ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHẠM THỊ HỒNG NHUNG
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA
CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thuận
Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác
và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Hồng Nhung
2.2. Hoạt động tín dụng của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam30
2.2.1. Hoạt động cho thuê tài chính 30
2.2.2. Hoạt động huy động vốn, vay vốn 55
2.2.3. Hoạt động khác 60
Chương 3 - ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 62
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở
VIỆT NAM
3.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động tín dụng62
của công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động tín dụng64
của công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam
3.2.1. Về tổ chức, hoạt động của công ty cho thuê tài chính 64
ở Việt Nam
3.2.2. Về hoạt động tín dụng của công ty cho thuê tài chính 68
ở Việt Nam
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
1.1.
Thống kê tiêu chuẩn giao dịch cho thuê tài chính
của các quốc gia trên thế giới
15 1
MỞ ĐẦU
lý đầu đủ, an toàn và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, giúp hoạt động của các
công ty CTTC diễn ra an toàn, hiệu quả cao.
Việc hoàn thiện và phát triển hoạt động CTTC, trong đó có việc hoàn
thiện pháp luật về hoạt động tín dụng của công ty CTTC là một yêu cầu cấp
thiết góp phần giải quyết những khó khăn về vốn, thúc đẩy nhanh sự tiến bộ
khoa học và công nghệ. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp
phù hợp thúc đẩy sự phát triển hoạt động công ty CTTC là hết sức cần thiết và
vô cùng quan trọng. Xuất phát từ những đòi hỏi của lý luận và thực tiễn, tác
giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Pháp luật về hoạt động tín dụng của công ty
cho thuê tài chính ở Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo
Thạc sĩ Luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Việt Nam đã có một số công trình khoa học, bài viết nghiên cứu, tìm
hiểu cơ chế điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động CTTC như: Luận án
Tiến sĩ Luật học của tác giả Doãn Hồng Nhung (2006) về “Những vấn đề về
hợp đồng thuê mua ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Lê
Hoàng Oanh (1998) về “Điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động thuê mua tài
chính ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Lê Thị Thảo
(2002) về “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng cho thuê tài chính ở Việt
Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Đinh Bá Tuấn (2006) về “Pháp
luật về hợp đồng cho thuê tài chính ở Việt Nam”, Luận văn Tiến sỹ Kinh tế
của tác giả Tống Thiện Phước (2006) về “Giải pháp phát triển thị trường cho
thuê tài chính ở Việt Nam trong quá trình hội nhập tài chính, tiền tệ quốc tế”,
Luận văn Tiến sỹ Kinh tế của tác giả Bùi Hồng Đới (2003) về “Giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam”;
3
cùng một số bài viết như: “Về quy định đăng ký tài sản cho thuê tài chính”
của tác giả Nguyễn Hữu Thanh, “Cho thuê tài chính ở Việt Nam tại sao chưa
phát triển” của tác giả Hoàng Quý Vương – Phạm Tuấn Long (1999), “Rủi ro
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp
luật học so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp diễn giải và quy nạp.
Các phương pháp này được sử dụng đan xen, kết hợp trong cả ba chương, để
giải quyết một số nhiệm vụ đặt ra trong quá trình nghiên cứu, đánh giá và kết
luận một số vấn đề cụ thể về pháp luật hoạt động tín dụng của công ty CTTC.
6. Ý nghĩa của luận văn:
Qua nghiên cứu pháp luật về hoạt động tín dụng của công ty CTTC,
mong muốn những đề xuất của người viết có ý nghĩa thực tiễn, góp phần hoàn
thiện pháp luật về hoạt động tín dụng của công ty CTTC, từ đó góp phần hoạt
động CTTC tạo thành kênh dẫn vốn quan trọng đóng góp cho sự phát triển
kinh tế của đất nước.
Đồng thời mong muốn luận văn là tài liệu tham khảo cho những
người quan tâm về vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng của công ty
CTTC.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động tín dụng của công ty
CTTC ở Việt Nam.
Chương 3: Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động tín
dụng của công ty CTTC ở Việt Nam.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA
CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1. Khái quát về hoạt động tín dụng:
Thứ ba, khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu
phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm lợi tức.
Có thể thấy đặc trưng của tín dụng thể hiện rõ nét nhất trong hoạt động
tín dụng của các tổ chức tín dụng. Theo khoản 8 và khoản 10, Điều 20, Luật
các tổ chức tín dụng 2010, hoạt động tín dụng được định nghĩa là việc tổ chức
tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có nguồn vốn huy động để thỏa thuận cấp tín
dụng cho khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay,
chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
Hoạt động tín dụng khác với các loại hình giao dịch khác ở các đặc
điểm sau đây:
Một là, về chủ thể, một bên tham gia giao dịch bao giờ cũng là tổ chức
tín dụng có đủ các điều kiện hoạt động tín dụng theo quy định của pháp luật.
Chủ thể này tham gia giao dịch với tư cách là người đầu tư (người cho vay
hay chủ nợ) và có quyền đòi tiền của người nhận đầu tư (người vay hay con
nợ) khi hợp đồng đáo hạn.
Hai là, về nguồn gốc, các tổ chức tín dụng khi cấp tín dụng cho khách
hàng chủ yếu dựa vào nguồn gốc huy động của các tổ chức, cá nhân thông
qua các hình thức ghi nhận tiền gửi, phát hành trái phiếu hay vay nợ của các
tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên Ngân hàng. Đặc điểm này cho phép
phân biệt hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng với hoạt động tín dụng
7
của Ngân hàng nhà nước, với đặc tính của nguồn gốc cho vay là vốn dự trữ
phát hành.
Tín dụng có thể được phân chia thành các loại sau:
Thứ nhất, Tín dụng thương mại: Là quan hệ tín dụng giữa các doanh
nghiệp dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. Đây là quan hệ tín dụng giữa
các nhà sản xuất - kinh doanh được thực hiện dưới hình thức mua bán, bán
chịu hàng hóa. Hành vi mua bán chịu hàng hóa được xem là hình thức tín
dụng - người bán chuyển giao cho người mua quyền sử dụng vốn tạm thời
Đối tượng tín dụng quốc tế là hàng hóa hoặc tiền tệ. Chủ thể tham gia là chính
phủ, cơ quan nhà nước, ngân hàng quốc tế, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp và
cá nhân.
Thứ sáu, Tín dụng thuê mua: Là quan hệ phát sinh giữa các công ty cho
thuê tài chính với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân dưới hình thức
cho thuê tài chính. Trong đó đối tượng của tín dụng thuê mua là tài sản;Chủ
thể là công ty cho thuê tài chính (người cho thuê), và doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế và cá nhân (người đi thuê). Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, Luận
văn sẽ đi sâu tìm hiểu và làm rõ loại tín dụng này của công ty CTTC.
1.2. Khái quát về Công ty CTTC
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm về Công ty CTTC
Cho thuê tài sản là một công cụ tài chính đã được sáng tạo ra từ rất sớm
trong lịch sử văn minh nhân loại. Vào khoảng năm 1.700 trước Công nguyên,
vua Babilon là Hamurabi đã ban hành nhiều văn bản quan trọng tạo thành bộ
luật lớn, trong đó có đưa ra các quy định về hoạt động thuê tài sản. Trong nền
văn minh cổ đại như Hy Lạp – La Mã, Ai Cập,… các hình thức thuê để tài trợ
việc sử dụng đất đai, gia súc, công cụ sản xuất cũng xuất hiện. Có thể khẳng
9
định rằng, nhiều vấn đề mà các giao dịch thuê mua ngày nay gặp phải đã được
giải quyết từ nhiều thế kỷ trước. Tuy nhiên, “các giao dịch cho thuê tài sản
thời cổ thuộc hình thức thuê kiểu truyền thống” [76]. Phương thức này tương
tự như phương thức thuê vận hành ngày nay.
Đầu thế kỷ XIX, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền kinh tế
hàng hóa, các nước tư bản bắt đầu thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp,
hoạt động CTTC đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng và chủng loại thiết bị,
tài sản cho thuê, trở thành công cụ tài chính được chấp nhận rộng rãi. Đến đầu
thập niên 50 của thế kỷ XX, giao dịch CTTC đã có những bước phát triển
nhảy vọt, nhất là ở Mỹ. Các công ty kinh doanh tìm cách chuyển dần các rủi
ro và lợi ích từ việc sỡ hữu tài sản của họ sang bên đi thuê dưới hình thức cho
kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu và vốn vay của TCTD, tổ chức tài chính trong
nước và nước ngoài, vay NHNN dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của
Luật NHNN Việt Nam và đây là một trong những nguồn vốn bổ sung hoạt
động cho các công ty CTTC.
- Hoạt động cho thuê tài chính như cho vay bổ sung vốn lưu động đối
với bên thuê tài chính; cho thuê vận hành và ủy thác thuê tài chính.
- Ngoài hai hoạt động chủ yếu trên, các công ty CTTC được thực hiện
một số hoạt động khác như: tư vấn khách hàng về vấn đề liên quan đến
nghiệp vụ CTTC; thực hiện dịch vụ bảo lãnh liên quan đến CTTC theo hướng
dẫn của NHNN; thực hiện hoạt động ngoại hối theo quy định của NHNN. Đối
với các công ty CTTC có mức vốn điều lệ tương đương mức vốn pháp định
đối với công ty tài chính thì được phép thực hiện hoạt động bao thanh toán và
nghiệp vụ cho vay ngắn hạn bổ sung lưu động đối với bên thuê và thực hiện
các nghiệp vụ khác khi được NHNN cho phép.
11
Như vậy, có thể thấy các hoạt động khác của công ty CTTC đều có
quan hệ mật thiết với hoạt động chủ yếu và cơ bản của công ty CTTC là
CTTC. Các hoạt động này góp phần tạo nguồn lực hỗ trợ, thúc đẩy sự phát
triển của hoạt động CTTC, tạo điều kiện cho phép khách hàng tiếp cận giao
dịch CTTC, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty CTTC.
1.3. Pháp luật về hoạt động tín dụng của công ty CTTC:
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật về hoạt động tín dụng
của công ty CTTC:
Hoạt động tín dụng của công ty CTTC có vai trò rất quan trọng trong
việc tạo vốn cho DN, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Xuất phát từ vai
trò này mà vấn đề hoạt động tín dụng của công ty CTTC hiện nay được điều
chỉnh rất cụ thể trong các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành. Có thể
nói, toàn bộ những quy định pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty CTTC tạo thành pháp
phiếu, tín phiếu, trái phiếu. Công ty CTTC có thể phát hành trực tiếp trái
phiếu dưới nhiều hình thức như trả lãi trước, trả lãi có kỳ hạn, trái phiếu được
chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố và có thể bán trên thị trường thứ cấp để thu
hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng.
- Vốn vay của TCTD, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài, vay
NHNN dưới hình thức cấp vốn. Đây cũng là một trong những nguồn vốn bổ
sung hoạt động cho các công ty CTTC.
Ngoài việc huy động vốn nêu trên, công ty CTTC có thể khai thác
nguồn hàng trả chậm từ các nhà cung cấp nước ngoài: Các công ty CTTC
thiết lập một mạng lưới cung cấp tài sản cho thuê từ các nhà sản xuất ở trong
và ngoài nước. Qua mạng lưới này bằng hình thức mua hàng trả chậm, các
công ty CTTC thu hút, khai thác được nguồn vốn ở nước ngoài. Nhờ vào lợi
13
thế so sánh, trình độ công nghệ hiện đại, năng suất lao động cao làm cho chi
phí, giá thành sản phẩm thấp nên các nhà cung cấp nước ngoài thực hiện việc
bán hàng trả chậm cho các công ty CTTC tại Việt Nam. Một mặt, giúp các
công ty CTTC tăng được nguồn vốn kinh doanh, tăng khả năng đáp ứng tài
sản thuê cho thị trường. Mặt khác, bên thuê cũng được hưởng lợi vì phí cho
thuê có khả năng giảm do chi phí sử dụng vốn của các công ty CTTC giảm,
tài sản cho thuê đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của bên thuê.
1.3.3. Về hoạt động cho thuê tài chính:
1.3.3.1. Khái niệm cho thuê tài chính
Hoạt động CTTC đầu tiên được tổ chức tại Mỹ. Sau đó, nghiệp vụ
CTTC phát triển sang châu Âu, châu Á, Thuật ngữ CTTC đã trở thành thuật
ngữ quen thuộc đối với giới kinh doanh, nhà đầu tư. Tuy nhiên, thuật ngữ này
được một số nước sử dụng có sự khác nhau.
- Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ ghi nhận: CTTC là loại hình
cho thuê trong đó:
+ Người cho thuê không chọn nhà sản xuất hoặc cung ứng
bị khác (gọi chung là thiết bị) theo các điều kiện đã được (bên đi thuê) chấp
nhận.
+ Cùng thống nhất một thỏa thuận với bên đi thuê cho phép bên đi
thuê quyền sử dụng thiết bị để đổi lại bằng việc thanh toán tiền thuê.
Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC) đưa ra định nghĩa về CTTC
“là loại cho thuê có khả năng chuyển dịch về căn bản tất cả những rủi ro và
lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản. Quyền sở hữu đó cuối cùng có thể
được chuyển giao hoặc không được chuyển giao”[73].
Như vậy, có thể thấy về cơ bản, các điều kiện để nhận biết giao dịch
CTTC của một số nước trên thế giới không có gì khác biệt. Điều này được thể
15
hiện thông qua bảng thống kê về tiêu chuẩn xác định giao dịch CTTC ở một
số nước như sau:
Bảng 1.1: Thống kê tiêu chuẩn giao dịch cho thuê tài chính của các
quốc gia trên thế giới
Quốc gia
IASC
Hoa Kỳ
Anh
Nhật
Hàn Quốc
Chuyển giao quyền sở
hữu tài sản khi kết thúc
hợp đồng
Có
Có
Có
Có
năm thì
60%; Tài
sản > 5
năm thì
70%
Hiện giá thuần của các
khoản tiền thuê tối thiểu
so với giá trị của tài sản
vào thời điểm ký hợp
đồng
Bằng hoặc
lớn hơn giá
trị tài sản
>90%
>90%
>90% Nguồn: Tổng hợp từ tài liệu [49], [76].
1.3.3.2. Đặc trưng của cho thuê tài chính và sự khác biệt giữa cho thuê
tài chính với hoạt động cho vay của ngân hàng và cho thuê vận hành:
* Các đặc trưng của CTTC: Hoạt động CTTC vừa mang đặc trưng của
cho thuê tài sản, vừa mang đặc trưng của hoạt động tín dụng trung và dài hạn.
Loại hình CTTC có những đặc trưng riêng, khác biệt với cho thuê tài sản
thông thường và cũng khác với hoạt động cho vay của ngân hàng:
- Thời gian thuê chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản.
16
- Bên thuê chịu mọi chi phí vận hành, bảo trì, bảo hiểm, và các rủi ro
liên quan đến tài sản thuê. Quyền sở hữu của tài sản có thể được chuyển giao
những rủi ro liên quan đến tài sản nếu như không phải lỗi do họ gây ra.
Đối với thuê vận hành, tài sản đã thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê
trước khi ký hợp đồng. Đối với CTTC, tài sản thuê trước khi ký hợp đồng có
thể không thuộc quyền sở hữu của người cho thuê mà là do người đi thuê tìm,
lựa chọn từ nhà cung cấp và yêu cầu công ty CTTC mua để cho thuê. Trong
cho thuê vận hành, tài sản không được ghi chép vào sổ sách kế toán của người
thuê mà phần tiền thuê trả theo thỏa thuận được ghi như mọi khoản chi phí
bình thường khác.
* Hoạt động CTTC và cho vay của ngân hàng thương mại (NHTM).
Về bản chất, hoạt động CTTC là một hình thức tín dụng trung và dài hạn. Tuy
nhiên, so với cho vay ngân hàng, hoạt động CTTC có những khác biệt như
sau:
- Trong giao dịch CTTC, vốn cho vay được thể hiện bằng tài sản cố
định như máy móc, thiết bị văn phòng Trong cho vay của ngân hàng, vốn
vay được thể hiện bằng tiền. Vì vậy, sau khi hợp đồng được ký kết, trong giao
dịch CTTC, người đi thuê sẽ được bổ sung vốn trực tiếp bằng tài sản cố định,
trong khi cho vay của ngân hàng thì người đi vay được bổ sung vốn bằng tiền.
- Phí cho thuê trong hoạt động CTTC có thể lớn hơn lãi suất cho vay
từ ngân hàng, vì chi phí CTTC được tính trên cơ sở lãi suất cho vay trung, dài
hạn và các khoản phí liên quan đến tài sản thuê.
- Nghiệp vụ CTTC thường có sự tham gia giao dịch quan hệ của nhiều
bên (như bên đi thuê, bên cho thuê, nhà cung cấp, người cho vay). Ngược lại,
cho vay của ngân hàng thì thường chỉ có quan hệ song phương giữa người
cho vay và người đi vay. Hoạt động CTTC thường gắn liền với quyền sở hữu
18
về tài sản, bên cho thuê nắm quyền sở hữu tài sản. Trong khi đó, hoạt động
cho vay của ngân hàng chỉ thông qua hợp đồng tín dụng để nhận biết được
bên đi vay, số tiền cho vay. Vì vậy, khi người đi thuê bị phá sản thì bên cho
thuê mặc nhiên thu hồi tài sản, còn khi người đi vay phá sản thì ngân hàng