Thực trạng, giải pháp phát triển ngành công nghiệp đóng tàu biển và vai trò của ngành này trong chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây - Pdf 64

Trần Thị Hồng Bích – A7K38B 1
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia biển, có một nửa biên giới giáp với biển từ
phía Đông, Nam và Tây Nam bao gồm 3.260km bờ biển từ Bắc vào Nam
với nhiều vị trí phù hợp cho sự hình thành và phát triển một hệ thống cảng
biển hiện đại. Đây là những tiềm năng to lớn mang tính chất chiến lược để
chúng ta đẩy mạnh phát triển kinh tế biển.
Vị trí n
ước ta cũng kề cận ngay bên nhiều tuyến hàng hải quốc tế, lại
thuộc khu vực đang có tốc độ phát triển kinh tế cao và thị trường vận tải
biển sôi động, tàu thuyền ra vào thuận tiện, giao lưu với các châu lục
nhanh chóng, dễ dàng. Trong vận hội mới của đất nước, với tốc độ tăng
trưởng kinh tế, ngoại thương được nâng cao, vận tải hàng hoá bằng đườ
ng
biển ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn, vai trò của ngành hàng hải, trong
đó có ngành đóng tàu biển ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Công nghiệp đóng tàu biển, hơn thế nữa, lại là một ngành công nghiệp
lớn, một ngành công nghiệp tổng hợp, sử dụng nhiều sản phẩm của nhiều
ngành công nghiệp khác nhau. Do đó, công nghiệp đóng tàu biển phải trở
thành một ngành công nghiệp mũi nhọ
n, tạo thị trường cho các ngành công
nghiệp khác phát triển, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Xuất phát từ tầm quan trọng và vị trí của ngành công nghiệp đóng tàu
biển đối với quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt là với chuyên chở hàng
hoá xuất nhập khẩu, tác giả đã chọn viết khoá luận tốt nghiệp với đề tài
“Thự
c trạng, giải pháp phát triển ngành công nghiệp đóng tàu biển và vai

Hà Nội tháng 12/2003
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B 3

CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP
ĐÓNG TÀU BIỂN VIỆT NAM
I. Đặc điểm và vai trò của ngành công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam
1. Đặc điểm ngành công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam
Việt Nam có hơn 3.260km bờ biển và trên 1 triệu km vùng đặc quyền
kinh tế biển, có hàng vạn ki lô mét đường sông đổ ra biển, đó là một tiềm
năng tạo ra ưu thế đối với khu vực để có thể phát triể
n kinh tế biển, đặc
biệt là giao thông vận tải biển.
Ngành công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam là một ngành đã có truyền
thống, nghề đóng và sửa chữa tàu đã sớm hình thành ở nước ta từ thời vua
Minh Mạng (từ năm 1838-1839). Đặc biệt từ năm 1960, Đảng và Nhà
nước đã quan tâm xây dựng và phát triển ngành công nghiệp đóng tàu biển.
Ngày nay ngành đã có một lực lượng cơ sở vật ch
ất kỹ thuật, lực lượng lao
động đồng bộ, từng bước kế thừa và phát triển, góp phần không nhỏ vào
quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nước.
Tuy còn nhỏ bé và trang bị công nghệ còn lạc hậu so với các nước
trong khu vực và trên thế giới, song ngành có một tiềm năng lớn - đó là đội
ngũ công nhân lành nghề, đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý dày dặn

tăng trưởng về cơ sở vật chất của các nhà máy đóng sửa chữa tàu, từ nay
đến năm 2010 chúng ta có khả năng tạo ra một khối lượng hàng hoá đóng
mới và sửa chữa đạt hàng tỷ
USD, trong đó công nghiệp tàu thuỷ phải sử
dụng hơn 70% giá trị các sản phẩm của các ngành khác trong và ngoài
nước.
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B 5
Công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam là một ngành công nghiệp có thị
trường trong và ngoài nước rất rộng lớn. Thị trường đó ngày càng được mở
rộng và nhân lên bởi 2 yếu tố:
- Sự phát triển và trình độ và công nghệ của nhiều ngành nghề trong
nước.
- Sự tăng trưởng về cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ, trình độ tay
nghề của công nhân thuộc bản thân ngành công nghi
ệp đóng tàu.
Có thể thấy ngành công nghiệp đóng tàu biển có khả năng hội nhập
được vào thị trường quốc tế, có khả năng hình thành một ngành công
nghiệp và dịch vụ quốc tế ngày một mở rộng, tạo ra một tiềm lực phát triển
lâu bền cho đất nước.
2. Vai trò của ngành công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam
2.1. Ngành đóng tàu biển với sự phát triển công nghiệp Việt Nam
2.1.1. Công nghi
ệp đóng tàu biển là ngành công nghiệp tạo nên
năng lực trang thiết bị kỹ thuật chủ yếu để thực hiện chiến lược phát
triển kinh tế biển.
Kinh tế biển bao gồm rất nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội
phong phú và đa dạng. Đó là: Khảo sát và nghiên cứu biển, xây dựng các

đảo, nối hai vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, đặc biệt n
ối
các vùng kinh tế quan trọng của đất nước: Bắc có tam giác tăng trưởng Hà
Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh, Trung có trục tăng trưởng Huế-Đà Nẵng-
Dung Quất; Nam có tam giác tăng trưởngthành phố Hồ Chí Minh-Vũng
Tàu-Biên Hoà; nối các vùng sâu, vùng xa trong chiến lược phát triển kinh
tế của đất nước. Công nghiệp đóng tàu biển đóng vai trò quan trọng trong
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B 7
việc tạo nên các phương tiện phục vụ đường lối mở cửa của Đảng, cùng
với các ngành khác của giao thông vận tải thực hiện nhiệm vụ đi trước một
bước trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2.1.4. Công nghiệp đóng tàu biển là ngành công nghiệp tập trung
nhiều trình độ khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới và thừa hưởng
chúng từ các ngành công nghiệ
p nặng cũng như các ngành công nghệ
cao khác.
Ngành công nghiệp đóng tàu biển thúc đẩy nhiều lĩnh vực khoa học
công nghệ khác phát triển nhanh chóng và khá đồng bộ từ nghiên cứu,
chẩn đoán, kiểm định kỹ thuật và ứng dụng công nghệ mới. Do đó công
nghiệp đóng tàu biển phát triển sẽ kéo theo sự phát triển đồng bộ của hầu
hết các ngành khoa học công nghiệp, tạo điều kiện
để công nghiệp Việt
Nam không những có thể tiến kịp trình độ khoa học công nghiệp tiên tiến
trên thế giới mà còn tạo điều kiện để có thể “đi tắt, đón đầu” cho nhiều
ngành công nghiệp khác.
2.2. Ngành đóng tàu biển với phát triển kinh tế-xã hội
Trước đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam, trong bối cảnh khủng

xăng dầu, số phương tiện được đóng ở trong nước ngày càng được tăng
lên, thay thế cho phương tiệ
n thuê, mua của nước ngoài. Điều này giúp
quốc gia tiết kiệm được một lượng ngoại tệ đáng kể.
2.2.2. Đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Việc phát triển công nghiệp đóng tàu biển đã mang lại hiệu quả tích
cực trong việc thực hiện Nghị quyết TW8 cũng như dự thảo nghị quyết
TW9 đề ra về chuyển dịch cơ cấ
u kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ngành công nghiệp đóng và sửa chữa tàu
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B 9
được hình thành và phát triển thành 3 khu vực tương ứng với 3 vùng kinh
tế lớn của đất nước: Hải Phòng – Quảng Ninh, miền trung và miền Nam.
Mỗi khu vực tạo thành cụm công nghiệp đóng và sửa chữa tàu phù hợp với
điều kiện tự nhiên của mỗi vùng, thuận tiện cho cho việc giao lưu kinh tế
giữa các miền cũng như cũng như tạo điểm nút phát triển công nghiệp cơ
khí. Tạ
i khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh có thể nói công nghiệp đóng tàu
biển là ngành công nghiệp then chốt, mang lại nguồn thu lớn cho ngân
sách Nhà nước với các nhà máy đóng tàu biển chủ đạo ngành như: Đóng
tàu Bạch Đằng , Sông Cấm, Hạ Long…Việc phát triển các cụm công
nghiệp đóng tàu biển thúc đẩy phát triển kinh tế vùng đồng bằng Bắc Bộ
châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long, đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu
kinh t
ế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
2.2.3. Đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội.
Để tạo ra được một con tàu, ngoài lực lượng lao động của ngành công

nhiêu vấn đề cần giải quyết. Nhiệm vụ của ngành đóng tàu trong giai đoạn
này chỉ là lắp ráp các phân đoạn, tổng đoạn sà lan, tàu lai, tàu cuốc có sẵn
từ Liên Xô (cũ), Trung Quốc, CHDC Đức (c
ũ) chuyển sang. Cơ sở sản
xuất của ngành chỉ gồm 4 Xưởng đóng tàu biển và Xưởng cơ khí Hải
Phòng (tiền thân của nhà máy đóng tàu biển Bạch Đằng ngày nay) đợt đầu
chuẩn bị khởi công. Bộ phận thiết kế tàu thuỷ mới bắt đầu được thành lập
theo đúng “bài bản” của công nghệ đóng tầu mới mà ta đã bước đầu tiếp
thu từ Liên Xô, Trung Qu
ốc. Đây là thời kỳ tập dượt của công nghiệp đóng
tàu biển Việt Nam .
2. Thời kỳ 1961 - 1970
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B 11
Giai đoạn này công nghiệp đóng tàu biển vẫn chủ yếu là sửa chữa,
khôi phục tàu cũ. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ GTVT, Cục vận tải
thuỷ bộ, các xưởng đóng tàu biển tiếp tục sửa chữa khôi phục một số tàu
khách ta trục vớt được như tàu Đà Nẵng, tàu Mỹ Tho chạy trên tuyến Hải
Phòng – Cẩm Phả, Hải Phòng – Nam
Định, phục vụ đắc lực công tác vận
chuyển hành khách ở vùng đồng bằng trong suốt một thời gian dài. Tàu
cuốc Đình Vũ theo thiết kế khôi phục của ta cũng được các xưởng hợp tác
khôi phục lại, tiếp tục nạo vét tuyến đồng bằng duyên hải.
Hai sản phẩm đầu tiên của ngành đóng tàu biển Việt Nam do chúng
ta tự thiết kế và thi công là tàu lai 135 Cv, mớn nước 1,25m và Ca nô lai
phà vỏ gỗ đ
ã ra đời vào thời kỳ này. Nó đánh dấu bước đi chập chững đầu
tiên của ngành đóng tàu biển Việt Nam .

kỳ này như: Tàu cao tốc phóng lôi cho Hải Quân, các loại sản phẩm rút
gọn kích thước cho phù hợp với thời chiến (ca nô lai phà, ca nô con cóc, ca
nô con nòng nọc…), các loại sà lan 30 – 100T, thuyền vận tải biển gắn
máy 50 tấn… làm tiền đề cho việc chế tạo loạt tàu “Tự lực” hơn 500 chiếc
sau này. Đặc biệt các sản phẩm đảm bảo giao thông trên các bến phà, bến
sông được thiết kế và chế tạo hết sức đa dạ
ng. Đó là máy kéo lội nước, phà
ghép, phà truyền lực, sariô truyền lực…được thử nghiệm và đưa vào hoạt
động ở ngoài địa phương, nhất là trên tuyến lửa Khu IV. Hàng loạt tàu
khách (trên 100 khách), hàng loạt ca nô, tàu lai trong sông và lai phà ra
đời.
Nhìn chung, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, hàng trăm sản phẩm
mang nặng nét đặc trưng về trí tuệ và mang lòng dũng cảm do những
người kỹ sư, công nhân ngành đóng tàu sáng tạo ra và góp sức cùng toàn
dân, toàn quân ta chiến thắng k
ẻ thù trên mặt trận GTVT với ý chí quyết
thắng “Địch phá ta cứ đi”.
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B 13
Trong giai đoạn này, tổng sản lượng mà ngành đóng góp cho đất
nước còn quá nhỏ bé, chủ yếu là phục vụ cho sự nghiệp GTVT thời chiến.
Chất lượng sản phẩm chưa được coi trọng, công nghệ còn thô sơ. Tuy
nhiên, số cơ sở sản xuất đã được tăng lên: Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng
đã bắt đầu đưa vào sử dụng; một số xưởng đóng tàu được nâng cấ
p lên
thành nhà máy đóng tàu như: Nhà máy đóng tàu Tam Bạc, Nhà máy đóng
tàu Sông Cấm, Nhà máy đóng tàu Sông Lô…
3. Thời kỳ 1971 - 1980

ới hiện trường, các loại âu nổi, các loại thuyền, xuồng phục vụ yêu cầu
vận tải – du lịch đường thuỷ, phục vụ chống lụt, phục vụ công tác khác, tàu
cao tốc bằng thép cường độ cao và hợp kim nhôm…
Số lượng sản phẩm trong giai đoạn này được tăng lên rõ rệt, tuy tổng
sản phẩm mà ngành tạo ra cho xã hội chiếm một tỷ trọng không lớn. Lực
lượng lao
động tăng cả về chất lượng và số lượng : Đội ngũ cán bộ KHKT,
công nhân lành nghề được đào tạo tại các nước có nền công nghiệp đóng
tàu biển phát triển trong khối XHCN được bổ sung cho ngành ngày một
nhiều. Trong giai đoạn này, nhà máy đóng tàu biển Hạ Long có quy mô
đóng mới đến tàu 3.000T do Ba Lan giúp ta xây dựng cùng với đội ngũ thợ
lành nghề do Bạn đào tạo đã đi vào sản xuất. Nhà máy sữ
a chữa tàu biển
Phà Rừng do Phần Lan giúp đỡ đã bắt đầu khởi công xây dựng. Các cơ sở
đóng tàu biển ở miền Nam tuy còn khá khiêm tốn nhưng đã được củng cố
và bước đầu bắt nhịp với tiến triển chung của toàn ngành.
4. Thời kỳ 1981 - 1990
Đây là thời kỳ khó khăn nhất của nền công nghiệp Việt Nam nói
chung và của ngành công nghiệp đóng tàu biển nói riêng, nhất là giai đoạn
từ 1985 khi “cơn bão” giá lương tiền báo hiệu cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn diện của đất nước. Sau các chỉ thị, Nghị định 25CP, 217, 176…là sự
thay đổi cơ chế, thay đổi tổ chức, sắp xếp lại đội ngũ và thay đổi chế độ
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B 15
tiền lương. Vốn cho sản xuất công nghiệp lâm vào tình trạng bế tắc, ngành
cơ khí hầu như hoạt động cầm chừng. Tuy vậy ngành công nghiệp đóng
tàu biển cũng đã sản xuất được một số sản phẩm với tiến bộ vượt bậc: tàu
khách 220 chỗ ngồi, tàu hàng 1.000T – 3.850T, tàu chở xăng dầu 400, các

ủa ngành hàng hải, đầu khí, của các địa phương, của
quốc phòng…, ngành công nghiệp đóng tàu biển đã thiết kế và chế tạo
được một khối lượng lớn phương tiện thuỷ với chất lượng ngày càng hoàn
thiện. Việc chế tạo các loại phương tiện thuỷ không chỉ phục vụ phát triển
đội tàu trong nước mà còn vươn tới các nước trong khu vực. Nhà máy
đóng tàu biển Tam Bạc, Hạ Long, Sông Cấ
m đã đóng mới những con tàu
chở hàng, chở khách cho nước bạn Lào, Căm Pu Chia. Và nhằm khai thác,
tận dụng nguyên vật liệu đã qua sử dụng, ngành đã thành lập các cơ sở
nhập khẩu tàu cũ về phá dỡ lấy tôn thép đặc chủng cung cấp cho ngành,
cho xuất khẩu phế liệu.
Từ 1996, sau khi củng cố lại tổ chức, các đơn vị đóng tàu biển của
ngành GTVT và một số
địa phương được sắp xếp lại và nằm trong Tổng
công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam. Tổng công ty công nghiệp tàu
thuỷ đã cho ra đời hàng chục con tàu từ 1.000T đến 4.000T với chất lượng
ngày càng cao, phục hồi được những tàu hút biển có tính năng phức tạp và
công sức lớn như tàu hút Long Châu, tàu trần Hưng Đạo. Chế tạo thành
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B 17
công tàu hút biển 300m/h, lắp ráp tàu hút tới 4.000HP. Đóng mới và đưa
vào vận hành sà lan cần cẩu nổi 600T cùng hệ sà lan có khả năng tự chìm,
nổi sức nâng 2.000T. Đóng hàng chục tàu vận tải quân sự cho Bộ Quốc
Phòng có sức chở từ 450T đến 1200T. Đóng thành công tàu hàng khô
3.850T, tàu khách biển 200 khách có giường nằm riêng biệt, đầy đủ tiện
nghi. Đóng thành công tàu đánh cá xa bờ 600HP, phà tự hành có hệ thống
phun xoay, tàu cao tốc vỏ thép cường độ cao và tàu vỏ nhôm 28 – 30 hải
lý, tàu nghiên cứu biển hiện đại, tàu hoa tiêu. Đặc biệt đã đóng mới thành

đóng mới cung cấp cho thị trường theo hướng phục vụ vận tải đường biển
của kinh tế Việt Nam. Trong tổng sản lượng đóng mới hàng năm, lượng
tàu phục vụ cho vận chuyển hàng hoá bằng đường biển chiếm khoảng 20%
tổng sản lượng. Phương tiện chở sản phẩm dầu nhập khẩu, dầu thô khai
thác trong nước chưa được chú tr
ọng mặc dù nhu cầu thị trường này là rất
lớn. Hiện nay việc vận chuyển dầu thô được thực hiện với các phương tiện
vận chuyển chủ yếu thuê của nước ngoài, điều này làm giảm nguồn lợi
nhuận chúng ta thu được qua việc khai thác dầu khí. Bảng 1. Một số sản phẩm chính của ngành 1995 – 2000
Đơn vị tính : chiếc
STT Sản phẩm Số
lượng
1 Tàu hàng:
- Đến 1.200T
- 3.850T
- 6.500T

10
1
1
2 Tàu kéo đẩy:
- Tàu kéo đẩy 540 cv – 1200cv

5
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B

35
6
26
6 Tàu, phà chở khách:
- Phà tự hành dưới 100T.
- Phà tự hành 100T.
- Tàu khách đến 220 chỗ.
- Tàu du lịch trên sông.

4
8
5
2
Nguồn : Bộ GTVT, Viện khoa học công nghệ tàu thuỷ Việt Nam
Năm 2002 là năm đánh dấu nhiều thành công mới của ngành đóng tàu
biển Việt Nam. Trong năm 2002, Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt
Nam đã thu được những kết quả khả quan trong sản xuất kinh doanh: giá
trị tổng sản lượng đạt trên 4626 tỷ đồng, giá trị doanh thu đạt trên 3735 tỷ
đồng, trong đó khối các doanh nghiệp hạch toán độc lập và phụ thu
ộc đạt
110.6% kế hoạch, tăng 87.7% so với năm 2001 về giá trị doanh thu.
1

Trong năm vừa qua, cả nước đã được chứng kiến những sản phẩm
đóng tàu biển tiêu biểu-niềm tự hào của ngành đóng tàu biển Việt Nam.

1
Kim Chi - Đóng tàu Việt Nam những bước tiến mới
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B


21
- Sửa chữa vừa và lớn các loại máy có công suất trung bình và nhỏ, cỡ
dưới 2.500CV. Đối với các máy hiện đại, công suất lớn, vòng quay thấp
mới thực hiện sửa chữa nhỏ, tháo lắp bảo dưỡng là chính.
Tuy nhiên công nghệ sửa chữa tàu còn tạm thời, mức độ cơ giới hoá
thấp, quy mô công nghệ cũng không đồng bộ, chủ yếu là sửa chữa phần vỏ
tàu, phần trang trí và sửa chữ
a các trang thiết bị thông thường, còn công
nghệ cũng như kỹ thuật sửa chữa hệ thống động lực, hệ thống điều khiển,
tháo lắp tự động…công nghệ xúc rửa, làm sạch các loại hầm, kéo dầu còn
thấp.
Do tình trạng trên nên đối với các cơ sở sửa chữa hiện nay thời gian
sửa chữa tàu còn kéo dài, năng suất khai thác bị hạn chế, trung bình
khoảng 50 – 60% công suất thi
ết kế.
1.3. Sản lượng
Trước 1990, tổng sản lượng mà ngành đóng góp cho xã hội còn nhỏ
bé, các cơ sở sản xuất chưa được đầu tư lớn, vốn lưu động ít, sản phẩm chủ
yếu phục vụ vận tải ven biển. Kể từ năm 1990 cơ chế quản lý của Nhà
nước có biến đổi theo cơ chế của nền kinh tế thị tr
ường, ngành công
nghiệp đóng tàu biển chủ động tìm hiểu thị trường, từng bước khẳng định
vị trí của ngành trong xã hội.
Bảng 2. Tốc độ tăng trưởng sản lượng thời kỳ 1990-2000
Đơn vị tính: Tỷ đồng
STT Năm Giá trị tổng sản lượng thực
hiện
Tốc độ phát triển (%)
1 1996 426 100

23
Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam hiện có các đơn vị trải
dài trên phạm vi cả nước từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Phú Thọ, Hải Dương,
Hà Nội, Nam Định, Đà Nẵng, Khánh Hoà, thành phố Hồ Chí Minh đến
Cần Thơ, trong đó các cơ sở sản xuất chủ yếu được phân chia thành các
khu vực; Hải Phòng – Quảng Ninh; miền Trung và khu vực miền Nam.
(Xem Bảng 3)
Bảng 3. Chi tiết cơ sở chủ yếu
đóng tàu biển của toàn ngành
TT Tên đơn vị Vị trí Hoàn thành Quy mô
1 NM đóng tàu biển Bạch
Đằng
Hải
Phòng
1965 do TQ
giúp xây
dựng
Đóng mới tàu đến
10000T, sửa chữa tàu
đến 8000T
2 Nm đóng tàu biển Hạ
Long
Quảng
Ninh
1976- Ba
Lan giúp
xây dựng
Đóng mới –sửa chữa
tàu đến 3000T
3 N/m sửa chữa tàu biển

Sông Lô
Phú Thọ 1969 Đóng mới –sửa chữa
tàu đến 600T
9 N/m đóng tàu biển Nam Nam Hà 1960 Đóng mới –sửa chữa
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B 24
Hà tàu đến 600T
10 N/m đóng tàu biển Bến
Thuỷ
Nghệ
Tĩnh
1978 Đóng mới –sửa chữa
tàu đến 600T
11 N/m đóng tàu biển
Sông Hàn
Quàng
Nam
1979 Đóng mới –sửa chữa
tàu đến 600T
12 N/m đóng tàu biển Nha
Trang
Khánh
Hoà
1993 Đóng mới –sửa chữa
tàu đến 400T
13 Cty công nghiệp tàu
thuỷ Sài Gòn
TP HCM 1976 Đóng mới tàu đến

nền công nghiệp đóng tàu biển phát triển .
-

Các nhà máy được xây dựng tại những vị trí có đủ điều kiện thuận lợi
về yếu tố địa lý, tự nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng và kinh tế xã hội.
Mạng lưới giao thông thuỷ, bộ khá phù hợp cho quy trình xây dựng và
phát triển một cơ sở công nghiệp lớn phục vụ đóng, sửa chữa tàu của
khu vực. Mặt bằng sản xuất của các nhà máy còn
đủ khả năng để phát
triển các công trình nhà xưởng, đảm bảo cho quá trình khai thác và có
thể mở rộng, nâng cấp đến quy mô và năng lực cao hơn.
- Một số cơ sở đã và đang được nâng cấp so với thiết kế ban đầu như:
+ Nhà máy đóng tàu biển Bạch Đằng sau năm 1975 có nâng cấp đà để
đóng mới được tàu 3.000T, năm 1999 bắt đầu nâng cấp để đóng tàu
biển t
ừ 10.000T trở lên. Hiện nay nhà máy đã đóng thành công tàu vận
tải 6.500T và tàu 11.500T.
+ Nhà máy đóng tàu biển Hạ long đang được nâng cấp để có thể đóng
tàu biển đến 15.000T và sửa tàu đến 30.000T.
+ Các nhà máy đóng tàu biển Bến Kiền, Sông Cấm, Tam Bạc, Nam
Triệu hiện đang được đầu tư để xây dựng thêm cầu tàu, triền tàu, cải tạo
nâng cấp ụ tàu để có thể đóng và sửa chữa được các loại tàu vậ
n tải biển
và pha sông biển đến 5.000T, tàu cao tốc vỏ nhôm, tàu hút bùn, tàu
đánh bắt cá xa bờ loại 300 đến 600cv…
 Hạn chế

Trích đoạn Khu vực miền Nam Vương Đình Lam Định hướng phát triển ngành hàng hải Việt Nam giai đoạn 2001- Kim Chi Đóng tàu Việt Nam những bước tiến mớ Nhược điểm của vận tải bằng đường biển Xu hướng phát triển của thế giới và khu vực tác động đến sự phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status