BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trêng §¹i häc kinh tÕ quèc d©n
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Đề tài:
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS
CỦA VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS. ĐẶNG ĐÌNH ĐÀO
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THÀNH LUÂN
MSV : CQ532365
Lớp : QTKD Thương Mại 53A
Hµ Néi - 2014
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1, Lý do và ý nghĩa của đề tài:
Bối cảnh quốc tế hóa và toàn cầu hóa cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa
học kỹ thuật đã mang đến cho mỗi đất nước những cơ hội tham gia và thị trường
toàn cầu. Trên thế giới hiện nay,hoạt động thương mại quốc tế diễn ra sôi động với
mức tăng trưởng ngày càng cao. Các nước phát triển đã khai thác các hoạt động này
để phục vụ cho tăng trưởng kinh tế quốc gia. Còn các nước đang phát triển (trong
đó có Việt Nam) lại tận dụng các điều kiện đó thông qua việc phát triển nền kinh tế
hướng về xuất khẩu .
Nhưng để vận chuyển hàng hóa (nguyên, vật liệu và thành phẩm) từ địa điểm
này sang địa điểm khác đặc biệt là giữa các quốc gia một cách nhanh chóng với chi
phí thấp và độ an toàn cao thì việc ứng dụng logistics là rất quan trọng.
Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa đang diễn ra rất
sôi động và có đóng góp quan trọng cho việc phát triển kinh tế. Cùng với sự mở
rộng của hoạt động thương mại quốc tế, dịch vụ logistics cũng đã được hình thành
và bước đầu phát triển tại Việt Nam. Sự phân công lao động ngày càng mạnh mẽ đã
hình thành nên những công ty chuyên cung cấp dịch vụ logistics.
Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) và mở cửa 11
3
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP
LOGISTICS
1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp Logistics
1.1. Khái niệm:
1.1.1. Doanh nghiệp
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 (Điều 4), doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo
quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
1.1.2. Logistics
Trước hết về từ “logistics”, Logistics có người dịch ra là hoạt động hậu cần
bởi nó bắt nguồn từ quân sự hay lại nói đó là dịch vụ giao nhận kho vận. Tuy nhiên,
tất cả các cách dịch đó đều chưa thỏa đáng, không phản ánh đúng bản chất của
logistics bởi nó là một từ bao hàm nghĩa quá rộng giống như trường hợp của từ
marketing vậy. Cách tốt nhất là giữ nguyên là “logistics”.
Về khái niệm, theo Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á – Thái Bình Dương
(ESCAP) thì: Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và chu chuyển hàng
hóa từ điểm xuất phát đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các
hoạt động kinh tế. Bên cạnh đó, ta có thể kể đến các khái niệm khác về Logistics
như:
- Logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu
chuyển và lưu kho có hiệu quả hàng hóa dịch vụ và các thông tin liên quan từ nơi
xuất xứ tới nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng (World
Marintime University- Đại học Hàng Hải Thế giới. D.Lambert. 1998).
- Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện
việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn
nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như
các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay
người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. ( Ủy ban Quản lý
Logistics của Hoa Kỳ)
1.2. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển dịch vụ logistics, nhà
cung ứng dịch vụ logistics.
Sự phát triển của dịch vụ logistics bắt nguồn từ sự thay đổi trong sản xuất.
Người bán hàng hóa không nhất thiết phải là nhà sản xuất và người mua cũng
không nhất thiết phải là người tiêu dùng cuối cùng. Và để tránh ứ đọng vốn, các nhà
sản xuất kinh doanh luôn tìm cách duy trì một lượng hàng dự trữ nhỏ nhất. Điều này
đòi hỏi các nhà giao nhận vừa phải đảm bảo giao hàng đúng lúc (JIT), vừa phải tăng
cường vận chuyển những chuyến hàng nhỏ nhằm giúp những nhà sản xuất kinh
doanh thực hiện mục tiêu tối thiểu hàng tồn kho (Minimum stock).
SV: Nguyễn Thành Luân Lớp: QTKD Thương mại 53A
5
Mặt khác, cuộc cách mạng Container hoá trong vận tải diễn ra trong những
năm 70 của thế kỷ XX đã giải quyết được tình trạng ùn tắc tại các đầu mối giao
thông khác. Điều này đã giúp các nhà vận chuyển tìm ra một phương pháp vận tải
mới để đưa hàng hóa từ nơi gởi đến nơi nhận một cách thông suốt, đó là vận tải đa
phương thức. Người gửi hàng chỉ cần ký hợp đồng vận tải với một nhà kinh doanh
vận tải đa phương thức (Multimodal Transport Operator – MTO) để thực hiện toàn
bộ việc vận chuyển hàng hoá của mình.
Ban đầu, dịch vụ logistics được thuê ngoài là dịch vụ vận chuyển và giao
nhận. Hàng hóa đi từ nước người bán đến nước người mua thường dưới hình thức
hàng lẻ, phải qua tay nhiều người vận tải ở mỗi phương thức vận tải khác nhau. Vì
vậy xác suất rủi ro mất mát xảy ra đối với hàng hóa là rất lớn do người gửi hàng
phải ký nhiều hợp đồng vận tải riêng biệt với từng người vận tải thực sự và trách
nhiệm của mỗi người vận tải chỉ giới hạn trong dịch vụ hay chặng đường của người
đó đảm nhiệm. Vào những năm 60, 70 của thế kỷ này, cách mạng container hóa
trong vận tải đã đảm bảo an toàn và độ tin cậy trong di chuyển hàng hóa là tiền đề
cho sự ra đời của vận tải đa phương thức.
Sau đó khách hàng rất cần một người đứng ra tổ chức mọi công việc ở tất cả
các công đoạn liên quan để tiết kiệm tối đa thời gian, chi phí và rủi ro phát sinh
nhằm gia tăng lợi nhuận. Từ đó, những người vận tải đa phương thức ngoài làm vận
thuê các doanh nghiệp dịch vụ tiến hành thực hiện thay mình các hoạt động
logistics. Từ đó hình thành nên các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics như
hiện nay.
1.3. Vai trò của doanh nghiệp logistics
Nếu người ta xem Marketing là vũ khí chiến lược trong cạnh tranh vào những năm
của thế kỷ XX thì trong thế kỷ XXI vai trò này đã nhường lại cho hoạt động
logistics. Do vậy, dịch vụ logistics hoàn hảo sẽ là vũ khí quan trọng trong thời đại
ngày nay.
1.3.1. Doanh nghiệp Logistics góp phần làm giảm chi phí lưu thông, chi phí sản
xuất và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại.
- Chi phí lưu thông: Dịch vụ logistics không chú trọng tiết kiệm chi phí cho một
khâu nhất định mà là chú trọng vào tính hiệu quả trong cả quá trình, nghĩa là cung
cấp dịch vụ với tổng chi phí nhỏ nhất.
* Với chi phí vận chuyển:
Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tự khai thác phương tiện vận tải của chính
mình thường không đạt hiệu quả do lượng hàng không cho phép khai thác tốt nhất
phương tiện trong tất cả các ngày làm việc hoặc xe chỉ chở một chiều. Trong khi đó
SV: Nguyễn Thành Luân Lớp: QTKD Thương mại 53A
7
thông qua doanh nghiệp dịch vụ logistics xe sẽ chạy hai chiều đi và về đều có hàng,
container sẽ đầy hơn do việc ghép chung hàng của các đơn vị thuê ngoài dịch vụ
khác nhau.
Ngoài ra, dựa vào phương thức vận chuyển đa phương thức người cung cấp dịch vụ
logistics giúp người gửi hàng giảm chi phí bằng cách kết hợp các loại phương tiện
vận tải khác nhau như máy bay, xe lửa, ôtô, tàu biển… Các dịch vụ đóng gói và lắp
ráp tại nơi tiêu thụ cũng giảm được trọng lượng và thể tích chuyên chở.
* Với chi phí lưu kho: Với việc thiết kế và bố trí kho hợp lý, quản lý lượng hàng
tồn kho bằng máy tính để cập nhật thông tin hàng ngày, các doanh nghiệp có thể
giảm hoàn toàn chi phí lưu kho.
* Với chi phí và lãi suất ngân hàng: Với việc giảm lượng hàng tồn kho cũng như
tồn đọng hàng hóa.
Tóm lại, để giảm chi phí mà không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, doanh
nghiệp logistics có thể cung cấp các dịch vụ từ nguồn vào tới việc bố trí sản xuất
hiệu quả cũng như tránh được việc đầu tư dàn trải nhờ vậy không những không làm
giảm chất lượng hàng hóa mà còn nâng cao hiệu quả sản xuất.
1.3.2. Doanh nghiệp logistics tạo thêm giá trị gia tăng và cung cấp dịch vụ khách
hàng.
Ngày nay người mua hàng không chỉ mua một sản phẩm vì công dụng của nó mà
còn mua cả dịch vụ kèm theo sản phẩm đó.
Với những dịch vụ giá trị gia tăng của logistics như dán nhãn, đóng gói, lắp ráp,
dịch vụ khách hàng… đã tạo thêm giá trị gia tăng cho hàng hóa giúp cho doanh thu
của nhà sản xuất được tăng lên. Hơn nữa các dịch vụ như gom và phân hàng lẻ, xé
lẻ các lô hàng lớn , chuẩn bị các lô hàng hỗn hợp… tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng và giảm được chi phí phát sinh.
1.3.3. Logistics là công cụ marketing hiệu quả giúp các doanh nghiệp sản xuất
thâm nhập thị trường
Không gì thuận lợi hơn cho các nhà xuất khẩu khi có một căn cứ phân phối hàng
ngay tại khu vực tiêu thụ. Tại đây, hàng hóa sẽ được phân phối theo yêu cầu của
khách hàng theo đúng chất lượng và số lượng, việc in ấn nhãn hiệu theo tiếng bản
xứ, thậm chí có thể mua thêm nguyên liệu tại chỗ để gia công thêm cho hàng nhập
khẩu mà không bị đánh thuế sẽ giảm chi phí rất lớn cho nhà nhập khẩu và tạo thuận
lợi rất lớn trong việc cung cấp cho khách hàng các dịch vụ đa dạng khác nhau.
Ngày nay, việc sử dụng các doanh nghiệp logistics có uy tín cũng là một cách tăng
thêm uy tín cho chính công ty xuất nhập khẩu, tạo thêm độ an tâm cho đối tác. Để
thu hút khách hàng, các doanh nghiệp logistics còn kiêm thêm dịch vụ môi giới giữa
người mua và người bán vốn không quen biết nhau và họ là người đảm bảo uy tín
cho hai bên.
SV: Nguyễn Thành Luân Lớp: QTKD Thương mại 53A
9
Với những vai trò của doanh nghiệp logistics trên đây đã làm cho các doanh nghiệp
tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động
logistics. First Party Logistics làm phình to quy mô của doanh nghiệp và thường
làm giảm hiệu quả kinh doanh vì doanh nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, kinh
nghiệm và kỹ năng chuyên môn để quản lý, vận hành hoạt động logistics.
- Các công ty Logistics bên thứ hai (2 PL - Second Party Logistics) – người
cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động
đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục Hải quan, thanh
toán,…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng ˆ chưa tích hợp hoạt động logistics. Loại
SV: Nguyễn Thành Luân Lớp: QTKD Thương mại 53A
10
hình này bao gồm các hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường hàng không, các
công ty kinh doanh kho bãi, khai thuê hải quan, trung gian thanh toán…
- Các công ty Logistics bên thứ 3 (3 PL - Third Party Logistics) – là người
thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận
chức năng, ví dụ như thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu
và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan
và vận chuyển hàng đến địa điểm đến quy định, … Do đó 3PL bao gồm nhiều dịch
vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin,
… và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng.
- Các công ty Logistics bên thứ tư (4 PL - Fourth Party Logistics) – là người
tích hợp (intergrator) – người hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở
vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và
vận hành các giải pháp chuỗi logistics. 4PL chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu
chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn
logistics, quản trị vận tải, … 4 PL hướng đến quản trị cả quá trình logistics, như
nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ
cuối cùng.
- Gần đây cùng với sự phát triển của Thương mại điện tử, người ta đã nói
đến khái niệm công ty Logistics bên thứ 5 (5 PL). 5 PL phát triển nhằm phục vụ cho
Thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5 PL là các 3 PL và 4 PL đứng ra
Điều kiện địa lý thuận lợi là một trong những yếu tố để phát triển logistics.
Việc có được điều kiện địa lý thuận lợi sẽ mở ra khả năng phát triển mô hình
Logistics. Đặc biệt gần hai năm khi Việt Nam gia nhập WTO thì vốn đầu tư nước
ngoài đã tạo ra bộ mặt mới cho hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Đã có rất
nhiều các dự án đầu tư về cơ sở hạ tầng đang được thực hiện.
Hệ thống cảng biển Việt Nam đã được quy hoạch và đang hình thành và phát
triển đa dạng, phong phú. Các loại hình cảng mới như cảng nước sâu, cảng
container chuyên dụng…với vốn đầu tư lên đến hàng chục, trăm triệu USD đã được
xây dựng, đang phát huy tác dụng…Lượng hàng hóa vận chuyển thông qua cảng
hàng năm đều tăng về mọi chỉ tiêu kể cả hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như hàng
hóa vận chuyển nội địa.
1.5.2. Công nghệ thông tin.
Cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự ra đời của thương mại điện tử
hơn bao giờ hết đã mở ra cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp trong ngành giao nhận
vận tải và logistics nói riêng khả năng tinh giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh
doanh và sức cạnh tranh của mình trên thương trường.
SV: Nguyễn Thành Luân Lớp: QTKD Thương mại 53A
12
Công nghệ thông tin và thương mại điện tử tại Việt Nam còn mới mẻ, song
lại có tốc độ phát triển rất nhanh so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Với hiện trạng va xu hướng phát triển công nghệ thông tin cũng như thương
mại điện tử của Việt Nam sẽ tạo ra nhiều cơ hội và khả năng áp dụng công nghệ
Logistics trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Vị trí của
Logistics trong toàn bộ quá trình phân phối vật chất thực chất là sử dụng và xử lý
thông tin để tổ chức và quản lý chu trình di chuyển hàng hóa qua nhiều cung đoạn,
chặng đường, phương tiện, địa điểm khác nhau đáp ứng yêu cầu kịp thời, đúng lúc.
Sự tham gia của công nghệ thông tin trong ngành logistics đã thúc đẩy quản lý có
hiệu quả các hoạt động logistics và giúp các công ty logistics đáp ứng được yêu
cầu của chủ hàng. Hầu hết các công ty lớn đều có phần mềm như hệ thống quản lý
kho (WMS) và hệ thống quản lý vận tải để quản lý hệ thống kho, hoạt động vận
Đến nay, trong khi các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp dịch vụ logistics
trong lĩnh vực vận tải biển còn gặp nhiều khó khăn thì các tập đoàn hàng hải lớn thế
giới đã và đang từng bước thâm nhập, củng cố, chiếm lĩnh thị trường trong nước và
ngày càng khẳng định vị trí lớn mạnh của mình như APL, Mitsui OSK, Maersk
Logistics , NYK Logistics … Đây là những tập đoàn hùng mạnh, tính cạnh tranh rất
lớn với bề dày kinh nghiệm, năng lực tài chính khổng lồ, có mạng lưới đại lý, hệ
thống kho hàng chuyên dụng, dịch vụ khép kín trên toàn thế giới, mạng lưới thông
tin kết nối rộng khắp, trình độ tổ chức quản lý cao và đảm bảo khép kín quy trình
hoạt động vận chuyển hàng hóa toàn cầu, đòi hỏi các doanh nghiệp Logistics trong
nước phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện mình để không bị lép vế ngay trên “sân
nhà” và vươn ra thế giới.
1.5.4. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
Về chính sách hội nhập, Việt Nam đang đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế
thông qua những cải cách về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, xây dựng hệ
thống pháp luật kinh tế và tài chính phù hợp với thông lệ quốc tế.
Việc trở thành thành viên chính thức của WTO đã đưa Việt Nam thành một
quốc gia mở cửa về thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư từ đó nguồn cầu
logistics sẽ tăng lên nhanh chóng:
- Vốn đầu tư nước ngoài.
Kể từ khi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài có hiệu lực (1988), FDI vào VN
ngày càng tăng cả về dự án, vốn đăng ký và số nước, vùng lãnh thổ. Tính đến hết
SV: Nguyễn Thành Luân Lớp: QTKD Thương mại 53A
14
năm 2012, tổng vốn FDI đăng ký là 242.613 triệu USD, vốn thực hiện là 102.551
triệu USD.
Nguồn vốn ODA nhằm phát triển cơ sở hạ tầng và các nguồn vốn từ các tổ
chức phi chính phủ hỗ trợ cho Việt Nam ngày càng tăng. Tính từ năm 1993 đến hết
năm 2012, tổng vốn ODA cam kết đạt 76,176 triệu USD, giải ngân đạt 35,967 triệu
USD, tương đương với 3,36% GDP. Thương mại quốc tế liên tục tăng đã thúc đẩy
cho các doanh nghiệp Logistics phát triển hoạt động.
hành liên tục mà không nhất thiết phải do chính doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
thực hiện. Ban đầu do doanh nghiệp không đủ khả năng kiểm soát toàn bộ hoạt
động của mình khi qui mô mở rộng buộc doanh nghiệp phải thuê bên ngoài thực
hiện các hoạt động trong chuỗi logistics. Dần dần, các doanh nghiệp phát hiện
hiệu quả hơn nên đã chuyển sang thuê các doanh nghiệp dịch vụ tiến hành thực
hiện thay mình các hoạt động logistics. Xu hướng trên thế giới cho thấy càng ngày
các dịch vụ logistics càng đi sâu vào quá trình logistics của doanh nghiệp và dần
dần trở thành đối tác không thể thiếu khi đảm nhận nhiệm vụ giá trị gia tăng liên
quan đến thanh toán, dịch vụ khách hàng,… dần đi đến quản trị cả quá trình
logistics.
Vai trò của dịch vụ logistics đã được khẳng định rõ với những đóng góp cho
ngân sách quốc gia, giúp tăng năng lực cạnh tranh của quốc gia nói chung của
doanh nghiệp nói riêng…. Trong giai đoạn hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp
logistics Việt Nam phải đối mặt với những thách thức nhiều hơn cơ hội, đâu là
SV: Nguyễn Thành Luân Lớp: QTKD Thương mại 53A
16
những thế mạnh doanh nghiệp Việt Nam cần khai thác để tận dụng cơ hội, vượt qua
thách thức cho sự cạnh tranh và phát triển của mình. Phân tích thực trạng hoạt động
của họ sẽ giúp chúng ta tìm ra những giải pháp thiết thực nhất.
SV: Nguyễn Thành Luân Lớp: QTKD Thương mại 53A
17
CHƯƠNG II.THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CÁC DOANH NGHIỆP
LOGISTICS Ở VIỆT NAM.
Trong vòng 5 năm trở lại đây ở Việt Nam ngành logistics tuy đã có tốc độ
phát triển nhanh nhưng vẫn chưa có số liệu thống kê đầy đủ, chính thức từ các ban
ngành và tổ chức Nhà nước. Do vậy phần thực trạng kinh doanh của các doanh
nghiệp logistics Việt Nam chủ yếu dựa trên số liệu được tác giả thu thập từ nhiều
nguồn khác nhau. Trước tiên, chúng ta đi vào tìm hiểu
1. Khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường của các doanh nghiệp logistics trong
nước.
hàng nhập lẫn hàng xuất. Tuy nhiên lợi thế tiếp cận nguồn khách hàng này thuộc về
các doanh nghiệp ở các nước đầu tư vào Việt Nam. Đối với khách hàng này nguồn
cầu về hành lý cá nhân phục vụ cho nguồn nhân lực quản lý và hàng công trình
SV: Nguyễn Thành Luân Lớp: QTKD Thương mại 53A
19
phục vụ cho thiết lập, vận hành cơ sở sản xuất kinh doanh rất lớn. Có 19% doanh
nghiệp khảo sát có cung ứng dịch vụ hàng công trình tuy nhiên phần lớn lại gia
công cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chẳng hạn như Nippon
Express, một doanh nghiệp chuyên cung ứng hàng công trình và hàng cá nhân cho
các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật như Canon, Fujitsu, Mabuchi Motor…
nhưng dịch vụ lại do công ty Transimex thực hiện với hợp đồng thầu phụ. Vì đối
với hàng hóa này hầu như đều do sự phân phối từ các tập đoàn là công ty mẹ từ
nước ngoài hoặc được các cá nhân và tổ chức mua với giá EXW để hạn chế rủi ro
khi vận hành nên mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam là người cung ứng dịch vụ
trực tiếp nhưng danh nghĩa lại là của các doanh nghiệp nước ngoài. Nếu tiếp cận
trực tiếp được nguồn khách hàng này thì thương hiệu sẽ được củng cố và lợi nhuận
cũng gia tăng.
Về khía cạnh dịch vụ cung ứng, hiện nay các doanh nghiệp Logistics Việt
Nam chủ yếu thực hiện dịch vụ ở đầu Việt Nam và các dịch vụ cơ bản mặc dù đã có
khả năng cung ứng những dịch vụ giá trị gia tăng như đóng gói, dịch vụ khách
hàng, thanh toán tuy nhiên những dịch vụ này vẫn chưa đến được với khách hàng.
Điều này là do khách hàng Việt Nam thì chưa chú ý nhiều đến hiệu quả của thuê
ngoài dịch vụ gia tăng trong khi các doanh nghiệp nước ngoài chú ý nhiều đến thuê
ngoài các dịch vụ này thì họ thường không chọn các doanh nghiệp Việt Nam chưa
có có uy tín khi quy mô còn nhỏ.
2. Thực trạng hệ thống doanh nghiệp Logistics của Việt Nam
2.1. Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh tuy nhiên đa số trong đó là doanh
nghiệp nhỏ, chưa thiết lập được hệ thống mạng lưới toàn cầu
Hiện chưa có thống kê chính thức về số lượng doanh nghiệp logistics tại Việt
Nam. Theo Tổng cục Thống kê, đến cuối năm 2011, cả nước có 17876 doanh
sự cố xảy ra khả năng xúc tiến khắc phục chậm, không đáp ứng yêu cầu của khách.
Trong khi tầm bao phủ của các công ty Việt Nam chỉ trong phạm vi nội địa
hoặc một vài nước trong khu vực thì tầm hoạt động của các công ty nước ngoài hầu
hết đều bao phủ khắp thế giới. Điều này là một rào cản khi các doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ trọn gói cho khách hàng, nhất là trong xu thế toàn cầu hóa, các chủ
hàng thường có xu hướng tìm nguồn cung cấp từ rất nhiều quốc gia và lãnh thổ trên
thế giới.
SV: Nguyễn Thành Luân Lớp: QTKD Thương mại 53A
21
Hình 2.2. Số lượng các doanh nghiệp vận tải, kho vận đang hoạt động tại
thời điểm 31/12/2011 phân theo quy mô lao động (biểu đồ 1) và phân theo quy
mô vốn (biểu đồ 2)
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Niên giám thống kê 2012
2.2. Hoạt động ở các doanh nghiệp còn manh mún, thiếu kinh nghiệm,
chuyên nghiệp.
Ở Việt Nam hiện nay, số lượng doanh nghiệp đang hoạt động logistics tuy
lớn nhưng đa phần các doanh nghiệp chưa kinh doanh logistics theo đúng nghĩa mà
mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ cho một số công đoạn của chuỗi dịch vụ
mà thôi. Các doanh nghiệp trên danh nghĩa là kinh doanh logistics nhưng chỉ tham
SV: Nguyễn Thành Luân Lớp: QTKD Thương mại 53A
22
gia vào một phần công việc của chuỗi dịch vụ như là doanh nghiệp chỉ đảm nhiệm
làm thủ tục thanh toán, làm thủ tục hải quan, hoặc doanh nghiệp chỉ cho thuê
phương tiện vận tải, kho bãi. Trong khi đó, hoạt động của logistics trong vận tải và
giao nhận phải là một quá trình kết hợp một cách hoàn hảo và đồng bộ giữa việc
thiết kế các tuyến đường, quản trị quá trình vận chuyển và dự trữ, cùng với quá
trình phân phối trên cơ sở kết hợp luồng thông tin đầu vào để quản lý, xử lý một
cách nhanh chóng và điều chỉnh kịp thời để quá trình lưu chuyển tài nguyên, hàng
hóa từ nhà cung cấp đến cơ sở sản xuất của doanh nghiệp và đến tay khách hàng
cuối cùng đúng thời hạn với chi phí thấp nhất và hiệu quả cao nhất. Nếu xét trên
ráp
Quản trị
trung tâm
phân phối
Marketing/
Dịch vụ
khách hàng
Vận
chuyển
nội địa
APL Logistics Có Có Có Có Có Có Có
Maersk Logistics Có Có Có Có Có Có Có
Nippon Express Có Có Có Có Có Có Có
DHL Có Có Có Có Có Có Có
UPS Có Có Có Có Có Có
Kuehne & Nagel Có Có Có Có Có Có Có
DN Việt Nam
(vốn <10 tỷ)
Có
DN Việt Nam
(vốn trên 10 tỷ)
Có Có Có
Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn
2.3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Logistics Việt Nam còn yếu,
cạnh tranh chủ yếu qua giá, thiếu sự liên kết.
Theo Chỉ số năng lực ngành logistics do Ngân hàng Thế giới đánh giá được
thực hiện hai năm một lần, năm 2014, Việt Nam đạt 3,15 điểm và xếp hạng 48/160
quốc gia, điều đó thể hiện năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ logistics tuy có
tăng so với các năm trước nhưng vẫn còn yếu (Hình2.3). Tốc độ phát triển trung
bình 20% mỗi năm tuy nhiên theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, tổng chi phí