì động cơ xăng là một sản phẩm có công suất lớn mà lại gọn nhẹ,
lên được sử dụng rộng rãi trên các loại xe chở người.
- Xe có động cơ sử dụng nhiên liệu Diesel: Đây là loại xe có động cơ sử dụng
nhiên liệu dầu Diesel, động cơ Diesel là loại động cơ có Mômen xoắn lớn, mà vận
hành lại kinh tế (dầu rẻ hơn xăng) vì vậy nó được sử dụng chủ yếu trên các xe tải và
thể thao đa dụng.
- Xe có động cơ lai (Hybrid): là loại xe được trang bị động cơ khác với các xe
thông thường, có động cơ xăng và Mô tơ điện. Vì động cơ xăng phát ra điện và nạp
vào Ắc quy lớn, nên kiểu xe này không cần trang bị thêm một bình ắc quy tiêu chuẩn.
Môtơ bánh xe chạy với dòng điện 270V, còn dòng điện khác vẫn là 12V, khi xe chạy
ở vận tốc thấp thì động cơ điện được kích hoạt, và khi ở vận tốc lớn thì động cơ xăng
sẽ vận hành cho xe chạy đồng thời cho ông em động cơ điện ăn. Trên một số xe được
trang bị bộ phận hấp thụ năng lượng từ bánh xe vào một máy phát điện, nạp vào ắc
quy khi ta sử dụng phanh. Nhờ có sử phối hợp nhịp nhàng giữa hai loại động cơ nên
nó đã giảm đáng kể lượng khí thải ra môi trường và vận hành cũng rất kinh tế.
- Xe có động cơ sử dụng năng lượng điện.
Đây là xe chỉ sử dụng đơn thuần một loại động cơ điện, điện được dự trữ trong
ngành công nghiệp ô tô thế giới, năm đầu tiên của thế kỷ 20-năm 1901, trên toàn thế
giới đã có 621 nhà máy sản xuất ô tô xe máy, trong đó 112 ở Vương quốc Anh, 11 ở
Italy, 35 ở Đức, 167 ở Pháp, 215 ở Mỹ và 11 nước khác. Tuy nhiên, mốc thời gian
đánh dấu sự ra đời chính thức của ngành công nghiệp ô tô phải kể đến năm 1910 khi
ông Henry Ford-Người sáng lập ra tập đoàn Ford Motor nổi tiếng, bắt đầu tổ chức
sản xuất ô tô hàng loạt trên qui mô lớn. Vào những năm 1930 của thế kỷ 20, trước
chiến tranh thế giới thứ 2, ô tô đã có được những tính năng kỹ thuật cơ bản. Cùng với
những thành tựu khoa học kỹ thuật thời đó, công nghiệp ô tô thế giới đã thực sự trở
thành một ngành sản xuất đầy sức mạnh với 3 trung tâm sản xuất chính Bắc Mỹ, Tây
Âu (từ trước chiến tranh thế giới thứ I) và Nhật Bản (trước chiến tranh thế giới thứ
Nguyễn Thị Thanh Mai Lớp: Kế hoạch 48A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
II). Hầu hết các hãng sản xuất có tên tuổi trên thế giới như Ford, General Motor,
Toyota, Mercedes-Benz... đều ra đời trước hoặc trong thời kỳ này. Sau chiến tranh
thế giới thứ II, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại bùng nổ, ô tô và công
nghiệp ô tô cũng có những bước tiến vượt bậc. Những thành tựu khoa học kỹ thuật
được áp dụng như vật liệu mới, kỹ thuật điện tử, điều khiển học,.... đã làm thay đổi
cơ bản, bản thân ô tô và công nghiệp ô tô cả về mặt kỹ thuật, khoa học công nghệ
cũng như về quy mô kinh tế xã hội.
3.1.2.Các giai đoạn phát triển ngành công nghiệp ô tô thế giới
Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của ô tô và ngành sản xuất ô tô thế giới,
có thể thấy rằng thế kỷ 20 là thế kỷ của ô tô. Quá trình phát triển của ngành công
nghiệp ô tô trên thế giới có thể chia làm 3 giai đoạn:
Trước năm 1945: Nền công nghiệp ô tô của thế giới chủ yếu tập trung tại Mỹ,
sản lượng công nghiệp ô tô ở Tây Âu và Nhật Bản rất thấp.
Giai đoạn 1945-1960: Sản lượng công nghiệp ô tô của Nhật Bản và Tây Âu
tăng mạnh song còn nhỏ bé so với Mỹ.
Giai đoạn từ 1960 trở lại đây: Nền công nghiệp sản xuất ô tô xe máy Nhật đã
vươn lên mạnh mẽ và đã chiếm vị trí thứ nhất trong ngành công nghiệp to lớn này.
giá trị thương mại trong các ngành công nghiệp chế tạo. Thêm vào đó, do đặc điểm
của ngành là không ngừng vận dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Vì thế, ngoài
các khoản chi phí ban đầu bao gồm chi phí xây mới nhà xưởng, mua sắm trang thiết
bị kỹ thuật, đào tạo công nhân lành nghề,…và các khoản chi thường xuyên như mua
nguyên vật liệu, bảo dưỡng nhà xưởng, máy móc, bảo quản hàng hoá,…thì chi phí
cho công tác nghiên cứu và triển khai (R&D) trong lĩnh vực ô tô cũng chiếm một
phần đáng kể trong tổng vốn đầu tư ban đầu và tăng thêm. Chính vì thế khi một hãng
trong ngành đầu tư dây chuyền công nghệ mới sẽ phải tính toán rất kỹ lưỡng chứ
không thể đầu tư ồ ạt như các ngành khác.
Ở Việt Nam: Trong kế hoạch 5 năm 2001-2005, tổng vốn đầu tư phát triển là
830.000-850.000 tỷ đồng (khoảng 59-61 tỷ USD) và tăng hàng năm từ 11-12%.
Ngành công nghiệp nhận được khoảng 44% trong số này. Và đầu tư cho ngành công
nghiệp ô tô giai đoạn 2001-2010 chiếm khoảng 2% tổng đầu tư phát triển, hay 44%
đầu tư phát triển cho ngành công nghiệp.Theo bản qui hoạch ngành công nghiệp ô tô
Việt Nam giai đoạn 2001-2010 thì tổng nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện được bản
qui hoạch này khoảng 16.000-18.000 tỷ đồng (khoảng 1-1,1 tỷ USD) và 35.000-
40.000 tỷ đồng (khoảng 2,2-2,5 tỷ USD) trong giai đoạn 2010-2020.
3.2.2. Ngành công nghiệp ô tô có sản phẩm mang giá trị rất cao
Đặc điểm nổi bật của ngành đó là sản phẩm mang giá trị rất cao. Chiếc xe ôtô từ
Nguyễn Thị Thanh Mai Lớp: Kế hoạch 48A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
rất lâu đã không còn được coi chỉ là phương tiện đi lại đơn thuần mà các nhà chế tạo
đã không ngừng trang bị cho nó vô số tiện ích khác, khiến cho ô tô giờ đây như một
mái nhà di động, một biểu tượng của sự giàu có, thịnh vượng. Một chiếc xe ôtô có
giá trị từ chục nghìn đôla cho đến hàng trăm nghìn đôla, thậm chí có cái lên tới
700.000 đến 800.000 USD. Thêm một sự khác biệt nữa so với các sản phẩm chế tạo
khác, một chiếc ô tô được hình thành từ rất nhiều chi tiết gần 30 000 chi tiết đòi hỏi
sự tinh vi trong chế tạo. Chính nhờ đặc điểm này mà ngành công nghiệp ô tô trở
thành khách hàng của rất nhiều các ngành khác.
cho việc sản xuất các thành phần chính. Ngành này rất đa dạng từ gia công cơ khí,
chế tạo khuôn đúc, rèn, đúc, nhiệt luyện, xử lý bề mặt, sản xuất những linh kiện, phụ
liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm cho tới cả những sản
phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế.
3.2.4. Ngành công nghiệp ô tô cần mạng lưới tiêu thụ chuyên nghiệp và rộng
khắp
Do đặc tính của sản phẩm mang giá trị cao, cần thiết phải được hưởng các dịch
vụ chăm sóc sau bán hàng khá thường xuyên như bảo dưỡng, sửa chữa. Chính vì thế,
từ khi ra đời ngành công nghiệp ô tô đã chọn cách tiêu thụ sản phẩm của mình thông
qua các đại lý mà không bán hàng trực tiếp. Chẳng hạn như, Ford có hơn 15.000 đại
lý trên khắp thế giới. Và tất cả mọi giao dịch với khách hàng đều thông qua đại lý.
II. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH
Ô TÔ Ở VIỆT NAM
1. Nhân tố thị trường
Muốn phát triển được ngành công nghiệp ô tô thì yếu tố đầu tiên và tiên quyết
đó là thị trường. Thị trường có lớn, có tiềm năng thì mới hứu hẹn cơ hội cho ngành
công nghiệp ô tô. Ở Việt Nam theo tính toán thì thị trường ôtô rất tiềm năng với mức
tiêu thụ có thể đạt 1 triệu xe/năm. Nhưng thị trường vẫn chỉ ở dạng tiềm năng và
không biết đến bao giờ mới thành hiện thực bởi vì chúng ta đang đánh thuế tiêu thụ
đặc biệt với ôtô rất cao nhằm hạn chế tiêu dùng làm cho thị trường tăng trưởng chậm,
còn chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ (trong đó có ôtô) mới
được Bộ Công thương ban hành vào tháng 8/2007.
2. Nhân tố con người
Lực lượng lao động (LLLĐ) cả nước tại thời điểm 1/7/2008 là 48,3 triệu người.
Cơ cấu lao động: lao động nam chiếm 50,7% LLLĐ, lao động nữ chiếm 49,3%
LLLĐ. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của LLLĐ của nước ta đang dần được nâng
lên song vẫn có tới 75% LLLĐ không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong số lao
động có chuyên môn, phần lớn vẫn là công nhân kỹ thuật, dạy nghề ngắn hạn, dạy
nghề dài hạn và trung học chuyên nghiệp (chiếm các tỷ lệ tương ứng là 7,3%, 4,4%,
1,6%, và 5,0% năm 2008). Tỷ trọng LLLĐ có trình độ từ cao đẳng và đại học trở lên
mà nền kinh tế thế giới vừa trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, chúng
ta không thể tránh khỏi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đó, song chúng ta đang dần
dần hồi phục nền kinh tế. Với môi trường kinh doanh hấp dẫn chúng ta vẫn cạnh
tranh được với các nước khác trong khu vực; tiềm năng phát triển trung và dài hạn
của nền kinh tế nước ta vẫn tốt, thu phục được lòng tin của các nhà đầu tư nước
ngoài. Vốn FDI vào Việt Nam tăng lên đáng kể, năm 2008 chúng ta có vốn đầu tư
nước ngoài đăng ký là: 64 tỷ USD (gấp hơn 3 lần so với năm 2007), cùng với nững
Nguyễn Thị Thanh Mai Lớp: Kế hoạch 48A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính sách ưu đãi từ chính phủ, với sự ưu ái của ngân sách nhà nước, chúng ta hoàn
toàn tin tưởng vào tương lai tươi sáng cho ngành ô tô khi mà vấn đề quan trọng là
vốn đã được giải quyết.
4. Nhân tố khoa học công nghệ
Muốn có nền công nghiệp ô tô Việt Nam trưởng thành thì ngành này phải chế
tạo được chiếc xe ô tô made in Vietnam chính hiệu khi có ít nhất 51% linh kiện chế
tạo tại Việt Nam. Muốn vậy, về cấu trúc, ngành ô tô bắt buộc phải tạo ra một hệ
thống công nghiệp phụ trợ (chế tạo linh phụ kiện) ô tô đủ lớn về qui mô và có tính
đồng bộ cao. Các doanh nghiệp Nhà nước lớn do được Nhà nước cấp vốn nên đang
đầu tư vào những dây chuyền sản xuất linh kiện khá tiên tiến từ các nước trong khu
vực. Tuy nhiên, khó khăn đặt ra là khu vực cung cấp nguyên vật liệu như thép, hóa
chất trong nước còn yếu kém nên chất lượng sản phẩm chưa thực sự đáp ứng được
yêu cầu của các liên doanh. Mô hình sản xuất của các doanh nghiệp này vẫn duy trì
theo kiểu tích hợp sản xuất từ trước.
Một số ít các doanh nghiệp FDI có cơ sở sản xuất linh kiện (dập vỏ xe) với trình
độ công nghệ tiên tiến (Toyota, Ford), nhưng các cơ sở này nhập khẩu nguyên vật
liệu từ nước ngoài, không sử dụng nguyên vật liệu sản xuất trong nước. Các doanh
nghiệp còn lại không đầu tư máy móc, thiết bị sản xuất linh phụ kiện tại Việt Nam
mà chủ yếu nhập khẩu từ các Công ty mẹ hoặc các đối tác nước ngoài khác trong khu
vực. Có thể nói nhân tố góp phần quyết định sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô
khác, sự thành công của công nghiệp ôtô trong nước cũng sẽ giúp tận dụng được thị
trường còn tiềm năng lớn với dân số trong khoảng 10 năm tới đạt trên 100 triệu và có
giá trị hàng chục tỷ USD. Ở các nước công nghiệp tiên tiến, công nghiệp ôtô là nguồn
động lực phát triển cho các ngành công nghiệp khác. Một xe ôtô du lịch hiện đại có
từ 20.000 – 30.000 chi tiết và tính trên toàn thế giới thì ngành công nghiệp ôtô tiêu
thụ 77% cao su thiên nhiên, 50% cao su tổng hợp, 67% chì, 40% máy công cụ, 25%
Nguyễn Thị Thanh Mai Lớp: Kế hoạch 48A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thủy tinh, 64% gang rèn, 20% các vật liệu bán dẫn (các linh kiện điện tử trong ôtô
con đã chiếm giá trị tới 1.000 USD, cao hơn cả giá trị của thép trong ôtô). Hàng năm
ở Nhật có 4,5 - 5,0 triệu xe ôtô bị thải loại không sử dụng được, trong đó 75% phế
liệu có thể tái chế được. Đây chính là một trong những lý do cơ bản để những năm
1990 Chính phủ cấp phép cho hàng loạt liên doanh ôtô với sự tham gia của các tổng
công ty công nghiệp hàng đầu trong nước. Theo đó Chính phủ kỳ vọng Việt Nam sẽ
có một ngành công nghiệp ôtô phát triển mà một phần quan trọng nhờ quá trình
chuyển giao công nghệ từ các tập đoàn ôtô thế giới, nhờ sự học hỏi của các tổng công
ty.
2. Xuất phát từ yêu cầu của quá trình hội nhập và quốc tế hóa đời sông hiện nay
- Việt Nam, đất nước của hơn 85 triệu dân với mức tăng trưởng cao về kinh tế
thì một viễn cảnh tươi sang của ngành công nghiệp ô tô là có thể. Phát triển ngành
công nghiệp này sẽ cho phép đất nước tiết kiệm được những khoản ngoại tệ đáng kể
dành cho nhập khẩu, cũng như phát huy được một số thế mạnh nổi trội hiện nay như
chi phí cạnh tranh của nguồn nhân lực. Đặc biệt, sẽ có những tác động trực tiếp mang
tính tích cực lên một số ngành công nghiệp và dịch vụ mà Việt Nam đang rất cần như
hóa dầu, thép, phân phối… Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống
ngày một nâng cao, thì nhu cầu đi lại của con người càng tăng. Lúc ấy, ô tô trở thành
sự lựa chọn hàng đầu, bởi khả năng cho trả và hệ thống cơ sở hại tầng đã không còn
là vấn đề khó giải quyết nữa.
Điều quan trọng nữa khi sản xuất đáp ứng được nhu cầu trong nước, thậm chí là
quan trọng và cần thiết nhất là tìm hiểu quá trình phát triển công nghiệp ô tô của các
nước trên thế giới để rút ra kinh nghiệm và xây dựng cho ngành công nghiệp ô tô
Việt Nam con đường phát triển tối ưu. Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét ngành công
nghiệp ô tô của một số nước trên thế giới và trong khu vực.
1. Trung Quốc
Kết thúc năm 2009, Trung Quốc đã chính thức trở thành thị trường ô tô lớn nhất
thế giới, sau khi lần đầu tiên vượt Mỹ về tổng mức tiêu thụ năm. Trung Quốc đã trở
thành là điểm sáng của thị trường ô tô thế giới. Tiêu thụ xe hơi tại Trung Quốc năm
vừa qua đã tăng gần 50%. Theo số liệu của Hiệp hội Các nhà sản xuất ôtô Trung
Quốc, riêng lượng xe nội địa được tiêu thụ tại quốc gia đông dân nhất thế giới trong
vòng một năm qua đã đạt 13,6 triệu chiếc. Trong khi đó, con số này tại Mỹ là 10,4
triệu xe (giảm 20% so với năm 2008 và là mức thấp nhất kể từ năm 1982). Thị
trường xe hơi tại Trung Quốc bắt đầu nổi lên từ năm 1999 và thường xuyên đạt tốc
độ tăng trưởng khoảng 9% mỗi năm. Theo số liệu của hãng kiểm toán Booz & Co,
bất chấp chính sách thuế thắt chặt và tình hình kinh tế khó khăn, doanh số bán xe tại
Trung Quốc vẫn tăng và qua mặt thị trường Mỹ trong năm 2009. Trung Quốc đã và
đang trở thành sân khấu trung tâm của ngành công nghiệp ôtô thế giới trong thế kỷ
này. Thị trường Trung Quốc đang tăng trưởng với tốc độ chóng mặt và sẽ góp phần
quan trọng khiến thị trường thế giới hồi phục. Đầu năm 2009, nhằm kích thích kinh
Nguyễn Thị Thanh Mai Lớp: Kế hoạch 48A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tế nội địa và tận dụng cơ hội từ cuộc suy thoái kinh tế thế giới, Trung Quốc đã tiến
hành giảm một nửa thuế trước bạ đánh vào xe mới (xuống còn 5%). Đồng thời,
Chính phủ nước này cũng triển khai một chương trình hỗ trợ trị giá 5 tỷ Nhân dân tệ
(732 triệu USD) dành cho người dân có nhu cầu đổi từ xe cũ sang xe mới. Các biện
pháp này đã được gỡ bỏ vào đầu tháng 12 khi Trung Quốc áp thuế 7,5% trở lại với
dòng xe có động cơ dưới 1,6 lít. Tuy nhiên, lượng xe được sở hữu tại Trung Quốc đã
vượt xa con số 51 triệu xe (gấp 51 lần so với năm 1977) và khiến những tên tuổi lớn
của ngành công nghiệp ôtô thế giới thèm muốn. Với doanh số 46 triệu xe trong năm
mình tại thị trường ô tô đang tăng trưởng chóng mặt này. Theo thời gian, ngành công
nghiệp ôtô Trung Quốc sẽ trở nên phổ biến và gần với thực tế công nghiệp ôtô của
Mỹ và Nhật Bản hiện tại. Ví dụ như Nhật Bản, ba đến năm hãng lớn nhất, xuất khẩu
nhiều ôtô nhất sẽ tồn tại trên cơ sở hợp nhất với nhau và phấn đấu sản lượng 5 – 7
triệu chiếc mỗi năm. Trung Quốc cũng đi theo cách này và sẽ tiếp tục mua lại các
thương hiệu ôtô lớn. Với nguồn vốn dồi dào, lực lượng lao động lớn ngành công
nghiệp ôtô Trung Quốc tiếp tục hướng đến thị trường ôtô Mỹ. Lịch sử đã chứng kiến
người Đức mang kiểu xe VW đến Mỹ năm 1950, người Nhật giới thiệu ôtô của
Toyota, Honda và Datsun những năm 1970. giờ đây Tata có thể trưng bày xe Nano
tại Mỹ kể từ khi Hyundai mang ôtô đến bán ở Mỹ những năm 1990. Như thế Trung
Quốc có thể tiếp cận thị trường Mỹ từ phân khúc xe hơi chạy điện và theo cách đó,
Ấn Độ và Trung Quốc sẽ tác động tới cách người tiêu dùng thế giới sử dụng xe hơi
bốn bánh.
2. Ấn Độ
Ấn Độ hiện đang trở thành một thế lực ô tô toàn cầu: Nước này đang là quốc
gia có ngành công nghiệp ôtô lớn 10 thế giới; là nhà sản xuất xe 2 bánh lớn thứ 2 thế
giới; đứng thứ 11 trên thế giới trong phân khúc xe du lịch và thứ 13 trong phân khúc
xe thương mại; mang tham vọng trở thành trung tâm sản xuất ôtô hàng đầu thế giới
vào năm 2016 với việc đặt ra “Kế hoạch hành động về ô tô-APM”, đặt ra nhiệm vụ
tăng trưởng doanh số lên 32 triệu xe vào giai đoạn 2015-2016, với tổng đầu tư 35-40
tỷ USD. Xuất khẩu ô tô của Ấn Độ trong năm 2009 đạt khoảng 350.000 xe, tăng 30%
so với năm 2008. Khi sản lượng ô tô tăng lên, nền kinh tế Ấn Độ nói chung cũng sẽ
tăng. Về quy mô, Ấn Độ vẫn là thị trường ô tô khá nhỏ, với mức tiêu thụ chỉ đạt
khoảng 1,8 triệu xe/năm, so với con số 6 triệu xe của Trung Quốc. Nhưng nền kinh tế
của đất nước đông dân thứ hai thế giới này đang tăng trưởng với tốc độ khoảng
7%/năm nên hứa hẹn tiêu thụ ô tô sẽ tăng cao trong tương lai. Hiện mật độ ô tô ở Ấn
Độ mới chỉ dừng ở con số 11 xe/1.000 người (theo báo cáo của công ty kiểm toán và
tư vấn Deloitte), khá thấp so với con số 511 xe ở Anh và 22 xe ở Trung Quốc. Hiện
tại, ngành ô tô chiếm chưa đến 1% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Ấn Độ, so với
tỷ lệ 3,5% ở Trung Quốc và 4,5% của thế giới. Tuy nhiên, theo dự báo của các nhà
đầu tiên sản xuất tại Ấn Độ của họ là Polo, sẽ được sản xuất tại Chakan, cách
Mumbai khoảng 175km. Ấn Độ cũng sẽ là thị trường trọng tâm cho mẫu xe cỡ nhỏ
toàn cầu mới của Honda, dự kiến mang tên 2CV, bắt đầu có mặt trên thị trường vào
cuối năm 2011. Tập đoàn GM đã bắt đầu sản xuất mẫu Chevrolet Spark ở Ấn Độ từ
năm 2008, và tung ra một mẫu xe cỡ nhỏ khác, Chevrolet Beat, vào năm 2009. Trong
khi đó, CEO Alan Mulally của Ford đã giới thiệu một mẫu hatchback 4 cửa sản xuất
tại Ấn Độ, Ford Figo, tại New Delhi vào tháng 9/2009. Mẫu Micra hatchback của
Nissan sẽ ra mắt thị trường Ấn Độ vào tháng 5/2010 tới. Và Renault, có liên doanh
với nhà sản xuất ô tô Bajaj của Ấn Độ, sẽ cạnh tranh với Tata Nano bằng một mẫu xe
Nguyễn Thị Thanh Mai Lớp: Kế hoạch 48A
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
giá rẻ dành cho giao thông đô thị, dự kiến sử dụng một số linh kiện, phụ tùng xe máy
để cắt giảm chi phí. Chính phủ Ấn Độ đã và đang khuyến khích các doanh nghiệp
sản xuất ô tô tại Ấn Độ để tránh thuế suất nhập khẩu lên tới 120% và giảm thiểu chi
phí sản xuất. Volkswagen dự kiến tăng tỷ lệ nội địa hóa của ô tô lắp ráp tại Ấn Độ từ
mức 50% hiện nay lên 80% trong 2 năm . Tuy nhiên, đã có một số ý kiến lo ngại về
tác động đến môi trường khi hàng triệu người có ô tô sẽ gia nhập hệ thống giao thông
vốn đã rất đông đúc của Ấn Độ. Nhưng theo các chuyên gia, thì thế hệ mới của các
xe sẽ đáp ứng được các tiêu chuẩn khí thải mới nhất của châu Âu, và cơ sở hạ tầng
giao thông của Ấn Độ cũng đang được nâng cấp nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu
tiêu thụ ô tô của thị trường. Lựa chọn dòng xe chiến lược cũng như phân khúc thị
trường tiềm năng là hướng đi đúng đắn đối với Ấn Độ, cùng với những chính sách
hợp lý và sang suốt của Chính phủ, thì trước mắt, có vẻ như không gì ngăn cản được
Ấn Độ trở thành trung tâm mới của ngành công nghiệp ô tô thế giới và Ấn Độ sẽ
nhanh chóng ghi tên mình vào vị trí cao trong bảng xếp hạng của ngành công nghiệp
này.
3. Khu vực ASEAN
Malaysia
Sản xuất ô tô được coi là ngành chủ chốt cho sự nghiệp phát triển công nghiệp
tải, ôtô buýt, xe máy và cấu kiện phụ tùng xe ước đạt 379,48-410,89 tỷ baht (khoảng
11-12 tỷ USD), giảm chừng 20% so với năm 2008 và phân nửa số đó là xuất khẩu sẽ
củng cố vững chắc vị trí quốc gia xuất khẩu ô tô lớn thứ 3 châu Á, sau Nhật Bản và
Hàn Quốc. 2/3 số xe Thái Lan sản xuất là bán tải, lượng xe này được xuất khẩu đến
Đông Nam Á, Úc, Nam Phi, Nam Mỹ và châu Âu. Thái Lan không làm theo cách mà
Malaysia hay Việt Nam đã áp dụng. Cho đến giờ, Thái Lan vẫn chưa có riêng cho
mình một mác xe nội địa. Nhưng, họ đã xây dựng được tới 700 nhà sản xuất linh kiện
xe hơi và 1.000 nhà sản xuất phụ trợ, khiến nước này trở thành một “cơ sở” cung cấp
linh kiện có uy tín đối với hầu hết với các hãng xe lớn trên thế giới. Sự thành công
của công nghiệp ô tô Thái Lan trong hơn một thập kỷ qua phần nhiều là nhờ các loại
xe bán tải, nhờ đó mà Thái Lan trở thành quốc gia xuất khẩu xe bán tải lớn nhất thế
giới và là nơi sản xuất nhiều nhất ngoài Mỹ. Hiện tại, chính phủ Thái Lan đã đồng ý
sẽ không thay đổi cơ cấu thuế ưu đãi cho các loại xe bán tải, thuế cho xe bán tải chỉ
3% trong khi xe du lịch lên tới 30%.
Nhưng nhìn nhận ở góc độ môi trường, Thái Lan là một minh chứng cho thấy
sự khó khăn cho các quốc gia có ngành CN ô tô chuyển hướng sang sản xuất xe nhỏ -
loại có khí xả ít hydrocarbon, giảm thiểu nguy cơ tăng nhiệt độ trái đất. Chính phủ
Thái Lan từ lâu đã dành ưu đãi đặc biệt cho xe bán tải bởi vì các nhà hoạch định
chính sách cho rằng đây là loại xe thích hợp nhất cho Thái Lan, một nước có nền
nông nghiệp lớn và thành công với việc xuất khẩu gạo, cao su, trái cây và tôm nuôi.
Nhưng do giá nhiên liệu tăng và giao thông châu Á ngày một đông đúc chật chội,
chính phủ Thái Lan đã khuyến khích bằng các ưu đãi cho các nhà sản xuất có các
mẫu xe tiết kiệm nhiên liệu. Vừa qua các quan chức Ủy ban đầu tư của chính phủ
Thái Lan đã có các buổi gặp gỡ với các nhà sản xuất lớn để thảo luận khả năng cắt
giảm, miễn thuế cho các nhà máy sản xuất công cụ và các chương trình đào tạo của
Nguyễn Thị Thanh Mai Lớp: Kế hoạch 48A
25