Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Vũ Cương
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là : Đào Duy Hà
Sinh Viên lớp : Kinh tế kế hoạch 47A
Khoa : Kế hoạch và phát triển
Sau thời gian thực tập ở Ban Kinh doanh và Đối ngoại, thuộc Tập đoàn
Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của Ths. Vũ Cương, tôi
đã lựa chọn đề tài “Giải pháp phát triển ngành CNPT thuộc ngành CNĐT
Việt Nam trong giai đoạn 2010-2015” để làm chuyên đề thực tập của mình.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập, không hề có sự sao
chép của bất cứ ai khác, mọi thông tin, tài liệu mang tính chất tham khảo đều
được nghi rõ nguồn ngốc.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nhà trường và Khoa!
Hà Nội, ngày tháng năm 2009
Sinh viên
Đào Duy Hà
SVTH: Đào Duy Hà Lớp Kế hoạch – Phát triển 47A
1
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Vũ Cương
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNPT Công nghiệp phụ trợ
CNĐT Công nghiệp đóng tàu
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
CNTT Công nghiệp tàu thủy
CP Cổ phần
FDI Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Tên bảng Trang
SVTH: Đào Duy Hà Lớp Kế hoạch – Phát triển 47A
2
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Vũ Cương
năm 2007 – 2008.
61
Bảng 3.1: Kế hoạch doanh thu, đầu tư và lao động của ngành
CNĐT giai đoạn 2009-2015
68
Bảng 3.2: Tiến trình nội địa hóa giai đoạn 2009-2015 70
Bảng 3.3: Kế hoạch doanh thu, nhu cầu lao động, nguồn vốn của
ngành CNPT đến 2015
70
Tên hình Trang
Hình 1.1: Sơ đồ khái niệm các ngành CNPT 6
Hình 1.2: Sơ đồ các ngành CNPT Việt Nam 7
Hình 1.3: Sơ đồ các ngành CNPT Việt Nam 13
Hình 1.4 : Chuỗi giá trị của một ngành công nghiệp 14
SVTH: Đào Duy Hà Lớp Kế hoạch – Phát triển 47A
3
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Vũ Cương
Hình 1.5: Mối quan hệ giữa các ngành CNPT với nhau và với
ngành CNĐT
17
Hình 2.1: Cơ cấu đóng góp trong ngành CNĐT giai
đoạn2000-2008
34
Hình 2.2: Tổng giá trị vốn đầu tư FDI vào ngành CNPT đóng tàu
Việt
53
Hình 3.1: Kế hoạch doanh thu, đầu tư và lao động của ngành
CNĐT giai đoạn 2009-2015
68
LỜI MỞ ĐẦU
Theo như phân tích ở trên thì lý do mà ngành CNPT cho ngành CNĐT
ở nước ta chưa phát triển là vì thiếu vốn và xuất phát điểm muộn. Vậy qua đề
tài này tôi muốn kiểm chứng lại các lý do trên và khảo sát xem còn có những
lý do nào khác nữa. Từ đó, tôi sẽ đưa ra những giải pháp thiết thực để ngành
CNPT này có thể phát triển hơn nữa trong những năm tới.
3. Phương pháp nghiên cứu.
- Phạm vi xử lý của đề tài:
• Về nội dung: Đề tài chỉ áp dụng cho ngành CNPT cho ngành
CNĐT.
• Về không gian: Đề tài viết trong phạm vi nước Việt Nam.
SVTH: Đào Duy Hà Lớp Kế hoạch – Phát triển 47A
5
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Vũ Cương
• Về thời gian: Đề tài viết cho giai đoạn từ 2010-1015.
- Phương pháp nghiên cứu vấn đề:
Trong khi nghiên cứu vấn đề, phương pháp nghiên cứu sẽ là thu thập
tài liệu thống kê, số liệu thống kê, các báo cáo, các bài viết, các nghiên cứu
hiện có, so sánh dọc theo thời gian, so sánh ngang với các nước khác và so
sánh chéo với các ngành CNPT khác. Từ đó tổng hợp, nhận xét và đưa ra
những giải pháp thực hiện cho đề tài.
- Kết quả dự kiến và đóng góp của đề tài:
Dự kiến sau khi kết thúc quá trình nghiên cứu, đề tài có thể chỉ ra thực
trạng đang tồn tại của ngành CNPT thuộc ngành CNĐT của nước ta, từ đó tìm
ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và rút ra được những giải pháp thiết
thực nhất cho sự phát triển của ngành đến năm 2015.
Qua đề tài này, tôi mong muốn có thể đóng góp một số những giải pháp
thiết thực và khả thi có thể áp dụng vào thực tế để đưa ngành CNPT thuộc
ngành đóng tàu phát triển lên một tầm cao mới. Tôi cũng mong đề tài sẽ là
một tài liệu tham khảo hữu ích cho chính phủ, các cơ quan chức năng và các
bạn sinh viên muốn tìm hiểu vấn đề này.
SVTH: Đào Duy Hà Lớp Kế hoạch – Phát triển 47A
7
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Vũ Cương
công nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh kiện và
vốn cho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử...)”.
Theo phòng Năng lượng Hoa Kỳ trong ấn phẩm Các ngành CNPT:
công nghiệp của tương lai được xuất bản năm 2004 thì: “CNPT là những
ngành sử dụng nguyên vật liệu và các quy trình cần thiết để định hình và chế
tạo ra sản phẩm trước khi chúng được lưu thông đến ngành công nghiệp sử
dụng cuối cùng (end-use indutries)”. Do đặc thù của cơ quan này là một cơ
quan quản lý về năng lượng nên họ tập trung chủ yếu vào mục tiêu tiết kiệm
năng lượng. Do đó, CNPT được hiểu là những ngành tiêu tốn nhiều năng
lượng như than, luyện kim, thiết bị nhiệt, hàn, đúc…
Còn theo cách hiểu của Văn phòng phát triển CNPT Thái Lan (Bureau
of Supporting Industries Development - BSID): “CNPT là các ngành công
nghiệp cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ
kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản (nhấn mạnh các ngành cơ khí, máy
móc, linh kiện cho ô tô, điện và điện tử là những ngành CNPT quan trọng)”.
Mặt khác, theo Hội đồng đầu tư Thái Lan phân loại các ngành công
nghiệp sản xuất thành phẩm thành 3 bậc: lắp ráp; sản xuất linh kiện và phụ
kiện; và các ngành CNPT. Năm sản phẩm chính của ngành CNPT là gia công
khuôn mẫu, gia công áp lực, đúc, cán và các gia công nhiệt
Theo Trần Văn Thọ (2006), CNPT là khái niệm chỉ toàn bộ những sản
phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính.
Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để
sơn, nhuộm,..., và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những
nguyên liệu sơ chế. Theo ông, sản phẩm CNPT thường được sản xuất với quy
mô nhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do đó, trong ngành xe
hơi chẳng hạn, các bộ phận như đầu máy xe, thân xe, bánh xe... thường không
được kể là CNPT vì chủ yếu do các công ty lớn sản xuất với quy mô lớn.
Công nghệ - thiết bị
Ép Cán
Đúc Dập
Xử lý
Vật liệu
Nguyên liệu thô
10
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Vũ Cương
Hình 1.2: Sơ đồ các ngành CNPT Việt Nam
Nguồn: “Xây dựng và tăng cường ngành CNPT tại Việt nam” (Báo cáo điều
tra của KYOSHIRO ICHIKAWA - Nhà tư vấn đầu tư cao cấp của Cục Xúc tiến
Ngoại thương Nhật Bản (JETRO))
Sản xuất phụ trợ với những ngành công nghiệp khác nhau cũng có
nhiều cấp bậc khác nhau. Đồng thời giữa các nhà sản xuất phụ trợ cũng
hình thành nhiều mối quan hệ hợp tác kinh doanh với nhiều thứ bậc
khác nhau.
1.1.2. Đặc điểm của ngành CNPT
Trên thế giới xuất hiện rất nhiều quan điểm về đặc thù của ngành
CNPT. Nhưng chúng đều xoay quanh hai quan điểm sau:
- Quan điểm 1: Theo lý thuyết kinh tế phát triển về công nghiệp thượng
nguồn và hạ nguồn cho rằng ngành CNPT là những ngành thâm dụng vốn, đòi
hỏi cao về chất lượng lao động, yêu cầu nghiêm ngặt về công nghệ và tiêu
chuẩn kỹ thuật. Điều này khiến CNPT ở các nước đang phát triển kém tính
cạnh tranh. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các nước đang phát triển thường
SVTH: Đào Duy Hà Lớp Kế hoạch – Phát triển 47A
Ngành xe máy
Ngành ô tô
Ngành điện tử (Âm thanh, ti vi, bán dẫn…)
Ngành điện (gia dụng)
Ngành đóng tàu
Ngành CNPT là ngành có thể sản xuất chỉ một hoặc một số chi tiết sản
phẩm nên hoàn toàn có thể sản xuất với quy mô nhỏ. Doanh nghiệp có thể
SVTH: Đào Duy Hà Lớp Kế hoạch – Phát triển 47A
12
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Vũ Cương
chọn sản xuất các linh kiện có chất liệu từ cao su, nhựa tổng hợp, thép…hoặc
chỉ một linh kiện cụ thể của từng chất liệu đó.
Ngành CNPT là ngành có yêu cầu trình độ chuyên môn hóa cao vì các
linh kiện đòi hỏi về chất lượng cao và đặc biệt là yêu cầu về mặt kỹ thuật phải
hết sức chính xác để có thể lắp ráp lại với nhau thành một sản phẩm hoàn
chỉnh. Chính vì vậy, các doanh nghiệp thường chỉ đảm nhiệm sản xuất một
hoặc một số chi tiết sản phẩm. Điều này cũng có nghĩa là các doanh nghiệp
tham gia vào lĩnh vực này thường có quy mô sản xuất vừa và nhỏ.
Mặt khác, để tham gia vào ngành CNPT, không đòi hỏi doanh nghiệp
cần có năng lực quá lớn. Do đó, có rất nhiều doanh nghiệp tham gia, mà nhu
cầu trong nước thì có hạn nên quy mô mỗi doanh nhiệp thường nhỏ.
1.1.2.3. Là ngành rất đa dạng và phong phú về chủng loại sản phẩm.
Một sản phẩm của ngành công nghiệp chính cần rất nhiều linh kiện,
phụ kiện, chi tiết khác nhau. Ví dụ để sản xuất ra một con tàu cần rất nhiều
linh kiện, phụ kiện khác nhau như: thép vỏ tàu, động cơ, hộp số, hệ trục, chân
vịt, bánh lái, neo, cầu lớn, nắp hầm hàng, nội thất tàu thuỷ, tủ bảng điện, thiết
bị trên boong… nên ngành đa dạng về chủng loại.
Nước ta có rất nhiều ngành công nghiệp chính như đóng tàu, ô tô, xe
máy, da giày… Mỗi ngành lại cần một tập các chi tiết bộ phận khác nhau nên
sản phẩm ngành càng phong phú hơn.
Ngày nay, nhu cầu vận tải đường thủy ngày càng lớn, yêu cầu về chất
lượng, hình thức ngày càng cao, do đó các ngành chính luôn có sự cải tiến,
phát triển sản phẩm nên yêu cầu về các sản phẩm phụ trợ cũng phát triển theo.
1.1.2.4. Ngành CNPT là ngành đòi hỏi sự chuyên môn hóa cao.
Do đặc thù của ngành CNPT là ngành sản xuất các linh kiện, phụ kiện,
tiền đề thúc đẩy CNPT trong nước hình thành và phát triển. Mặt khác, sự phát
SVTH: Đào Duy Hà Lớp Kế hoạch – Phát triển 47A
14
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Vũ Cương
triển mạnh mẽ của CNPT trong nước sẽ làm tăng sức hấp dẫn trong thu hút
FDI.
Tuy nhiên, để các nước đang phát triển xây dựng thành công ngành
CNPT trong nước là vấn đề không đơn giản. Theo tiêu chuẩn sản xuất của các
nước tiên tiến, tính cạnh tranh phụ thuộc đồng thời vào 3 yếu tố: chất luợng,
chi phí và giao hàng (QCD – Quality, Cost, Delivery). Nhưng với trình độ
hiện có của mình, các nước đang phát triển không dễ đáp ứng được cả ba điều
này. Một khi chất lượng đã được đảm bảo, thì vẫn cần cải thiện hai yếu tố sau
là chi phí và giao hàng. Để giảm chi phí và đẩy nhanh tiến độ giao hàng, đối
với các nhà đầu tư nước ngoài, việc phát triển CNPT ở nước sở tại là rất quan
trọng, họ sẵn sàng hỗ trợ và đầu tư nếu cần thiết.
Như các nhà nghiên cứu đã tổng kết, quá trình xây dựng và phát triển
CNPT ở các nước đang phát triển có thể chia thành ba giai đoạn:
Giai đoạn 1 là thời kỳ khởi đầu. Khi chưa có FDI đi vào, trong nước
thường đã có ít nhiều cơ sở CNPT cung cấp linh phụ kiện cho các đơn vị sản
xuất, lắp ráp thành phẩm. Đến khi có FDI, một số cơ sở CNPT sẽ phát triển
mạnh hơn, nếu tham gia được vào mạng lưới sản xuất của các doanh nghiệp
FDI.
Giai đoạn 2 là khi FDI tăng mạnh khiến nhu cầu về linh phụ kiện gia
tăng, làm tăng nhanh số lượng các cơ sở CNPT trong nước phục vụ các doanh
nghiệp FDI. Những cơ sở nào sớm hình thành mối liên kết với doanh nghiệp
FDI sẽ được hỗ trợ về nhiều mặt (đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp thiết bị kỹ
thuật, chuyển giao công nghệ,...) và sẽ có bước tiến vượt bậc.
Giai đoạn 3 là thời kỳ phát triển cao trào. Sau một thời gian hoạt động,
quy mô sản xuất của các doanh nghiệp FDI được mở rộng, tạo ra thị trường
ngày càng lớn cho CNPT, theo đó nhiều nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể
năm 2006.
Như vậy CNPT được đánh giá là một trong bốn nhân tố cơ bản có tác
động qua lại với nhau và tạo nên năng lực cạnh tranh của ngành sản phẩm
chính. Nếu một ngành sản phẩm có các ngành CNPT trong nước phát triển thì
ngành sản phẩm ấy có thể sử dụng tại chỗ mà không phải nhập khẩu, tiết kiệm
chi phí vận chuyển, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh cho
ngành.
Bốn yếu tố cơ bản này luôn luôn có sự hỗ trợ qua lại lẫn nhau tạo nên
tính bền vững cho ngành.
(iii) CNPT tạo ra giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị nằm trong chu
trình sáng tạo ra giá trị của ngành chính.
SVTH: Đào Duy Hà Lớp Kế hoạch – Phát triển 47A
Chiến lược, cơ cấu
tổ chức doanh
nghiệp và môi
trường cạnh tranh
Sự phát triển của các
ngành hỗ trợ và có
liên quan khác
Sự sẵn có và chất
lượng các nhân tố
sản xuất
Đặc điểm của cầu
trong nước về sản
phẩm ngành
17
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Vũ Cương
Chuỗi giá trị của một ngành công nghiệp trong vòng đời của một sản
phẩm được biểu diễn theo sơ đồ sau:
Hình 1.4 : Chuỗi giá trị của một ngành công nghiệp
giai đoạn chủ chốt trong quá trình tạo ra giá trị của sản phẩm như giai đoạn A,
B, E, F. Còn các khâu C, D họ có thể chuyển giao cho các đối tác ở nước sở
tại. Điều đó mở cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước có thể thu hút được
nhiều FDI hơn để phát triển ngành CNPT.
(vi) Phát triển CNPT góp phần thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu theo
hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
Ngành CNPT cũng là một ngành công nghiệp bình thường. Và phát
triển CNPT cũng có nghĩa là phát triển công nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Muốn phát triển ngành
CNPT, cần đầu tư mở rộng sản xuất, đầu tư trang thiết bị, công nghệ cao, đi
kèm theo đó là cần đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ chuyên môn để vận
hành và thích ứng với nhu cầu phát triển đó. Điều này làm cho mức độ công
nghiệp hóa của ngành công nghiệp được tăng cao hơn.
Mặt khác, khi ngành CNPT phát triển làm cho tổng giá trị sản lượng
của ngành công nghiệp nói chung cũng tăng lên. Một phần nguồn lực của đất
nước đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (chủ yếu là
nguồn nhân lực) sẽ chuyển sang phục vụ cho khối công nghiệp với trình độ
cao hơn. Như vậy, phát triển CNPT góp phần thúc đẩy việc chuyển dịch cơ
cấu theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
SVTH: Đào Duy Hà Lớp Kế hoạch – Phát triển 47A
19
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Vũ Cương
(vii) Ngoài ra, CNPT cũng là ngành thu hút và sử dụng lao động, góp
phần làm giảm áp lực thất nghiệp, phù hợp với các nước đang phát triển.
Việt Nam có cơ cấu lao động trẻ, số lượng đông, tỷ lệ qua đào tạo thấp,
giá rẻ nhưng có ý thức trong công việc, cần cù nên có thể sử dụng trong
ngành CNPT. Điều này sẽ làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao mức sống cho
người dân, đảm bảo an ninh xã hội.
Tuy nhiên, ngành CNPT là ngành thâm dụng vốn và đòi hỏi chất lượng
nguồn nhân lực khá cao nên CNPT không được coi là một ngành chủ lực
nhau nhưng lại độc lập tương đối với nhau:
Hình 1.5: Mối quan hệ giữa các ngành CNPT với nhau và với
ngành CNĐT.
Nguồn: “Xây dựng và tăng cường ngành CNPT tại Việt nam” (Báo cáo điều
tra của KYOSHIRO ICHIKAWA - Nhà tư vấn đầu tư cao cấp của Cục Xúc tiến
Ngoại thương Nhật Bản (JETRO))
SVTH: Đào Duy Hà Lớp Kế hoạch – Phát triển 47A
CNPT sản xuất thép (thép
hình, thép tấm, thép ống..)
CÔNG
NGHIỆP
ĐÓNG
TÀU
CNPT sản xuất động cơ.
CNPT sản xuất nội thất tàu
thủy.
CNPT sản xuất hộp số, hệ
trục, chân vịt, bánh lái…
21
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Vũ Cương
Tuy nhiên, chúng ta không thể phát triển đồng bộ tất cả các các ngành
CNPT ở trên ở giai đoạn hiện tại mà cần có sự ưu tiên để đạt hiệu quả cao
nhất có thể.
1.2.1.2. Đặc điểm.
Ngành CNPT đóng tàu cũng có đầy đủ các đặc điểm chung của ngành
CNPT như trên. Bên cạnh đó, nó cũng có những điểm đặc trưng của riêng
mình:
Ngành CNĐT là một ngành có hình thức sản xuất rất đặc biệt. Đó là
sản xuất đơn chiếc theo các đơn đặt hàng, không giống như các ngành khác
như điện tử, ô tô, xe máy, dệt may… sản xuất hàng loạt. Chính vì vậy, ngành
t-1
y
t
− y
t-1
Tốc độ: G
t
= ──────x100%
y
t-1
Trong đó:
G
t
: là tốc độ tăng trưởng ngành
Y
t
: là giá trị sản xuất của ngành năm t
Y
t-1
: là giá trị sản xuất của ngành năm (t-1)
Tốc độ và quy mô tăng trưởng là tiêu chí cơ bản để đánh giá sự phát
triển của một ngành, một lĩnh vực hay của cả nền kinh tế. Nó được thể hiện
thông qua quy mô có cao hay không, tốc độ tăng trưởng có nhanh và ổn định
hay không. Nếu đạt được hai điều kiện này thì có nghĩa ngành CNPT đang
phát triển khá bền vững.
1.2.2.2. Tỷ lệ nội địa hóa của ngành.
Thuật ngữ "tỷ lệ nội địa hóa" được sử dụng theo phạm vi rộng hẹp rất
khác nhau, tùy theo mục đích sử dụng và theo ngữ cảnh. Ở đây, thuật ngữ "tỷ
lệ nội địa hóa" (local procurement ratio) được dùng để chỉ tỷ lệ của các linh
phụ kiện sản xuất trong nước và được đưa vào sản phẩm cuối cùng xuất
Sử dụng nhiều lao động trong nước với giá thành rẻ, ngành CNPT đóng
tàu có thể giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, tạo công ăn việc
làm, góp phần đảm bảo cuộc sống người lao động.
1.2.2.4. Quy mô tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển của ngành.
Vốn là yếu tố cơ bản, quyết định đến sự phát triển của ngành CNPT
đóng tàu. Quy mô và tốc độ tăng vốn đầu tư được tính dựa theo công thức sau:
Quy mô tăng vốn đầu tư: ∆I = I
1
– I
0
SVTH: Đào Duy Hà Lớp Kế hoạch – Phát triển 47A
24
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Vũ Cương
I
t
− I
(t-1)
Tốc độ tăng vốn đầu tư: g
I
= ──────x100%
I
(t-1)
Trong đó: I
t
: Tổng vốn đầu tư phát triển năm t.
I
(t-1):
Tổng vốn đầu tư phát triển năm (t-1)