Những giải pháp phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam - Pdf 10



Trang 1
MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP XI MĂNG

1.1 Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh 4
1.1.1 Mô hình quản trò chiến lược toàn diện 4
1.1.2 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên ngoài 5
1.1.3 Ảnh hưởng từ môi trường nội bộ 6
1.1.4 Xác đònh các mục tiêu của ngành 7
1.1.5 Xây dựng chiến lược ngành 7
1.2 Sơ lược về ngành công nghiệp xi măng 8
1.2.1 Đặc điểm của ngành công nghiệp xi măng 8
1.2.2 Chủng loại xi măng 9
1.2.3 Công nghệ sản xuất xi măng 10
1.2.4 Tầm quan trong của ngành công nghiệp xi măng
trong nền kinh tế quốc dân 10
1.3 Gia nhập WTO cơ hội và thách thức 11
1.3.1 cơ hội mang lại từ WTO 11
1.3.2 Thách thức 12

CHƯƠNG 2 : MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG CỦA
NGÀNH CÔNG NGHIỆP XI MĂNG VIỆT NAM
2.1 Đánh giá về môi trường kinh doanh của ngành công ngiệp xi măng Việt
Nam 14
2.1.1 Môi trường bên ngoài 14
2.1.1.1 Ảnh hưởng của yếu tố chính trò – pháp luật 14

NGHIỆP XI MĂNG TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP
3.1 Dự báo nhu cầu tiêu thụ xi măng ở thò trường Việt Nam 40
3.2 Quan điểm phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam 41
2.3 Tình hình thực hiện đầu tư trong thời gian tới 41
3.4 Giải pháp phát triển ngành công nghiệp xi măng trong tiến trình hội
nhập 43 Trang 3
3.4.1 Xây dựng chiến lược dài hạn về nghiên cứu phát triển 43
3.4.2 Phân bổ, sử dụng hợp lý nguồn lực để đạt được lợi thế cạnh tranh 43
3.4.3 Giải pháp huy động vốn cho ngành công nghiệp xi măng 44
3.4.4 Đầu tư và đổi mới công nghệ 45
3.4.5 Đào tạo nguồn nhân lực 46
3.4.6 Hoạt động marketing 47
3.4.7 Đối phó với xi măng ngoại nhập trong tiến trình hội nhập 48
3.5 Một số kiến nghò về chính sách và cơ chế quản lý của Nhà nước 49
Kết luận 51
Tài liệu tham khảo
Phụ lục


(
Trích văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX – Trang 159
) (1)
Yêu cầu qui hoạch đô thò hóa ngày càng cao, kinh tế phát triển yêu
cầu đáp ứng ngày càng cao của cơ sở hạ tầng nhà cửa, kho tàng, bến bãi,
nhu cầu về nhà ở trong các tầng lớp dân cư ngày càng tăng, trước tình hình
đó nhu cầu về xi măng tăng nhanh trong giai đoạn này bởi vì ngành công
nghiệp xi măng luôn luôn gắn liền với ngành xây dựng cơ bản.
Trước yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa, ngành công nghiệp
xi măng cần phải được chú trọng phát triển để đáp ứng các nhu cầu về xây
dựng cơ sở hạ tầng, nhưng hiện nay ngành công nghiệp xi măng Việt Nam
đang đứng trước nhiều thách thức to lớn cung không đáp ứng đủ cầu trong
nước thường xuyên dẫn đến tình trạng sốt xi măng gây hậu quả xấu cho nền
kinh tế.
Vì vậy, việc xây dựng chiến lược, tìm hướng đi chung cho ngành
công nghiệp xi măng trong xu thế hội nhập dưới áp lực phát triển và cạnh
tranh trong thời điểm hiện nay là việc làm cấp thiết. Đó chính là lý do tôi
chọn đề tài “ Đònh hướng phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam
trong tiến trình hội nhập”
2. Mục đích nghiên cứu :
Trong phạm vi nghiên cứu nhất đònh, luận văn này nhằm giải quyết
một số vấn đề cơ bản sau :
- Hệ thống hóa các lý luận cơ bản của việc nghiên cứu chiến lược phát
triển kinh doanh trong cơ cấu phát triển nền kinh tế
- Phân tích và đánh giá những ảnh hưởng của môi trường bên ngoài và
bên trong ảnh hưởng trực tiếp đến ngành công nghiệp xi măng Việt Trang 5
Nam, phân tích thực trạng của ngành công nghiệp xi măngViệt Nam,
Trang 6
7. Bố cục của Luận văn:
Chương 1 :
Cơ sở lý luận về ngành công nghiệp xi măng
Chương 2 :
Phân tích những tác động của môi trường đến ngành công nghiệp
ximăng Việt Nam và thực trạng về ngành công nghiệp xi măng trong thời
điểm hiện nay cũng như khuynh hướng thò trường trong thời gian tới.
Chương 3 :
Những giải pháp phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam
trong tiến trình hội nhập Trang 7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP XI
MĂNG

1.1.Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh
1.1.1. Mô hình quản trò chiến lược toàn diện
Mô hình quản trò chiến lược (4)
Thông tin phản hồi

Xét lại
mục tiêu
kinh doanh
Lựa chọn
các chiến
lược thực
hiện
Thiết lập
mục tiêu
dài hạn
Thiết lập
những mục
tiêu hằng
năm
Thực hiện việc
kiểm soát nội bộ
để nhận diện
những điểm
mạnh yếu của
công ty
Đo lường
và đánh
giá sự thực
hiện
Phân phối
các nguồn
lực
Đưa ra các
chính sách
Hình thành chiến lược Thực thi Đánh giá

những cơ hội môi trường có thể mang lại lợi ích cho công ty và các mối đe
dọa của môi trường mà công ty nên tránh, các công ty nên có được khả
năng ứng phó lại một cách chủ động hoặc có tính phòng vệ đối với các yếu
tố bằng cách soạn thảo các chiến lược nhằm tận dụng các vận hội bên
ngoài hoặc tối thiểu hóa ảnh hưởng của các mối đe dọa tiềm năng. Các ảnh
hưởng của môi trường bên ngoài có thể chia ra làm 5 loại chủ yếu (1) ảnh
hưởng về kinh tế, (2) ảnh hưởng về văn hóa, xã hội, đòa lý và nhân khẩu,
(3) ảnh hưởng của luật pháp, chính phủ và chính trò, (4) ảnh hưởng của công
nghệ, (5) ảnh hưởng cạnh tranh. Trang 9
Sự thay đổi đối với những ảnh hưởng môi trường chuyển thành sự
biến đổi nhu cầu của người tiêu thụ đối với các sản phẩm, dòch vụ tiêu dùng
và công nghiệp. Các ảnh hưởng của môi trường sẽ tác động đến loại sản
phẩm được phát triển; tính chất của các chiến lược đònh vò sản phẩm và
phân khúc thò trường, loại dòch vụ được cung cấp và việc lựa chọn các
doanh nghiệp để mua hoặc bán. Các ảnh hưởng môi trường trực tiếp tác
động đến cả nhà cung cấp và nhà phân phối. Nhận diện và đánh giá các cơ
hội về môi trường cùng với các mối đe dọa của nó cho phép tổ chức phát
triển được nhiệm vụ rõ ràng, thiết kế chiến lược để đạt được các mục tiêu
dài hạn và xây dựng các chính sách nhằm đạt được các mục tiêu hằng năm.
Mối quan hệ giữa các ảnh hưởng chủ yếu của môi trường và tổ chức

nh hưởng kinh tế
nh hưởng xã hội,
nhân khẩu, văn hóa

soát nội bộ.
Hoạt động quản trò, marketing, tài chính/kế toán, sản xuất, nghiên
cứu phát triển và hệ thống thông tin biểu hiện biểu hiện các hoạt động cốt Trang 10
lõi của hầu hết các doanh nghiệp. Kiểm soát quản trò chiến lược về các hoạt
động bên trong của công ty là cần thiết cho sức mạnh của tổ chức, ngày
càng có nhiều tổ chức thành công sử dụng phương pháp kiểm soát nội bộ để
giành được lợi thế cạnh tranh với các đối thủ của họ.
Các chiến lược gia cần phải xác đònh và đánh giá những mặt mạnh
và yếu bên trong để hình thành và chọn lực hiệu quả giữa các chiến lược có
khả năng thay thế. Quá trình hình thành các cuộc kiểm soát nội bộ sẽ tạo ra
sinh lực và thúc đẩy các nhà quản trò và nhân viên.
1.1.4 Xác đònh các mục tiêu của ngành
Nghiên cứu mục tiêu của ngành làm cơ sở cho việc hình thành chiến
lược, các chiến lược cấp công ty thường chú trọng các mục tiêu ngắn hạn và
trung hạn, còn các chiến lược dài hạn thường áp dụng trong chiến lược cấp
ngành. Các mục tiêu đặt ra phải phù hợp với thực tế, có tính thách thức, có
thể đo lường được. Các mục tiêu phải xác đònh được thời điểm khởi đầu, kết
thúc và có những căn cứ để xác đònh những thứ tự ưu tiên trong phân bổ các
nguồn lực.
1.1.5 Xây dựng chiến lược ngành
Xây dựng chiến lược được thực hiện trên cơ sở phân tích và đánh giá
môi trường kinh doanh, nhận biết những cơ hội và nguy cơ, điểm mạnh, yếu
của doanh nghiệp từ đó xây dựng các phương án chiến lược
- Ma trân đánh giá các yếu tố bên ngoài
Là công cụ cho phép đánh giá mức độ tác động chủ yếu của môi
trường bên ngoài đến công ty. Ma trận các yếu tố bên ngoài được triển khai
theo 5 bước :

triển của ngành công nghiệp này.
• Xi măng là một loại sản phẩm được sử dụng như một chất kết dính,
liên kết các loại vật liệu khác rất quan trọng và không thể thay thế
được trong ngành xây dựng. Nhu cầu xi măng liên tục tăng trong
những năm qua gắn liền với tốc độ phát triển kinh tế và tốc độ phát
triển của ngành xây dựng.
• Nhà máy xi măng được tập trung theo khu vực các mỏ sét và đá vôi
nhưng tiêu dùng thì được phân tán tùy thuộc vào khu dân cư, khu
công nghiệp và những công trình xây dựng.
• Công nghệ sản xuất xi măng hiện đại, suất đầu tư lớn và thời gian
hoàn vốn dài là đặc điểm rất quan trọng của ngành công nghiệp xi
măng. Có sự khác biệt lớn trong giá thành sản xuất xi măng, suất đầu
tư, thời gian xây dựng theo từng loại hình công nghệ, công nghệ lò
đứng hay lò quay
• Công nghệ sản xuất xi măng gắn liền với việc hạn chế ô nhiểm và
bảo vệ môi trường, công nghệ sản xuất xi măng thải ra một lượng
CO
2
rất lớn do quá trình đốt nhiên liệu, CO
2
thoát ra gián tiếp từ các
nguồn điện năng suất, từ nguồn nhiệt điện đồng thời tạo ra một lượng Trang 12
bụi rất lớn khi nung, nghiền clinker gây ô nhiểm môi trường trầm
trọng. Do vậy công nghệ sản xuất xi măng gắn liền với công tác bảo
vệ môi trường.
• Dây chuyền vận hành liên tục nhưng sản phẩm tiêu thụ có thời vụ
Để tối ưu hoá chi phí đầu tư ban đầu ( thiết bò và vốn kinh doanh ) các

chỉ do thò hiếu quen dùng. Trang 13
Các loại xi măng khác
- Xi măng tỏa nhiệt Pit : dùng cho công trình có khối lượng bê
tông kết cấu lớn, như các công trình thủy điện
- Xi măng bền Sulfat : sử dụng cho các môi trường nhiểm
mặn, phèn.
- Xi măng trắng : dùng trong việc trang trí và sản xuất gạch
- Xi măng mác đặc biệt : là các loại xi măng mác rất cao
1.2.3 Công nghệ sản xuất xi măng :
Công nghệ và thiết bò trong ngành sản xuất xi măng luôn luôn thay
đổi với tốc độ nhanh, với trình độ tự động hóa ngày càng cao. Sự thay đổi
công nghệ làm cho giá thành xi măng giảm do giảm chi phí nguyên vật liệu
và chất lượng xi măng được tăng lên. Hiện nay công nghệ xi măng được
phân chia như sau :
- Xi măng lò đứng : sản lượng thấp, chi phí cao, chất lượng không ổn
đònh. Hiện nay thế giới không sử dụng công nghệ này ( Trừ một số nước
đang phát triển)
- Xi măng lò quay : Năng suất cao, chất lượng ổn đònh, suất đầu tư
cao.
 Xi măng lò quay phương pháp khô : công nghệ hiện đại, gồm
công nghệ sản xuất bán tự động (vận hành theo chu trình hở) ,
từng giai đoạn riêng biệt, gồm Nhà máy xi măng Hoàng
Thạch, Hà Tiên II lò 3 áp dụng công nghệ này. Công nghệ sản
xuất tự động dây chuyền vận hành theo chu kỳ kín, công nghệ
này các liên doanh xi măng áp dụng nhiều.
 Xi măng lò quay phương pháp ướt : Đây cũng là công nghệ
tương đối lạc hậu vì chi phí nhiên liệu cao, ô nhiểm môi

Nam những thời cơ mới thúc đẩy cải cách kinh tế, tạo ra bước phát triển
mới trong xu thế toàn cầu hóa
1.3.1 Cơ hội mang lại từ WTO
Thúc đẩy công cuộc cải cách kinh tế xã hội : Là một quốc gia đang
phát triển ở trình độ thấp, việc tham gia WTO sẽ tạo sức ép từ quá trình hội
nhập, buộc chúng ta phải đẩy nhanh tiến trình cải cách kinh tế, cải cách luật
pháp, đổi mới công tác đào tạo nhân lực, tăng cường các quan hệ quốc tế
phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Cải thiện môi trường kinh doanh : Khi gia nhập WTO và cam kết
thực hiện các nguyên tắc tự do hóa thương mại, môi trường kinh doanh sẽ
trở nên lành mạnh hơn, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng hơn giữa hàng hóa
trong nước và hàng hóa nước ngoài, giữa các thành phần kinh tế trong nước,
giữa đầu tư trong nước và nước ngoài. Nền kinh tế Việt Nam sẽ ít bò tổn
thương bởi những hành vi bảo hộ mậu dòch hoặc trừng phạt kinh tế của các
quốc gia khác trong trường hợp có tranh chấp kinh tế, thương mại hay
những lý do chính trò nào đó.
Mở rộng thò trường xuất khẩu : Hiện nay, thương mại giữa 148 nước
thành viên WTO chiếm tới 90% khối lượng thương mại thế giới. Năm 2005, Trang 15
nếu 25 quốc gia được kết nạp, số thành viên WTO có thể lên trên 170 nước,
nghóa là tuyệt đại đa số các quốc gia trên thế giới sẽ là thành viên WTO. Vì
vậy, sau khi gia nhập WTO, rào cản về thuế quan và hạn ngạch sẽ được
khắc phục, hàng hóa Việt Nam sẽ được cạnh tranh bình đẳng với các đối
thủ khác. Dự báo về nhu cầu và sản lượng sản xuất xi măng trong thời gian
tới thì tính đến năm 2006 lượng cung về xi măng sẽ lớn hơn cầu trong nước
về xi măng. Vì vậy việc xuất khẩu xi măng là nhiệm vụ cần thiết để giải
quyết tình trạng thừa xi măng trong nước và gia nhập WTO là điều kiện
thuận lợi để xi măng Việt Nam có mặt trên thò trường thế giới.

Lónh vực nông nghiệp cũng sẽ chòu những sức ép không nhỏ. Diện
tích canh tác bình quân trên 1 lao động thấp, phương thức sản xuất lạc hậu
nên giá thành nông sản nhìn chung cao hơn mặt bằng giá thế giới. Khi
những rào cản thương mại được bãi bỏ hay giảm thiểu, nông sản nhập khẩu
từ các nước với giá thấp sẽ gây sức ép lớn cho kinh tế nông thôn, nhiều đơn
vò kinh doanh nông nghiệp có thể sẽ bò phá sản. Số người này sẽ di chuyển
về thành phố làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp.
Trong lónh vực xuất khẩu, hiện tại cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt
Nam chủ yếu là hàng gia công, chúng ta sẽ ít được hưởng lợi khi gia nhập
WTO, vì qui đònh qui tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi là trò giá nguyên liệu
nhập khẩu để sản xuất hàng hóa tại nước được hưởng phải thấp hơn 65%.
Thách thức trong việc thực thi các cam kết : Trong thời gian thực hiện chính
sách mở của và đổi mới, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng ghi
nhận trong việc chuyển sang nền kinh tế thò trường. Tuy nhiên, sau khi tham
gia WTO, thách thức đối với việc thực hiện các cam kết về luật pháp, thể
chế và đặc biệt là mở cửa thò trường trong lónh vực dòch vụ nhạy cảm như
tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, điện lực,… chắc chắn sẽ rất lớn.
Nhiều qui đònh luật pháp cần tiếp tục được cụ thể hóa và bổ sung, sửa đổi.
Trình độ tổ chức, quản lý của cán bộ cơ quan quản lý Nhà nước cần phải
được nâng cao cho phù hợp với trình độ quốc tế. Đặc biệt là đội ngũ luật sư
– những người phải chòu nhiều thách thức khi tham gia các vụ đàm phán,
tranh tụng, giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại phù hợp với các
qui đònh của WTO
Trang 17
CHƯƠNG 2
MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH
CÔNG NGHIỆP XI MĂNG VIỆT NAM

liên quan đến việc nâng cao năng lực của các cơ quan thực thi như Hải
quan, Tòa án, các vấn đề về tham nhũng, đào tạo chuyên gia pháp luật,
quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường,… cũng sẽ được dần dần giải quyết Trang 18
và việc này có ý nghóa quan trọng nhằm tuyên truyền rộng rãi về môi
trường đầu tư của Việt Nam đến nhiều nhà đầu tư.
2.1.1.2 Ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế
Nói chung, năng suất cliker và xi măng của những quốc gia ở Châu
Á đã vượt quá nhu cầu trong nước của họ chỉ trừ Việt Nam, điều đó có
nghóa là những quốc gia với sản lượng và năng suất sẽ có khuynh hướng
xuất khẩu clinker hoặc xi măng đến những quốc gia thiếu những loại sản
phẩm này. Khuynh hướng những quốc gia xuất khẩu xi măng và cliker gồm
có : Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippin và Trung Quốc bởi vì sự dư
thừa năng suất của họ.
Bảng năng suất và nhu cầu xi măng của các quốc gia Đông Nam Á (2)
Quốc gia Năng suất(ngàn tấn) Nhu cầu(ngàn tấn)
Indonesia 47.490 31.000
Malaysia 28.300 15.840
Philippin 26.782 13.099
Singapore 8.500 3.800
Thái Lan 54.515 25.400
Brunei 550 255
Việt Nam 25.500 25.700
Tổng cộng 191.757 114.984
Trong cơ cấu của việc nghiên cứu này tôi chỉ tập trung chủ yếu vào 3
thò trường mà có thể có những tác động trực tiếp vào thò trường xi măng của
Việt Nam.
TRUNG QUỐC

công ty bê tông hàng đầu ở miền trung bang Ohio nhận xét :” Người Trung
Quốc đang xây dựng đập thủy điện, đường xá và các công trình phục vụ
Olimpic 2008, cho nên xi măng họ sản xuất ra không đủ dùng. Trong đó nhu
cầu trên thế giới cũng gia tăng cho nên giá cả đã tăng vọt”. ng Feltz cho
biết lợi nhuận của công ty ông có thể giảm 10 – 15% trong năm 2005 mặc
dù công ty đã chuyển phần tăng chi phí về phía khách hàng đến 25%, do
thiếu xi măng và giá vật liệu này tăng cao. Ohio không phải là bang duy
nhất của nước Mỹ gặp tình trạng đó. Từ Connecticut đến Florida, từ Texas
đến Michigan và khắp miến Tây nam nước Mỹ, đâu đâu cũng thiếu xi
măng trầm trọng khiến cho nhiều công trình xây dựng phải thi công chậm
lại hoặc ngưn hẳn. Ngày càng có nhiều sân vận động, đường xá,… làm dở
dang. Trang 20
Ryan Puckett, người phát ngôn của Hiệp hội xi măng Portland (PCA),
một tổ chức thương mại đại diện cho các công ty xi măng ở Mỹ và Canada
than thở : “đây quả là một thách thức lớn đối với chúng tôi”. Từ lâu nay Mỹ
nhập khẩu 25% xi măng chủ yếu từ Trung Quốc, hiện nay nước có dân số
khổng lồ này sản xuất không đủ dùng cho nên đã góp phần làm cho toàn
thế giới khát xi măng. Đầu tiên tình trạng thiếu xi măng ảnh hưởng tới
Châu Á, sau đó lan tới Mỹ. Kễ từ mùa xây dựng bắt đầu từ mùa xuân năm
ngoái đã có 29 bang ở Mỹ báo cáo thiếu hụt xi măng. 114 nhà máy xi măng
của Mỹ đã chạy hết công suất 7 ngày/tuần, nhưng cũng vẫn không đủ đáp
ứng thò trường. Những công ty trộn bê tông bắt đầu sa thải công nhân vì
thiếu việc làm, lợi nhuận giảm sút và lo lắng cho tương lai. Nhiều dự án
xây dựng nhà cho người hưu trí ở Florida, nhà dân dụng ở Phoenix và casino
ở Las Vegas bò đình hoãn.
Ngoài chuyện thiếu xi măng, số lượng có hạn xà lan và tàu chuyên
dùng chở xi măng nhập khẩu càng làm cho vấn đề thêm nan giải. Ngoài

là 56 triệu tấn, giảm 6,8 % so với năm 2003. Sản xuất xi măng của Nhật và
Đài Loan là quá dư thừa. Nhật và Đài Loan : tỷ lệ giữa tiêu thụ và sản
xuất là : 81% và 79%. Tương ứng, thò trường xi măng của Trung quốc và
Hồng Kông thì khá ổn đònh ( cung = cầu).
3. Xuất nhập khẩu :
Xi măng Nhật xuất khẩu vào năm 2003 là 9,6 triệu tấn chiếm khoảng
80% số lượng hàng hoá xuất khẩu của Nhật bằng đường biển vào thò trường
Châu Á. Và năm 2004 là 10,3 triệu tấn trong khi nhập khẩu vẫn ổn đònh là
800 nghìn tấn bằng với hai năm trước
Xi măng & clinker xuất khẩu trong năm 2004 (2)

Xi măng và clinker được nhập khẩu trong năm 2004 (10)
Quốc gia Xi măng (tấn) Clinker(tấn)
Nhật
800.000
Malaysia
2.870.000
Singapore
1.700.000
Đài Loan
800.000

Trang 22
4. Giá xi măng :
Giá xi măng của Nhật thì cao nhất ở khu vực và Châu Á. Giá phân
phối ở Tokyo là 77,33 USD/tấn theo sau là Đài Loan 56USD/tấn, Hàn Quốc
45,6USD/tấn và Hồng Kông 42 USD/tấn

Loan và Hàn Quốc). Trang 23
Chúng ta giải thích xu hướng từ năm 1993 đến 2003 của mỗi nước
theo bản đồ dưới đây Xuất khẩu xi măng của các quốc gia Châu Á ( 1993 và 2003) (3)

Năm 2003
28%
7%
12%
12%
24%
17%
Thái Lan 28% Hàn Quốc 7%
Trung Quốc 12% Đài Loan 12%
Nhật 24% Indonesia 17%
Năm 1993
0%
8%
29%
4%
55%
4%
Thái Lan 0% Hàn Quốc 8%
Trung Quốc 29% Đài Loan 4%
Nhật 55% Indonesia 4%

Chính sách mở của và hội nhập quốc tế vào năm 1986 đã mang đến
cho đất nước ta một nền kinh tế khởi sắc, GDP nước ta liên tục tăng trung
bình trên 7%/năm . lạm phát được kềm chế dưới 5% mỗi năm đã góp phần
ổn đònh môi trường đầu tư của nước ta, cụ thể như :
- GDP đang trên đà tăng trưởng cao, năm 2004 đã đạt 7,7% và dự báo
sẽ tăng trong những năm sắp tới
- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dòch theo hướng tích cực. Nét mới
trong việc chuyển dòch này là tỷ trong dòch vụ đến năm 2004 đã
chấm dứt thời kỳ giảm sút liên tục ( từ 44,06% năm 1995 xuống 38%
năm 2003 và đạt 38,2% trong năm 2004). Tỷ trọng khu vực công
nghiệp – xây dựng đạt trên 40%, nhờ tốc độ xây dựng gia tăng.
- Tổng vốn đấu tư tăng khá, cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP theo giá
thực tế, hiệu quả đầu tư đã nhích dần lên.
Tỷ lệ ngành công nghiệp chiếm hơn 40% GDP cả nước, trong thời
gian tới tổ chức sản xuất trong nước để thay thế nhập khẩu tốt sẽ đóng góp
một phần quan trọng vào sự tăng trưởng của ngành công nghiệp. Ví dụ như
ngành công nghiệp xi măng hiện đang phải nhập hằng năm 4 triệu tấn
clinker với trò giá khoảng 120 triệu USD, nếu sản xuất trong nước tốt và huy
động từ các nguồn vốn khác nhau, cộng với nguồn nguyên liệu sẳn có thì đã
có thể gia tăng sản lượng góp phần vào sự tăng trưởng chung. Cũng như
nhiều ngành công nghiệp khác, ngành công nghiệp xi măng nước ta có mối
quan hệ chặc chẽ với tốc độ phát triển kinh tế của nước nhà. Trang 25
Ngành xây dựng cơ bản có mối quan hệ mật thiết với việc tăng GDP,
khi GDP tăng nhanh, tỷ lệ đầu tư cho xây dựng cơ bản tăng nhanh và khi
tăng trưởng GDP có dấu hiệu sút giảm, thì ngành xây dựng cơ bản có tỷ lệ
sút giảm rõ rệt nhất.
Hiện nay để phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng nước ta cần

măng lò đứng đến tháng 08/2004).

Trích đoạn Giá thành sản xuất ximăng Cơng nghệ kỹ thuật hiện tạ Ma trận Swot Tổng sản phẩm quốc nội liên tục tăng ổn định qua các năm Quan điểm phát triển ngành cơng nghiệp ximăng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status