MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU 3
B. NỘI DUNG 3
I. Những vấn đề chung về tranh chấp môi trường và giải quyết tranh chấp môi
trường 3
1. Tranh chấp môi trường 3
2. Giải quyết tranh chấp môi trường 4
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BTTH
BLDS
BLTTDS
BVMT
GQTC
GQTCMT
TCMT
UBND
: Bồi thường thiệt hại
: Bộ luật dân sự
: Bộ luật tố tụng dân sự
: Bảo vệ môi trường
: Giải quyết tranh chấp
: Giải quyết tranh chấp môi trường
: Tranh chấp môi trường
: Ủy ban nhân dân
2
A. LỜI MỞ ĐẦU
Môi trường hiện đang là vấn đề nóng bỏng không chỉ đối với Việt Nam mà
đối với nhiều quốc gia trên thế giới, dù đó là quốc gia đang phát triển hay quốc gia
đã phát triển. Trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam, sự ô nhiễm, suy thoái
lợi ích chung đã trở thành lợi ích mang tính cá nhân và rất cụ thể. Những người bị
tổn hại về sức khoẻ, tài sản sẽ yêu cầu được bồi thường. Như vậy TCMT luôn có
sự gắn liền giữa lợi ích chung (công) với lợi ích riêng (tư).
- TCMT thường xảy ra với quy mô lớn, liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân,
các cộng đồng dân cư, thậm chí đến nhiều quốc gia. Do môi trường là một thể
thống nhất không thể tách rời, không bị giới hạn bởi không gian, thời gian, nên các
tác động xấu đến thành phần môi trường này sẽ ảnh hưởng xấu đến thành phần môi
1
Giáo trình Luật môi trường, Đại học Luật Hà Nội, Nxb.CAND, Hà Nội, 2007, tr.406.
3
trường khác. Bên cạnh đó, TCMT có thể nảy sinh giữa bất kỳ chủ thể nào, không
phụ thuộc vào cá nhân hay tổ chức, công quyền hay dân quyền
- Vị thế của các bên trong TCMT thường không cân bằng. Đây là quan điểm
của rất nhiều nhà nghiên cứu. Theo quan điểm này phần lớn TCMT có một bên
tham gia là chủ các dự án phát triển hoặc các cơ quan quản lý, trong khi phía bên
kia chỉ là những thường dân với những yêu cầu đòi hỏi về chất lượng môi trường
sống chung của con người. Điều dễ nhận thấy là bên thứ nhất thường ít có động cơ
hơn trong việc tìm giải pháp để điều hoà lợi ích xung đột. Sự bất tương xứng về vị
thế giữa các bên là một trong những trở ngại lớn của quá trình giải quyết TCMT.
- Giá trị của những thiệt hại trong TCMT thường rất lớn và khó xác định.
Điều này bắt nguồn từ thực tế là hậu quả do hành vi gây hại đối với môi trường
thường rất nghiêm trọng, đa dạng và biến đổi với nhiều cấp độ khác nhau, gồm:
thiệt hại trực tiếp, thiệt hại gián tiếp, thiệt hại trước mắt, thiệt hại lâu dài; thiệt hại
về kinh tế, thiệt hại về sinh thái; thiệt hại về tài sản, thiệt hại về sức khỏe, tính
mạng; thiệt hại với quốc gia, thiệt hại trên phạm vi quốc tế
2
2. Giải quyết tranh chấp môi trường
a. Khái niệm giải quyết tranh chấp môi trường
GQTC là các hoạt động khắc phục, loại trừ tranh chấp đã phát sinh bằng một
phương pháp nào đó, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh
- Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả giá: Người gây ô nhiễm phải tiến
hành: 1) Áp dụng các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, suy
thoái môi trường, sự cố môi trường. 2) BTTH về môi trường, tính mạng, sức khoẻ
và tài sản cho các nạn nhân nếu có.
- Nguyên tắc tham vấn chuyên gia: Để xác định một cách có căn cứ khoa
học thiệt hại xảy ra đối với môi trường, tính mạng, sức khoẻ, tài sản của các nạn
nhân trong các TCMT cần sử dụng cơ chế tham vấn chuyên gia.
II. Sự phát triển của các quy định về giải quyết tranh chấp môi trường
trong Luật BVMT 1993 và Luật BVMT 2005
1. Giải quyết tranh chấp môi trường khi Luật BVMT 1993 ra đời
1.1.Giải quyết tranh chấp môi trường theo Luật BVMT 1993
Tranh chấp về môi trường là một nội dung quan trọng được đề cập tới trong
Luật BVMT 1993 dưới những khái cạnh sau:
Thứ nhất, quy định trách nhiệm pháp lý của các tổ chức, cá nhân có hành vi
làm ô nhiễm môi trường. Các tổ chức, cá nhân trong hoạt động sản xuất kinh
doanh và các hoạt động khác mà làm suy thoái, ô nhiễm, sự có môi trường phải
thực hiện các biện pháp khắc phục theo quy định của UBND địa phương và các cơ
quan quản lý nhà nước về BVMT.
Thứ hai, quy định thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước về môi
trường trong việc GQTCMT: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo; kiến nghị xả lý các vi
phạm pháp luật về BVMT trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định;
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết
tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về BVMT trong phạm vi quyền hạn được giao.
Luật BVMT 1993 cũng quy định áp dụng pháp luật Việt Nam trong giải quyết
tranh chấp có yếu tố nước ngoài, có xem xét đến pháp luật và thông lệ quốc tế
(Điều 49). Bên cạnh đó, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường cũng được thành
lập. Tại Trung ương, Cục Môi trường có trách nhiệm giúp Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường thống nhất hoạt động trong quản lý môi trường ở phạm vi cả
nước. Tại địa phương, Phòng quản lý môi trường cũng được thành lập với cán bộ
Tổng cục khí tượng thủy văn. Sự phân chia chức năng, nhiệm vụ quản lý như thế
này có thể dẫn đến sự chồng chéo, mâu thuẫn về thẩm quyền cũng như bất đồng ý
kiến trong việc giải quyết TCMT. Do vậy, cần phải thông nhất hệ thống cơ quan
quản lý nhà nước về môi trường.
Ngoài ra, Luật BVMT 1993 cũng chư quy định trình tự, thủ tục, phương thức,
luật áp dụng trong GQTCMT xảy ra trong nước. TCMT có yếu tố nước ngoài cũng
mới chỉ có quy định chung về luật áp dụng, chưa quy định trường hợp nào thì áp
dụng thông lệ, pháp luật quốc tế. Luật cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như việc thực hiện các điều
ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Luật BVMT 1993 là văn bản pháp lý đầu tiên ghi nhận về TCMT với các đặc
điểm riêng biệt phân biệt với các tranh chấp xã hội khác. Tuy nhiên những hạn chế
tring quy định của luật này đòi hỏi chúng ta tìm ra giải pháp để hoàn thiện pháp
luật về TCMT.
2. Giải quyết tranh chấp môi trường theo Luật BVMT 2005
Luật BVMT 1993 là đạo luật đầu tiên về BVMT nước ta. Sau hơn 10 năm
thực hiện công tác BVMT đã có những chuyển biến tích cực: ý thức BVMT của
người dân nâng cao; ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường đều hạn chế; hệ thống
chính sách, thể chế từng bước được hoàn thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả
công tác BVMT. Tuy nhiên, ngày nay, nền kinh tế của Việt Nam đang ở mức tăng
trưởng cao và ổn định, mức sống của người dân được cải thiện rõ rệt nhưng môi
trường sống lại đang bị xuống cấp nhanh. Nguyên nhân là do sự yếu kém, bất cập,
phân công, phân cấp chưa rõ ràng trong quản lý nhà nước; nhận thức chưa đầy đủ
6
về vai trò của môi trường của một bộ phận đáng kể cán bộ, công chức, nhân dân;
đầu tư cho BVMT còn quá thấp không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế,
xã hội và quá trình hội nhập kinh tế. Do vậy, cần sửa đổi Luật BVMT 1993 cho
phù hợp với thời kỳ hội nhập.
Luật BVMT 2005 ra đời nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật BVMT
1993. Nét đặc trưng cơ bản của luật này là đối tượng, phạm vi điều chỉnh rất rộng,
cách nhanh chóng, có hiệu quả.
Vấn đề TCMT có yếu tố nước ngoài đã được đề cập đến trong Luật BVMT
1993, song vẫn còn khá mờ nhạt, chung chung. Cũng về vấn đề này, khoản 4 Điều
129 Luật BVMT 2005 đã có quy định cụ thể hơn: “tranh chấp về môi trường trên
lãnh thổ Việt Nam mà một hoặc các bên là tổ chức, cá nhân nước ngoài được giải
quyết theo pháp luật Việt Nam; trừ trường hợp có quy định khác trong điều ước
7
quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”. Theo quy định
trên thì nơi xảy ra tranh chấp sẽ được áp dụng trong giải quyết TCMT, tuy nhiên
nếu Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có quy định khác thì sẽ ưu tiên áp
dụng Điều ước quốc tế đó. Việc áp dụng pháp luật Việt Nam vào GQTCMT có yếu
tố nước ngoài này không những tránh được việc xung đột pháp luật, mà còn thể
hiện quan điểm tôn trọng độc lập chủ quyền đối với các tài nguyên thiên nhiên và
môi trường của nước ta. Mặt khác nó còn giúp cho một bên tranh chấp là Việt
Nam, tránh được những khó khăn nhất định trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng
minh, BTTH nếu như áp dụng pháp luật nước ngoài, do sự kém hiểu biết pháp
luật nước đó. Đây là một tiến bộ rất lớn trong quy định về TCMT trong thời kỳ
hiện nay.
c. Các phương thức giải quyết tranh chấp
- Thượng lượng:
Khoản 3 Điều 129 Luật BVMT 2005 quy định: “Việc giải quyết tranh chấp về
môi trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp
dân sự ngoài hợp đồng và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Pháp luật về môi trường ghi nhận thương lượng hay tự hòa giải là một trong
những hình thức GQTCTM bởi tính chất đơn giản và hiệu quả của nó. Tuy nhiên,
GQTCMT thông qua thương lượng gặp phải một số khó khăn, đó là sự tham gia
của cơ quan công quyền. Do đây là những cơ quan mang tính chất quyền lực nhà
nước nên không tránh khỏi sự áp đặt của các cơ quan này lên các chủ thể khác
trong quá trình thương lượng GQTC. So với các cuộc thương lượng để GQTC
khác, thương lượng trong GQTCMT có đặc điểm là thường diễn ra giữa các chủ
Theo quy định tại khoản 3 Điều 129 Luật BVMT 2005 quy định: “Việc giải
quyết tranh chấp về môi trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về giải
quyết tranh chấp dân sự ngoài hợp đồng và các quy định khác của pháp luật có
liên quan”.
Theo khoản 6 Điều 25 BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì tranh
chấp dân sự ngoài hợp đồng là một trong những tranh chấp dân sự thuộc thẩm
quyền của Tòa án. Do đó, TCMT có thể được giải quyết tại Tào án.
- GQTCMT bằng trọng tài
TCMT còn có thể được giải quyết bằng phương thức trọng tài: “các bên có
thể yêu cầu trọng tài giải quyết các tranh chấp BTTH về môi trường” (khoản 2
Điều 133 Luật BVMT 2005).
Có thể thấy GQTCMT bằng trọng tài có nhiều tính ưu việt như tiết kiệm thời
gian, linh hoạt trong iệc lựa chọn trọng tài viên, lựa chọn địa điểm GQTC Không
giới hạn phạm vi trong nước, phương thức Trọng tài còn được sử dụng để giải
quyết các TCMT trên phạm vi quốc tế. Công ước Lahay còn ghi nhận: “Trong các
vấn đề về bản chất pháp lý và đặc biệt trong việc giải thích hoặc áp dụng các công
ước quốc tế, phương thức trọng tài được các bên ký kết thừa nhận nhu một phương
thức hữu hiệu nhất ”
4
.
d. Chủ thể có quyền khởi kiện TCMT
Chủ thể khởi kiện trong TCMT có thể là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành
vi vi phạm pháp luật môi trường gây ra; cơ quan nhà nước có nhiệm vụ, quyền hạn
trong lĩnh vực môi trường khi tranh chấp có liên quan đến lợi ích công cộng. Đặc
biệt, do TCMT có thể phát sinh giữa các quốc gia với nhau nên chủ thể khởi kiện
có thể là quốc gia. Tuy nhiên, việc GQTC giữa các quốc gia được thực hiện theo
các điều ước quốc tế mà các nước đã ký kết. Một câu hỏi được đặt ra là: trong
trường hợp TCMT xảy ra giữa chủ thể là quốc gia với bên kia là cá nhân, tổ chức
thì quốc gia đó có trở thành chủ thể khởi kiện và được thực hiện quyền khởi kiện
như tổ chức, cá nhân hay không?
không phải trực tiếp đứng ra thực hiện nghĩa vụ này mà có thể thông qua tổ chức
bảo hiểm. Điều này một mặt giúp cho bên được BTTH không phải đợi chờ lâu nếu
như số tiền bồi thường quá lớn mà bên gấy hại lại phải thự hiện trong thời gian
nhất định; mặt khác về bên bồi thường sẽ không mất nhiều thời gian cho việc thực
hiện nghĩa vụ này do đã có tổ chức bảo hiểm đứng ra đảm nhiệm.
2.2.Những hạn chế của Luật BVMT 2005 quy định về TCMT
Sự ra đời của Luật BVMT 2005 nói chung và việc đổi mới trong quy định về
TCMT nói riêng là hoàn toàn cần thiết với xu hướng ngày càng gia tăng các TCMT
có tính chất phức tạp, nguyên nhân đa dạng. Tuy nhiên, nó vẫn còn những vướng
mắc nhất định:
- Luật BVMT mới chỉ quy định chủ thể của TCMT là cá nhân, tổ chức mà
chưa quy định quốc gia là một chủ thể của TCMT.
- Luật BVMT và các văn bản hướng dẫn cũng chưa có quy định rõ ràng về
chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ lợi ích công trong lĩnh vực môi trường.
Trong lĩnh vực môi trường, nếu tranh chấp có liên quan đến lợi ích công cộng
thì chủ thể khởi kiện là cơ quan quản lý nhà nước về môi trường. Theo hướng dẫn
10
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì: “Cơ quan Tài nguyên và Môi
trường có quyền khởi kiện vụ án dấn ự để yêu cầu Tòa án buộc cá nhân, cơ quan,
tổ chức có hành vi gây ô nhiễm môi trường phải bồi thường thiệt hại, khắc phục sự
cố gây ô nhiễm môi trường công cộng”. Tuy nhiên, hướng dẫn của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao không chỉ rõ “Cơ quan tài nguyên môi trường” là cơ
quan nào? Ủy ban nhân dân các cấp hay Sở Tài nguyên và Môi trường? Đây cũng
là một thiếu sót trong quá trình xây dựng pháp luật.
- Đối với các phương thức GQTCMT: dù pháp luật đã có quy định về
phương thức GQTCMT, tuy nhiên, các quy định này còn nằm rải rác ở nhiều văn
bản pháp luật chuyên ngành mà chưa được quy định thống nhất trong một văn bản
chung. Điều này dẫn đến khó khăn cho các chủ thể khi xem xét xem xét đến các
phương thức GQTC để áp dụng vào từng vụ việc cụ thể.
TCMT có thể được giải quyết tại Tòa án. Tuy nhiên, các quy định về thẩm
III. Một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về giải quyết tranh
chấp môi trường
Từ những phân tích ở trên, cá nhân em xin đưa ra một số giải pháp hoàn thiện
quy định pháp luật về GQTCMT như sau:
Thứ nhất, cần quy định quốc gia cũng là một chủ thể TCMT.
Thứ hai, đối với chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, pháp
luật cần hướng dẫn cụ thể “Cơ quan Tài nguyên và Môi trường” là cơ quan nào?
Theo ý kiến cá nhân, pháp luật cần quy định theo hướng cơ quan đó là Sở Tài
nguyên và môi trường, bởi vì Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn
về môi trường ở địa phương. Do đó, cơ quan này nắm bắt rõ tình hình môi trường
ở địa phương mình, điều này sẽ giúp bảo vệ lợi ích công cộng một cách kịp thời.
Thứ ba, về thời hiệu khởi kiện, cần quy định lại thời hiệu khởi kiện đối với
các TCMT theo hướng thời hiệu khởi kiện có thể được tính từ ngày quyền và lợi
ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm phạm hoặc từ ngày phát hiện ra hành vi vi
phạm hoặc từ ngày phát sinh thiệt hại trên thực tế. Bên cạnh đó, cần quy định thời
hiệu khởi kiện đối với TCMT theo hướng kéo dài hơn so với quy định hiện hành
bởi vì thời hiệu yêu cầu GQTC là hai năm chỉ phù hợp với những vụ tranh chấp
mang tính đơn giản, dễ xác định giá trị thiệt hại. Còn đối với những vụ tranh chấp
có tính chất phức tạp, thiệt hại mang tính gián tiếp thì cần có một thời gian dài để
bộc lộ hết thiệt hại.
Thứ tư, kiến nghị sửa đổi các quy định pháp luật về nghãi vụ chứng minh đối
với thiệt hại trong GQTCMT theo hướng xác định mức độ thiệt hại thông qua chế
định giám định độc lập
5
. Bên bị thiệt hại chỉ cần kê khai đầy đủ, chi tiết những
thiệt hại mà mình phải gánh chịu cùng với các yêu cầu của mình, đồng thời phải
chịu trách nhiệm về phản ánh, kê khai không đúng sự thật. Việc xác định mức độ
thiệt hại, nguyên nhân gây thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
sẽ do tổ chức giám định thiệt hại môi trường tiến hành. Cơ quan quản lý môi
trường ở địa phương là chủ thể trưng cầu giám định thiệt hại môi trường. Chi phí