Trần Thị Hồng Bích
– A7K38B
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia biển, có một nửa biên giới giáp với biển
từ
phía Đông, Nam và Tây Nam bao gồm 3.260km bờ biển từ Bắc vào
Nam
với nhiều vị trí phù hợp cho sự hình thành và phát triển một hệ thống
cảng
biển hiện đại. Đây là những tiềm năng to lớn mang tính chất chiến lược
để
chúng ta đẩy mạnh phát triển kinh tế biển.
Vị trí nước ta cũng kề cận ngay bên nhiều tuyến hàng hải quốc tế,
lại
thuộc khu vực đang có tốc độ phát triển kinh tế cao và thị trường vận tải
biển sôi động, tàu thuyền ra vào thuận tiện, giao lưu với các châu lục
nhanh chóng, dễ dàng. Trong vận hội mới của đất nước, với tốc độ tăng
trưởng kinh tế, ngoại thương được nâng cao, vận tải hàng hoá bằng
đường
biển ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn, vai trò của ngành hàng hải, trong
đó có ngành đóng tàu biển ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ
hết.
Công nghiệp đóng tàu biển, hơn thế nữa, lại là một ngành công
nghiệp
lớn, một ngành công nghiệp tổng hợp, sử dụng nhiều sản phẩm của
nhiều
ngành công nghiệp khác nhau. Do đó, công nghiệp đóng tàu biển phải
trở
thành một ngành công nghiệp mũi nhọn, tạo thị trường cho các ngành
công
nghiệp khác phát triển, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối công
luận này.
Hà Nội tháng 12/2003
2
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP
ĐÓNG TÀU BIỂN VIỆT NAM
I. Đặc điểm và vai trò của ngành công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam
1. Đặc điểm ngành công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam
Việt Nam có hơn 3.260km bờ biển và trên 1 triệu km vùng đặc quyền
kinh tế biển, có hàng vạn ki lô mét đường sông đổ ra biển, đó là một tiềm
năng tạo ra ưu thế đối với khu vực để có thể phát triển kinh tế biển, đặc
biệt là giao thông vận tải biển.
Ngành công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam là một ngành đã có truyền
thống, nghề đóng và sửa chữa tàu đã sớm hình thành ở nước ta từ thời vua
Minh Mạng (từ năm 1838-1839). Đặc biệt từ năm 1960, Đảng và Nhà
nước đã quan tâm xây dựng và phát triển ngành công nghiệp đóng tàu biển.
Ngày nay ngành đã có một lực lượng cơ sở vật chất kỹ thuật, lực lượng lao
động đồng bộ, từng bước kế thừa và phát triển, góp phần không nhỏ vào
quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nước.
Tuy còn nhỏ bé và trang bị công nghệ còn lạc hậu so với các nước
trong khu vực và trên thế giới, song ngành có một tiềm năng lớn - đó là đội
ngũ công nhân lành nghề, đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý dày dặn
kinh nghiệm hàng vạn người. Ngành có các cơ sở đào tạo là Trường đại
học Hàng Hải, các trường trung cấp và trường công nhân kỹ thuật đóng
tàu, có cơ quan khoa học công nghệ chuyên ngành luôn bổ sung cho ngành
lực lượng khoa học công nghệ và và công nhân lành nghề. Lực lượng lao
3
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B
động được xây dựng và trưởng thành khá đồng bộ, bao gồm từ khâu đào
nghề của công nhân thuộc bản thân ngành công nghiệp đóng tàu.
Có thể thấy ngành công nghiệp đóng tàu biển có khả năng hội nhập
được vào thị trường quốc tế, có khả năng hình thành một ngành công
nghiệp và dịch vụ quốc tế ngày một mở rộng, tạo ra một tiềm lực phát triển
lâu bền cho đất nước.
2. Vai trò của ngành công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam
2.1. Ngành đóng tàu biển với sự phát triển công nghiệp Việt Nam
2.1.1. Công nghiệp đóng tàu biển là ngành công nghiệp tạo nên
năng lực trang thiết bị kỹ thuật chủ yếu để thực hiện chiến lược phát
triển kinh tế biển.
Kinh tế biển bao gồm rất nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội
phong phú và đa dạng. Đó là: Khảo sát và nghiên cứu biển, xây dựng các
công trình biển, vận tải biển, khai thác và dịch vụ cảng, thăm dò khai thác
tài nguyên biển, trước hết là thăm dò và khai thác dầu khí, nuôi trồng đánh
bắt và chế biến hải sản, du lịch trên biển…Đó là những hoạt động kinh tế
rộng lớn nhưng lại tiến hành trên biển - một môi trường hết sức khó khăn
phức tạp, đòi hỏi những khối lượng cơ sở vật chất kỹ thuật lớn, có yêu cầu
5
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B
kỹ thuật cao. Để đáp ứng được yêu cầu đó phải có một ngành công nghiệp
mang tính hậu cần, đáp ứng yêu cầu làm chủ, tiến tới cung ứng và đổi mới
được những trang bị kỹ thuật cần có, đó là ngành công nghiệp đóng tàu
biển.
2.1.2. Công nghiệp đóng tàu biển là một ngành công nghiệp lớn,
một ngành công nghiệp góp phần tạo nên thị trường cho các ngành
công nghiệp khác
Công nghiệp đóng tàu biển là ngành công nghiệp tổng hợp, sử dụng
sản phẩm của nhiều ngành công nghiệp khác. Đồng thời, với tư cách là
một ngành công nghiệp liên ngành chế tạo cơ khí, một khi đã phát triển,
công nghiệp đóng tàu biển sẽ lại có khả năng trang bị và cung ứng kỹ thuật
2.2. Ngành đóng tàu biển với phát triển kinh tế-xã hội
Trước đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam, trong bối cảnh khủng
hoảng kinh tế- xã hội của đất nước, nhìn chung giao thông vận tải vẫn là
một khâu yếu kém. Hoạt động của các đơn vị trong ngành mang tính chất
bao cấp và ỷ lại, công nghiệp giao thông vận tải trì trệ, thiếu vốn, thiếu
kinh nghiệm tổ chức quản lý, các tổ chức trong ngành còn trùng
lắp…Chính phủ phải thường xuyên trực tiếp can thiệp vào các khâu của
toàn ngành. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới
toàn diện, mở ra một bước ngoặt mới trong sự nghiệp cách mạng của nước
7
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B
ta, ngành giao thông vận tải đã nhanh chóng nắm bắt những quan điểm,
chủ trương mới của Đảng vận dụng triển khai vào trong ngành với những
chương trình hành động đồng bộ. Những năm tiếp theo, dưới ánh sáng của
các Nghị quyết Đại Hội VII, VII ngành giao thông vận tải tiếp tục đổi mới,
xây dựng, phát triển. Sự đóng góp của ngành giao thông đối với xã hội đã
khẳng định vị trí của ngành trong quá trình phát triển, xây dựng đất nước.
Trong đó có sự đóng góp đáng kể của công nghiệp đóng tàu biển Việt
Nam.
2.2.1. Đối với tăng trưởng kinh tế
Bằng việc tạo ra được những sản phẩm có tính năng kỹ thuật cao như
tàu vận tải 6.500T, tàu cao tốc, tàu chuyên dụng, sửa chữa được 70% số
tấn tàu biển ở trong nước và nhiều tàu nước ngoài, đã hình thành liên
doanh đóng tàu biển lớn với Hàn Quốc…, ngành công nghiệp đóng tàu
biển Việt Nam góp phần làm thay đổi diện mạo nền công nghiệp nước nhà
với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trên 13% (kể từ 1995 đến nay).
Trong cơ cấu đội tàu chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu, đội tàu chở
xăng dầu, số phương tiện được đóng ở trong nước ngày càng được tăng
lên, thay thế cho phương tiện thuê, mua của nước ngoài. Điều này giúp
quốc gia tiết kiệm được một lượng ngoại tệ đáng kể.
9
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B
II. Vài nét về quá trình phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu biển
Việt Nam từ 1955 đến 1990
Trong các loại hình vận tải, vận tải thuỷ là loại hình vận tải kinh tế nhất
vì vậy các quốc gia có ưu thế về đường sông biển đều muốn phát triển loại
hình vận tải này. Việt Nam từ bao đời nay là một quốc gia biển. Đảng,
Chính phủ luôn chú trọng phát triển vận tải thuỷ. Và để phát triển vận tải
thuỷ khâu then chốt là phải phát triển các phương tiện vận tải. Quá trình
phát triển các loại phương tiện vận tải thuỷ gắn liền với quá trình phát triển
kinh tế của đất nước. Chúng ta có thể điểm lại các giai đoạn đó như sau:
1. Thời Kỳ 1955 - 1960
Đất nước vừa ra khỏi chiến tranh. Trên các tuyến sông biển toàn
miền Bắc, phương tiện vận tải hết sức nghèo nàn, lạc hậu, chỉ có một ít ca
nô, sà lan cũ chạy trên một vài tuyến đi Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định…,
trong khi yêu cầu vận tải phục vụ công cuộc khôi phục kinh tế đặt ra bao
nhiêu vấn đề cần giải quyết. Nhiệm vụ của ngành đóng tàu trong giai đoạn
này chỉ là lắp ráp các phân đoạn, tổng đoạn sà lan, tàu lai, tàu cuốc có sẵn
từ Liên Xô (cũ), Trung Quốc, CHDC Đức (cũ) chuyển sang. Cơ sở sản
xuất của ngành chỉ gồm 4 Xưởng đóng tàu biển và Xưởng cơ khí Hải
Phòng (tiền thân của nhà máy đóng tàu biển Bạch Đằng ngày nay) đợt đầu
chuẩn bị khởi công. Bộ phận thiết kế tàu thuỷ mới bắt đầu được thành lập
theo đúng “bài bản” của công nghệ đóng tầu mới mà ta đã bước đầu tiếp
thu từ Liên Xô, Trung Quốc. Đây là thời kỳ tập dượt của công nghiệp đóng
tàu biển Việt Nam .
2. Thời kỳ 1961 - 1970
10
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B
Giai đoạn này công nghiệp đóng tàu biển vẫn chủ yếu là sửa chữa,
khôi phục tàu cũ. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ GTVT, Cục vận tải
Nam, chứng minh cho ý chí tự lực tự cường trong việc chiến tranh không
cân sức nhằm đảm bảo giao thông, chi viện cho tiền tuyến. Trong giai đoạn
này chúng ta phải tập trung phần lớn năng lực phục vụ cho việc sản xuất
các phương tiện vận tải thuỷ thời chiến, đồng thời phải chuẩn bị cho nhu
cầu phương tiện vận tải thuỷ thời bình. Một số sản phẩm tiêu biểu cho thời
kỳ này như: Tàu cao tốc phóng lôi cho Hải Quân, các loại sản phẩm rút
gọn kích thước cho phù hợp với thời chiến (ca nô lai phà, ca nô con cóc, ca
nô con nòng nọc…), các loại sà lan 30 – 100T, thuyền vận tải biển gắn
máy 50 tấn… làm tiền đề cho việc chế tạo loạt tàu “Tự lực” hơn 500 chiếc
sau này. Đặc biệt các sản phẩm đảm bảo giao thông trên các bến phà, bến
sông được thiết kế và chế tạo hết sức đa dạng. Đó là máy kéo lội nước, phà
ghép, phà truyền lực, sariô truyền lực…được thử nghiệm và đưa vào hoạt
động ở ngoài địa phương, nhất là trên tuyến lửa Khu IV. Hàng loạt tàu
khách (trên 100 khách), hàng loạt ca nô, tàu lai trong sông và lai phà ra
đời.
Nhìn chung, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, hàng trăm sản phẩm
mang nặng nét đặc trưng về trí tuệ và mang lòng dũng cảm do những
người kỹ sư, công nhân ngành đóng tàu sáng tạo ra và góp sức cùng toàn
dân, toàn quân ta chiến thắng kẻ thù trên mặt trận GTVT với ý chí quyết
thắng “Địch phá ta cứ đi”.
12
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B
Trong giai đoạn này, tổng sản lượng mà ngành đóng góp cho đất
nước còn quá nhỏ bé, chủ yếu là phục vụ cho sự nghiệp GTVT thời chiến.
Chất lượng sản phẩm chưa được coi trọng, công nghệ còn thô sơ. Tuy
nhiên, số cơ sở sản xuất đã được tăng lên: Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng
đã bắt đầu đưa vào sử dụng; một số xưởng đóng tàu được nâng cấp lên
thành nhà máy đóng tàu như: Nhà máy đóng tàu Tam Bạc, Nhà máy đóng
tàu Sông Cấm, Nhà máy đóng tàu Sông Lô…
3. Thời kỳ 1971 - 1980
công nhân lành nghề được đào tạo tại các nước có nền công nghiệp đóng
tàu biển phát triển trong khối XHCN được bổ sung cho ngành ngày một
nhiều. Trong giai đoạn này, nhà máy đóng tàu biển Hạ Long có quy mô
đóng mới đến tàu 3.000T do Ba Lan giúp ta xây dựng cùng với đội ngũ thợ
lành nghề do Bạn đào tạo đã đi vào sản xuất. Nhà máy sữa chữa tàu biển
Phà Rừng do Phần Lan giúp đỡ đã bắt đầu khởi công xây dựng. Các cơ sở
đóng tàu biển ở miền Nam tuy còn khá khiêm tốn nhưng đã được củng cố
và bước đầu bắt nhịp với tiến triển chung của toàn ngành.
4. Thời kỳ 1981 - 1990
Đây là thời kỳ khó khăn nhất của nền công nghiệp Việt Nam nói
chung và của ngành công nghiệp đóng tàu biển nói riêng, nhất là giai đoạn
từ 1985 khi “cơn bão” giá lương tiền báo hiệu cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn diện của đất nước. Sau các chỉ thị, Nghị định 25CP, 217, 176…là sự
thay đổi cơ chế, thay đổi tổ chức, sắp xếp lại đội ngũ và thay đổi chế độ
14
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B
tiền lương. Vốn cho sản xuất công nghiệp lâm vào tình trạng bế tắc, ngành
cơ khí hầu như hoạt động cầm chừng. Tuy vậy ngành công nghiệp đóng
tàu biển cũng đã sản xuất được một số sản phẩm với tiến bộ vượt bậc: tàu
khách 220 chỗ ngồi, tàu hàng 1.000T – 3.850T, tàu chở xăng dầu 400, các
loại tàu kéo, tàu kéo đẩy, tàu lai, tàu khảo sát, các loại phà chở khách, phà
qua sông, phà tự hành…
15
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B
CHƯƠNG II.
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐÓNG TÀU BIỂN
VÀ VAI TRÒ CỦA NGÀNH NÀY TRONG CHUYÊN CHỞ HÀNG
HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
I. Tình hình phát triển ngành công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam trong
những năm gần đây
3.500T. Năm 2000 nhà máy đóng tàu biển Bạch Đằng đã đóng mới tàu
hàng 6.500T số 2 và tàu biển 11.500T, Nhà máy đóng tàu biển Hạ Long
chuẩn bị đóng tàu biển 6.500T.
Để có thể đáp ứng với nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước ngành
công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam đã triển khai các công ty liên doanh
có vốn đầu tư nước ngoài như Công ty HYUNĐAI – VINASHIN sau khi
hoàn thành thi công giai đoạn một có năng lực sửa chữa tàu trọng tải đến
400.000T. Công ty liên doanh đang tích cực chuẩn bị đầu tư giai đoạn 2 để
tạo ra năng lực đóng mới tàu biển có trọng tải đến 100.000T vào những
năm gần đây.
1. Sản phẩm và năng lực sản xuất
1.1. Đóng mới
Trong những năm qua, các nhà máy và cơ sở đóng tàu biển của ngành
công nghiệp đóng tàu biển đã đóng mới được khoảng 320 phương tiện, chủ
17
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B
yếu là các tàu hàng cỡ nhỏ, tàu lai, tàu đẩy, sà lan…với tổng trọng tải
127.292DWT, tổng công suất khoảng 407.551cv, tuổi bình quân khoảng
6,5 tuổi. Ngành công nghiệp đóng tàu biển trong nước đến nay chỉ mới đáp
ứng chưa đầy 20% nhu cầu cần đóng mới các phương tiện thuỷ. (Xem
bảng 1)
Qua thống kê cho thấy sản phẩm của ngành công nghiệp đóng tàu
biển Việt Nam ngoài mục đích phục vụ an ninh quốc phòng thì sản phẩm
đóng mới cung cấp cho thị trường theo hướng phục vụ vận tải đường biển
của kinh tế Việt Nam. Trong tổng sản lượng đóng mới hàng năm, lượng
tàu phục vụ cho vận chuyển hàng hoá bằng đường biển chiếm khoảng 20%
tổng sản lượng. Phương tiện chở sản phẩm dầu nhập khẩu, dầu thô khai
thác trong nước chưa được chú trọng mặc dù nhu cầu thị trường này là rất
lớn. Hiện nay việc vận chuyển dầu thô được thực hiện với các phương tiện
vận chuyển chủ yếu thuê của nước ngoài, điều này làm giảm nguồn lợi
- Tàu hút bùn
- Tàu tuần tra trên sông
- Tàu thả phao
- Cần cẩu nổi tự hành 600T.
1
4
5
4
1
4
Tàu phục vụ an ninh _ quốc phòng:
- Tàu tuần tra cao tốc.
- Tàu vận tải quân sự có sức chở 400 -600T
- Tàu vận tải quân sự có sức chở trên 1.000T
- Tàu cao tốc vỏ thép cường độ cao.
- Tàu vận tải đổ bộ.
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B
Trước tiên phải kể đến sự kiện nhà máy đóng tàu biển Bạch Đằng đóng
mới thành công tàu chở hàng đa năng 11.500 tấn VINASHIN SUN-sản
phẩm công nghiệp trọng điểm quốc gia lớn nhất, đạt tiêu chuẩn quốc tế, do
cơ quan đăng kiểm NK (Nhật Bản) nghiệm thu và cấp giấy chứng nhận
xuất xưởng. Con tàu này được thi công trong thời gian 9 tháng, một kỷ lục
nhanh nhất từ trước đến nay ở Việt Nam về thời gian đóng tàu biển, đặt
biệt, thời gian lắp đặt máy móc thiết bị, chạy thử và bàn giao tàu chưa đầy
2 tháng.
Sản phẩm tiêu biểu thứ hai là công trình hoán cải tàu RAYNA 32,000
tấn thành tàu Bạch Đằng Giang chở hàng chuyên dụng do Công ty tư vấn
thiết kế công nghiệp tàu thuỷ thiết kế, ba đơn vị đồng thi công là Công ty
công nghiệp tàu thuỷ Nam Triệu, nhà máy đóng tàu biển Bạch Đằng và
công ty đóng tàu biển và công nghiệp hàng hải Sài Gòn.
vị trí của ngành trong xã hội.
Bảng 2. Tốc độ tăng trưởng sản lượng thời kỳ 1990-2000
Đơn vị tính: Tỷ đồng
21
STT
Năm
Giá trị tổng sản lượng thực
hiện
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B
Nguồn: Vinashin
Trong đó tỷ trọng các năm 2001 và 2002 của các hoạt động như sau:
- Đóng mới và sửa chữa: 57%.
- Dịch vụ khác (phá dỡ tàu cũ, thương mại…): 43%.
Theo số liệu thống kê, trong những năm gần đây, ngành công nghiệp
đóng tàu biển Việt Nam đã có tiến bộ đáng kể về tăng trưởng giá trị sản
xuất hàng năm. Xu hướng tăng trưởng sản xuất của ngành là phù hợp với
xu hướng phát triển: công nghiệp đóng tàu biển thế giới đang chuyển về
các nước Châu Á. Hơn nữa công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam bước đầu
đã được Nhà nước quan tâm đầu tư chiều sâu, mở rộng các cơ sở sản xuất,
sắp xếp lại và ổn định tổ chức sản xuất trên phạm vi cả nước. Về cơ bản,
trong thời kỳ 1990 – 2000 ngành đã đạt được các chỉ tiêu giá trị sản lượng
đặt ra với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 25,6% (tính từ 1996 –
2000 chưa kể công ty liên doanh Hyunđai – Vinashin)
2. Quy mô sản xuất và sử dụng lao động
2.1. Các cơ sở sản xuất.
22
2
1997
509
119.5
Long
Quảng
Ninh
1976- Ba
Lan giúp
xây dựng
Đóng mới –sửa chữa
Trần Thị Hồng Bích – A7K38B
Nguồn: Vinashin
a. Khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh.
Hải Phòng – Quảng Ninh là những nơi có các nhà máy đóng tàu biển
đầu tiên của miền Bắc. Cơ sở vật chất kỹ thuật các nhà máy tương đối đầy
đủ. Khu vực này là nơi đóng mới và sửa chữa tàu biển chủ yếu của Việt
Nam . Năng lực sửa chữa đạt khoảng 85 – 91 chiếc/ năm chiếm 42% tổng
năng lực hiện có của cả nước; đóng mới 5 – 6 chiếc/năm (cỡ tàu 5.000 –
10.000T)- và đây cũng chính là sản lượng và năng lực đóng tàu biển hiện
nay của cả nước.2
Thế mạnh
Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam – Tham luận về công tác quản lý sản xuất, tại hội nghị
tổng kết công tác năm 2002 và triển khai kế hoạch năm 2003
24
Hà
tàu đến 600T
10
N/m đóng tàu biển Bến
Thuỷ
Nghệ
Tĩnh
1978
Đóng mới –sửa chữa