LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, sự phát triển của kinh tế một cách
mạnh mẽ đã tạo nên mức sống và thu nhập ngày càng cao cho người dân
Việt Nam, những năm gân đây mức sống của người dân đã được cải thiện
một cách đáng kể, và giờ mặt hàng ô tô không còn quá xa xỉ đối với một bộ
phân dân cư với mức thu nhập cao, ô tô đã dân trở thành phương tiện di
chuyển cá nhân thông dụng cho nhiều người. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao như hiện nay đã tạo ra nhu cầu vận chuyển hàng hóa rất lớn và ô tô
không những chỉ là phương tiên di chuyển cá nhân mà đã trở thành phương
tiện vận chuyển phổ biến và quan trọng nhất trong nên kinh tế. Những nhu
cầu trên ngày càng tăng cùng với sự phát triển của nên kinh tế cộng với sự
bảo hộ của nhà nước cho ngành công nghiệp non trẻ nay đã tạo ra điều kiện
thuận lợi để phát triển ngàng công nghiệp ô tô trong nước.
Nhưng thực trạng phát triển của ngành công nghiệp ô tô trong nước đang
ở đâu, những phương hướng phát triển trong thơi gian tơi như thế nào, để
làm rõ những vấn đề trên em xin thực hiện đề tài “THỰC TRẠNG VÀ
PHƯƠNG HƯƠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ
VIỆT NAM TỚI NĂM 2020”.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là thực trạng của toàn ngành công nghiệp ô
tô Việt Nam hiện nay cũng như những tác nhân vĩ mô tác động tới sự phát
triển của ngành và phương hướng phát triển của ngành trong thời gian tới cụ
thể là tới năm 2020. Mục đích nghiên cưu của đề tài là làm dõ thực trạng và
nguyên nhân ngây ra những bất cập vẫn còn tồn tại trong ngành công nhiệp
ô tô của Việt Nam hiên nay để từ đấy đưa ra một số giả pháp để phát triển
ngành trong thời gian tới. Với đề tài và phạm vi nghiên cưu này, kết cấu của
đề tài em xin chia lanf 3 chương.
Chương I: Thực trạng phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.
Chương II: Những tồn tại và nguyên nhân.
Chương III: Phương hương và giải pháp phát triển ngành công nghiệp ô tô
tới năm 2020.
trước đó nên nếu so với tháng 12/2007, CPI tháng 9 đã tăng 21,87%. Chỉ số
giá bình quân 9 tháng đầu năm so với cùng kỳ 2007 đã tăng 22,76%.
Tổng số vốn FDI cấp mới đạt 57,1 tỷ USD, tăng 398,5% so với cùng kỳ
năm 2007. Giải ngân vốn FDI 9 tháng đạt 8,1 tỷ USD, tăng 37,3% so với
2
cùng kỳ. Thu hút vốn ODA đạt tổng giá trị trên 1,8 tỷ USD, giải ngân nguồn
vốn này đạt trên 1,4 tỷ USD, bằng 74,5% kế hoạch giải ngân năm 2008.
Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đã đạt 48,6 tỷ USD, tăng 39% so với cùng kỳ
năm 2007. Kim ngạch nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu khi đạt 64,4 tỷ
USD, tăng 48,3% so với cùng kỳ năm 2007. Nhập siêu 9 tháng đầu năm hiện
ở mức 15,8 tỷ USD, bằng 32,6% tổng kim ngạch.
Tỷ lệ lam phát, giá tiêu dùng chỉ tăng 0,18% trong tháng 9 là một tín hiệu
tích cực và thể hiện ổn định kinh tế vĩ mô của Nhà nước, Chỉ số giá tiêu
dùng CPI đang có xu hướng chững lại là một tín hiệu đáng mừng.
1.2. Sự ảnh hưởng của nền kinh tế tới công nghiệp ô tô trong nước.
Nền kinh tế trong nước là yêu tố ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của
công nghiệp ô tô, bât kỳ ngành nào cũng cần có một môi trường kinh tế ổn
định để phát triển, với thực trạng kinh tế của việt nam hiện nay tuy chưa phải
là một thị trường hấp dẫn về quy mô để phát triển ngành công nghiệp ô tô
nhưng là một thị trương tiềm ẩn với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, mức
sống của người dân ngày càng được cải thiện, tuy nhiên hiện tại mức thu
nhập còn thấp, chưa đủ để có một thị trường tiêu thụ đủ rộng cho ngành do
đó nó kém sức hấp dẫn, và chưa thu hút được sự đầu tư lớn từ nước ngoài
cũng như trong nước. Tuy nhiên với một nền kinh tế đang phát triển mạnh
mẽ, lực lương lao động lơn, giá nhân công rẻ cộng với sự ổn định tương đối
với sự biến động của nền kinh tế thế giới nhiều diễn biến phức tạp như hiên
nay thi chúng ta vẫn có được lợi thế trong thu hút đầu tư. Nhưng với thực
trang hiện nay sự suy thoái của nền kinh tế toàng cầu việt nam cũng ngây ra
những sũy thoái nhất định cho nền kinh tế ví dụ như việc lạm phát tăng cao
đã khiến người dân thắt chặt chi tiêu đã ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng
khả năng cạnh tranh con rất kém do công nghiệp ô tô trong nước thực chất là
công nghiệp lắp ráp đơn giản, linh kiên đa phần là nhập khẩu chủ yếu là tư
Thai Lan, Han Quốc, Trung Quốc. Hội nhập cũng đem lại cho chung ta
những cơ hội phát triển cho ngánh công nghiệp ô tô trong nước như thu hút
vốn đầu tư vào sảm xuất linh kiện tăng tỷ lệ nội địa hóa, tạo ra môi trường
cạnh tranh bình đẳng để từ đây thúc đẩy nganh công nghiệp ô tô trong nước
phát triển, tăng tỷ lệ nội địa hóa giamr chi phí, hạ giá thành sảm phẩm, có
nhiêu cơ hội học hỏi và cải tiến về công nghệ.
II. Công nghệ.
1. công nghệ sảm xuất và lăp ráp.
Công nghệ là nhân tố có tác động rất lớn, nó có thể quyết định tới chi phí
sảm xuất, năng suất lao động nó ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng phát triển
của một ngành, một doanh nghiệp. Đặc biệt ngành công nghiệp ô tô là ngành
4
đòi hỏi công nghệ cao, phát triển phải có chiều sâu kết hợp của nhiều ngành
công nghiệp phụ trợ khác nhau như công nghệ cơ khí, điện tử…
Ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam phát triển từ những năm 1991 cho
tơi nay đã trải qua 17 năm phát triển nhưng những thành quả đạt được vẫn
chưa sưng đáng với quãng thời gian và những chính sách bảo hộ của chính
phủ, cho tới nay chúng ta đã có 11 liên doanh sảm xuất lắp ráp ô tô nhưng
quy mô vân còn nhỏ lẻ và vẫn dưng lại ở việc lăp ráp đơn giản, các doanh
nghiệp lăp ráp ô tô tại việt nam chủ yếu được hình thành từ những xưởng cơ
khí lớn trước đây được nâng cấp và trang bị thêm để trở thành doanh nghiệp
lắp ráp, du vậy công nghệ lăp ráp của các doanh nghiệp này vẫn hết sức đơn
gian. Với 11 liên doanh ôtô, trừ Công ty Hino sản xuất xe tải nặng thì các
doanh nghiệp này đại diện cho những nhà sản xuất lớn, họ đêu có khả năng
lăp ráp nhiều chủng loại xe, các liên doanh đều đại diên cho nhưng tập đoàn
lơn trên thế giới với công nghệ khác nhau nên hầu như ít phối hợp. Hầu hêt
các liên doanh chỉ mới thực hiện phương thức lắp ráp dạng CKD2 với dây
chuyền công nghệ gần giống nhau, hoặc ở dạng IKD với dây chuyền công
ta hiện nay chủ yếu nhập khẩu của một số nước trong khu vực. Tỷ lệ nội địa
hóa của chung ta chi đạt trung binh 12% có nhưng doanh nghiệp tỷ lệ nội đĩa
hóa chỉ có 2%, tuy tỷ lệ nội địa hóa của ta thâp nhưng ngành công nghiệp
sảm xuất linh kiên vân chưa thể phát triển được bởi vì ngành sảm xuất linh
kiện đòi hỏi phải trinh độ công nghệ nhất định, mặt khác khi kêu gọi đầu đâu
tư rất khó khăn do nganh đòi hỏi lượng vốn lớn trong khi đó thời gian thu
hồi lại lâu, mặt khac do thị trương trong nước lại nhỏ bé lên chưa tao ra sức
hấp dẫn, tuy nhiên nếu trung ta có chinh sách hợp lí để thu hut kêu gọi đâu
tư không những chỉ đấp ứng nhu cầu của cac doanh nghiệp ô tô trong nước
ma con xuất khẩu thì vẫn có thể kêu gọi đâu tư để phát triển ngành công
nghiệp này, tai thai lan tỷ lệ nội địa hóa của họ rất cao đạt trên 80% số lương
các doanh nghiệp phụ trợ của họ lên tới khoang 1500 nhà cung ứng.
Mặt khác muốn ngành công nghiệp sảm xuất linh kiệm phát triển thì một số
ngành công nghiệp phụ trợ khác trong nước cũng phải phát triển theo như
công nghiêp luyện thép, công nghiệp ngò hàn….. tuy nhiên cho tới nay
6
chung ta cung mới có một số lương rất ít các doanh sảm xuât linh kiên, mà
số ít các doanh nghiệp này thi đều đa phân sảm xuất những linh kiện đơn
giảm có giá trị thấp như gương, xăm, lốp, nghế… còn những linh kiện có giá
trị gia tăng cao thì chưa thể sảm xuất được.
III. Chinh trị, pháp luật và chinh sách của nhà nước với công nghiệp ô
tô.
1. Chinh trị.
Chinh trị la nhân tố tầm vĩ mô nó có tác đông tới bấy kỳ ngành công
nghiệp nao trong cả nước, khi một quôc gia có tình hình chinh trị ổn định thì
sẽ tạo nhiều thuận lợi cho nên kinh tế của quốc gia đó triển, và ngược lại sẽ
ngây ra những trì trệ. Công nghiệp ô tô cũng không ngoại lệ chịu nhiêu ảnh
hưởng của tình hình kinh tế và chinh tri. Việt Nam là một quốc gia có tinh
hinh chinh trị ổn định nhất trên thế giới hiện giờ, đây là một một môi trương
Đối với linh kiện, phụ tùng ôtô: theo cam kết trong khu vực mậu dịch
ASEAN, ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Hàn Quốc, mức thuế suất đối
với linh kiện, phụ tùng ôtô đều ở mức thấp 5% trong ASEAN và cắt giảm
xuống 0% vào 2018 đối với ASEAN – Trung Quốc, Trong khi đó, mức thuế
theo cam kết WTO ở trong khoảng 12% - 25% tuỳ theo từng chủng loại linh
kiện, phụ tùng. Căn cứ vào mức cam kết này, mức thuế suất cụ thể đối với
từng loại linh kiện phụ tùng sẽ tiếp tục được quy định cho phù hợp với cam
kết quốc tế và khu vực. Riêng đối với những chủng loại linh kiện, phụ tùng
quan trọng đối với sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô và được quy
định rõ trong quy hoạch cần khuyến khích sản xuất như động cơ, hộp số, cầu
truyền động thì cần phải duy trì một mức thuế cao hợp lý trong thời gian bảo
hộ ít nhất 5 đến 10 năm để thu hút và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư
sản xuất những mặt hàng này.
Chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt: chức năng chủ yếu của thuế tiêu thụ
đặc biệt là điều tiết và giảm tiêu dùng, do đó loại thuế này có ảnh hưởng
8
không nhỏ đến giá bán xe. Việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt không bị ràng
buộc bởi cam kết quốc tế trừ khi có sự khác biệt giữa hàng nhập khẩu và
hàng cùng loại được sản xuất trong nước. Trong thời gian tới, việc xem xét
điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe ôtô nguyên chiếc cần tính đến
yêu cầu mở rộng thị trường xe ôtô trong nước, phù hợp với thông lệ của các
nước trong khu vực và cân đối với chiến lược phát triển giao thông trong
nước. Theo đó thuế suất cần được thiết kế thuế theo dung tích xi lanh hoặc
kết hợp cả dung tích xi lanh với số chỗ ngồi để khuyến khích sản xuất theo
chủng loại xe, khuyến khích tăng dung lượng thị trường, phù hợp với chính
sách về môi trường. Về các loại phí và lệ phí: chúng ta hiện nay đang có lệ
phí trước bạ, lệ phí cấp biển số xe điều chỉnh việc đăng ký, lưu hành xe.
Trong khi đó, phí đường bộ mới chỉ thu vào phương tiện giao thông trên các
tuyến quốc lộ mà chưa áp dụng trong khu vực đô thị.
IV. Văn hóa xã hội.
muốn ô tô là phương tiện di chuyển cá nhân của mình tì lượng câu về ô tô tât
nhiên sẽ tăng mạnh.
2.Cơ sở hạ tầng.
2.1. Tốc độ đô thị hóa :
Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng tới ngành ô tô, khi tốc độ đô thị cao thì
cũng đồng nghĩa vơi viêc mức sống của người dân cũng tăng đồng thời cũng
ảnh hưởng tới yếu tố tâm lý và xu hương tiêu dùng của người dân những
điều đó làm thị trường tiêu thụ ô tô tăng nhanh, mặt khác tốc độ đô thị hóa
cũng đông thời tạo ra các điều kiên thuân lợi hơn về giao thông vân tải khiên
cho ngươi dân thây đổi xu hướng xủ dung phương tiện di chuyển.
2.2. Cở sở hạ tầng :
Đây là yếu tố quan trong tác động tới tân lý sủ dụng ô tô của người dân
nêu cơ sở hạ tang thấp kem sẽ không cho phép phát triển ngánh công nghiệp
ôt ô được, ví dụ cơ sở về hệ thống giao thông sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu tiêu
dung xe của người dân, cơ sở hạ tầng sẽ ảnh hưởng tới khả năng sảm của các
doanh nghiệp cũng như năng suất. Cơ sở hạ tầng của trung ta hiện nay vẫn
còn nhiêu bất cập, như nhà xưởng hệ thống giao thông vẫn còn yếu kếm, đặc
biêt hệ thống giao thông vẫn con đang trên đương phát triển và hoàn thiện,
ngành công nghiệp ô tô không thể phát triển được nếu hệ thống giao thông
quá yếu kém, ví dụ như hệ thông giao thông trong hai thành phố lơn nhât la
Hà Nội va TP HCM nêu ra đương vào giờ cao điểm băng ô tô liệu ta có thể
di chuyển đươc hay không, những điều đó cũng phân nao ảnh tới nganh
công nghiệp ô tô trong nước do ảnh hưởng tới nhu cầu sử dụng ô tô của
người dân.
10
V. Nhân tố tư nhiên.
1. Tai nguyên thiên nhiên.
Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú vơi nhiều loại
khoáng sản phong phú, đây là điều kiện thuận lợi cho nhiêu nganh công
nghiệp phụ trợ đực biệt là ngành công nghiêp sảm xuất linh kiện chủ động