THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - Pdf 62

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Dẫn nhập: Từ phần lý luận đã phân tích ở trên trong chương này sẽ tìm hiểu
hoạt động của công ty dưới 2 vấn đề huy động vốn và sử dụng vốn. Vấn đề sử
dụng vốn sẽ xem xét các lĩnh vực mà công ty đang hoạt động. Từ đó tìm ra
những hạn chế, phân tích nguyên nhân của những hạn chế để đưa ra những
giải pháp và kiến nghị. Tuy nhiên sự hoạt động này phải đặt trong bối cảnh
chung của thị trường cho thuê tài chính Việt Nam, dự báo của thị trường
trong những năm tới để có thể phân tích một cách chính hoạt động kinh doanh
của công ty.

I. TIỀM NĂNG VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
1. Các qui định pháp lý cho sự ra đời các công ty Leasing ở Việt Nam
Ở Việt Nam do sự trợ giúp của Quĩ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng
Thế giới (WB) nghiệp vụ cho thuê tài chính được đề cập vào năm 1991. Năm
1995 Ngân hàng Nhà nước ban hành qui định số 149?/ QĐ-NH5 ngày 27-5-
1995 về việc ban hành Thể lệ tín dụng thuê mua. Cuối năm 1995 lần đầu tiên
một văn bản dưới luật về cho thuê tài chính của Việt Nam ra đời : Nghị định số
64/CP ngày 9-10-1995 của Chính Phủ “ Ban hành qui chế tạm thời về tổ chức
hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam”. Theo đó Nghị định qui
định:
1* Các loại hình của công ty cho thuê tài chính
- Công ty cho thuê tài chính do Ngân hàng, Công ty tài chính hoặc do
Ngân hàng, Công ty cho thuê tài chính cùng với doanh nghiệp khác của Việt
nam thành lập.
- Công ty cho thuê tài chính liên doanh giữa bên Việt nam gồm nhiều
hoặc một Ngân hàng, Công ty tài chính, Doanh nghiệp khác với bên nước
ngoài gồm một hoặc nhiều Ngân hàng, Công ty cho thuê tài chính, Công ty cho
thuê tài chính và các tổ chức tài chính quôc tế.
2* Vốn pháp định là 55 tỷ VND đối với công ty 100% vốn trong nước, 5

giới như sau:
- Đối với nghành cơ khí chế tạo máy lạc hậu từ 50-100 năm
- Các ngành lắp ráp điện tử, ô tô, máy xây dựng, chế biến thuỷ sản lạc hậu
từ một đến hai thế hệ.
- Các nghành điện, dệt may lạc hậu từ 2 đên 3 thế hệ.
- Các ngành đường sắt, đường bộ lạc hậu từ 3 đến 5 thế hệ.
- Các nghành chế biến nông nghiệp, thực phẩm lạc hậu từ 3 đến 5 thế hệ.
Theo số liệu thống kê này, qua khảo sát nhiều công ty thuộc 10 ngành
(luyện kim, hoá chất, nhựa, sản xuất phân bón, công nghiệp thực phẩm, điện -
điện tử...) thì ngoài một số công ty có trình độ công nghệ hiện đại trung bình
của thế giới hoặc của khu vực ( lắp ráp điện tử, sản xuất sợi, dệt, thi công xây
lắp, sản xuất thiết bị đo điện...) còn lại máy móc thiết bị và dây chuyền sản xuất
lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20 năm, thậm chí 30 năm như sản xuất phôi
thép, cơ khí. Trình độ cơ khí hoá, tự động hoá dưới 10% (trong chế biến thuỷ
sản). Hao mòn hữu hình từ 30% đến 50%, và điều đáng ngạc nhiên là 38% ở
dạng thanh lý những vẫn còn được sử dụng, 52% đã qua sửa chữa.
( Theo báo Hà nội mới 3-2001, bài Doanh nghiệp: chiến lược, sách lược,
thực thi)
Còn theo một báo cáo thống kê của Ngân hàng thế giới về công nghệ của
10 ngành công nghiệp quan trọng tại Việt Nam
Ngành công nghiệp
Những năm 60-70
(%)
Những năm 80
(%)
Những năm 90
(%)
1. Thiết bị xây dựng 80,0 18,2 1,8
2. Thực phẩm 65,5 25,0 9,5
3. Dệt 57,4 38,3 4,3

Với tình trạng máy móc thiết bị và bối cảnh tình hình chung như trên cho
thấy rõ nhu cầu đổi mới trang thiết bị là cấp thiết. Đại hội Đảng lần thứ VIII
đã vạch ra “ Mục tiêu công nghiệp hoá là biến nước ta thành một nước công
nghiệp có cơ sở vật chất hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến
bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất
và tinh thần cao, quốc phòng và an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng văn minh” Như vậy để hoàn thành mục tiêu này từ nay đến năm
2020, theo tính toán tỷ lệ tăng trưởng bình quân phải từ 9- 10%, nhưng sau
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á và những khó khăn từ các nguồn
vốn đầu tư nước ngoài chúng ta dự đoán tỷ lệ tăng trưởng chỉ vào khoảng từ
6-7%. Theo các chuyên gia thuộc viện phát triển Quốc tế Havard thì để tăng
trưởng 1% thu nhập quốc dân thì lưọng đầu tư phải tăng từ 3-4% GDP. Như
vậy để đạt mức tăng trưởng nói trên thì hàng năm lượng vốn đầu tư phải đạt
tối thiểu 15% GDP.tức là khoảng 4-5 tỷ USD.
Bằng hình thức kinh doanh cho thuê thiết bị, các công ty cho thuê Leasing
quốc tế sẽ gián tiếp cung cấp vốn đầu tư với lãi xuất thấp và công nghệ mới
vào nước ta. Do các thiết bị tài sản thuộc quyền sở hữu của họ nên việc nhập
thiết bị vào Việt Nam sẽ được họ cân nhắc kỹ lưỡng. Bởi việc nhập thiết bị, giá
cả, các điều kiện và dịch vụ kèm theo còn phụ thuộc vào người thuê. Mặt khác,
để đảm bảo thu hồi được vốn, các công ty Leasing quốc tế thường hỗ trợ các
doanh nghiệp thuê thiết bị của họ về mặt quản trị và sử dụng các thiết bị này
một cách hiệu quả. Các chuyên gia thuộc viện phát triển Quốc tế Havard đã
khuyến cáo Việt nam cần phát triển các Công ty cho thuê tài chính trước khi
cho phép các Ngân hàng nước ngoài cạnh tranh tự do với hệ thống tài chính
trong nước, vì để tạo được môi trường cho sự cạnh tranh trong lĩnh vực Ngân
hàng đòi hỏi phải có thời gian chuẩn bị khá lâu. Bối cảnh kinh tế xã hội nhất là
nhu cầu về vốn, thiết bị, công nghệ cho nền sản xuất là những tiền đề cần thiết
thúc đẩy việc hoàn thiện các cơ sở pháp lý và kỹ thuật cho hoạt động Leasing
phát triển mạnh mẽ ở Việt nam.
b. Những hạn chế của các nguồn vốn đầu tư.

dụ rõ nét về việc vay vốn nước ngoài và những đầu tư bất hợp lý dẫn đến
không thể trả nổi những khoản vốn đầu tư nước ngoài đã quá lớn. Với nguồn
vốn này chủ yếu đầu tư vào các cơ sở hạ tầng mang tính chất quốc gia còn các
doanh nghiệp vừa và nhỏ thì ít có khả năng vay được từ nguồn vốn này.
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp chủ yếu thông qua hình thức liên doanh.
Bằng hình thức này trong thời gian qua đã giúp cho nền kinh tế phát triển
đáng kể. Tuy nhiên nền kinh tế Việt nam cũng bị thiệt hại không nhỏ do việc
nhập thiết bị cũ và lạc hậu. Tính đến hết năm 1996 có khoảng 8 tỷ USD vốn
nước ngoài đầu tư vào Việt nam, trong đó tổng giá trị công nghiệp ước tính
khoảng 4 tỷ USD. Nhìn lại những thiết bị công nghệ đã nhập và sử dụng trong
các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể thấy là những thiết bị cũ, công
nghệ cũ, lạc hậu được chế tạo từ trước những năm 1980 nên một số nhập về
không thể sử dụng được, một số khác sử dụng gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng. Theo các chuyên gia của Bộ thương mại, Bộ kế hoạch và đầu tư
việc mua trang thiết bị của Việt nam thường cao hơn giá trị thị trường từ 10-
15%.
 Những hạn chế của nguồn vốn vay từ các ngân hàng: hầu hết
các nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay là
nguồn vốn vay Ngân hàng tuy nhiên điều kiện vay rất ngặt
nghèo
- Các doanh nghiệp ( trừ doanh nghiệp nhà nước ) phải có tài sản thế
chấp
- Các doanh nghiệp muốn vay ngân hàng phải kinh doanh có hiệu quả,
tình hình tài chính lành mạnh có uy tín đối với Ngân hàng.
- Các dự án vay vốn đều phải có tỷ lệ vốn tham gia
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đặc biệt là các doanh nghiệp vừa mới thành
lập để đủ điều kiện như trên là rất khó khăn. Hơn nữa việc tính toán thu nợ
tiền vay của Ngân hàng cũng chưa hợp lý. Ngân hàng chỉ áp dụng một cách
tính duy nhất là thu nợ hàng tháng bao gồm gốc chia đều cho các kỳ hạn, lãi
thu trên số dư còn lại. Cách tính thu nợ tiền vay cho thấy: thời gian đầu mới đi

thống cho thuê của người bán hàng hoá.
- Nghiệp vụ cho thuê tài chính hỗ trợ cho công cuộc hiện đại hoá công
nghiệp, trợ giúp thực hiện chính sách công nghiệp và thuế khoá. Các công ty
cho thuê tài chính có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc tài trợ của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra nghiệp vụ này cũng trợ giúp cho việc
cơ cấu hoá lại các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua việc cấp vốn cho khu
vực sản xuất.
b. Những lợi ích đối với người thuê
Tiện ích của cho thuê tài chính đối với người thuê bao gồm
- Người thuê có gia tăng năng lực sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn. Thông qua cho thuê tài chính, các doanh nghiệp đi thuê mặc dù gặp khó
khăn về vốn hoặc không đủ tài sản, uy tín đảm bảo để vay vốn Ngân hàng, vẫn
có thể sử dụng được máy móc thiết bị, tăng năng lực sản xuất. Tham gia vào
dịch vụ cho thuê tài chính, doanh nghiệp sẽ hạn chế sử dụng tới nguồn vốn của
mình để mua sắm thiết bị. Vì thế họ có thể chuyển số tiền cần thiết đó sang một
công việc cần thiết hơn. Bằng việc thuê tài chính, doanh nghiệp sẽ duy trì được
vốn lưu động và các nhu cầu tài trợ cho dự án. Vốn của doanh nghiệp không bị
đọng vào tài sản, doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả.
- Cho thuê tài chính hạn chế việc sử dụng máy móc thiết bị lạc hậu. Hiện
nay việc phát triển và cải tiến kỹ thuật máy móc thiết bị, công nghệ được thực
hiện rất nhanh chóng trong nền kinh tế. Thông qua cho thuê tài chính, doanh
nghiệp có thể hạn chế được rủi ro sử dụng máy móc, thiết bị lạc hậu nhằm
nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm có điều kiện cạnh tranh
trên thị trường.
- Cho thuê tài chính là nghiệp vụ tài trợ mang tính chất linh hoạt. Trong
nghiệp vụ cho thuê tài chính, người thuê có khả năng tối đa trong việc lựa
chọn hoặc mua lại, hoặc tiếp tục thuê, hoặc trả lại tài sản thuê. Nghiệp vụ cho
thuê tài chính giúp doanh nghiệp tránh được phiền phức liên quan tới sửa
chữa thiết bị ( bảo dưỡng, bảo hiểm…). Nhiều doanh nghiệp thích đi thuê thiết
bị hơn là mua sắm thiết bị vì cho thuê tài chính làm thoả mãn nhu cầu sử dụng

+ Do tài trợ tài sản bằng hiện vật nên hạn chế được ảnh hưởng của lạm
phát, không làm “ teo “ dần khoản vốn tài trợ.
+ Hoạt động cho thuê tài chính giúp người cho thuê không bị khó khăn
về khả năng thanh khoản do tiền cho thuê và vốn được thu hồi dựa trên hiệu
quả hoạt động của tài sản.
- Công ty cho thuê tài chính cung cấp, giới thiệu sản phẩm của nhà cung
cấp. Khi người cho thuê cung cấp dịch vụ cho thuê, nhà xuất nhập khẩu cũng
tham gia. Khi đó nếu thoả thuận đạt được kết quả cũng như việc thanh toán
cho nhà thiết bị hoàn tất thì điều này tạo thêm một quan hệ làm ăn giữa
người cho thuê và nhà cung cấp. Đặc biệt khi người cho thuê là nhà sản xuất,
nhà sản xuất tài trợ cho thuê sản phẩm của mình có thể đối với các đối thủ
cạnh tranh và có thể thuyết phục khách hàng chọn sản phẩm của mình vì
những thuận lợi đưa ra.
- Các tài liệu trong nghiệp vụ cho thuê tài chính đơn giản hoá. Tất cả các
thủ tục trong hoạt động cho thuê tài chính đều đi thẳng vào vấn đề cho cả
người cho thuê và người đi thuê vì vậy nó tránh được việc phức tạp so với việc
vay vốn. Hồ sơ cho thuê thường là hồ sơ chuẩn nhằm tránh tình trạng phức
tạp như việc đi vay Ngân hàng. Hợp đồng cho thuê máy móc thiết bị thường
được thực hiên nhanh chóng bởi người cho thuê không cần thẩm định chi tiết
như các loại hình tín dụng khác.
4. Dự báo về thị trường cho thuê tài chính trong những năm tới
Sau nhiều năm đổi mới Việt Nam đã chuyển từ một nền kinh tế tập trung
dựa vào bao cấp của nhà nước sang nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, trong đó lĩnh vực nhà nước đóng vai trò chủ đạo.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam năm 2000 gấp 2,5 lần năm
1985 với mức tăng bình quân hàng năm đạt 6,3% từ năm 1986 đến năm 2000
và khoảng 7,6% trong thập kỷ vừa qua. Thu nhập bình quân tính theo đầu
người năm 2000 đạt 375USD. Giá trị sản xuất công nghiệp trung bình hàng
năm tăng 13,5% trong giai đoạn 1996- 2000 trong đó năm 2000 đạt mức tăng
cao nhất 15,7%. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng từ 29,73% năm 1996

Công ty KEXIM LEASING COMPANY
Công ty VENA LEASING COMPANY
- Hai công ty liên doanh Việt nam - nước ngoài.
Công ty VINALESE ( Công ty cho thuê tài chính Việt Nam )
Công ty VILC ( Công ty cho thuê tài chính quốc tế Việt Nam )
- Năm công ty cho thuê tài chính của Việt nam
Công ty cho thuê tài chính của
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn : gồm hai công ty
Công ty cho thuê tài chính của Ngân hàng Công thương Việt nam
Công ty cho thuê tài chính của Ngân hàng Ngoại thương Việt nam
Công ty cho thuê tài chính của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Sự ra đời của các công ty này khẳng định tiềm năng và là tiền đề phát
triển của hoạt động này trên thị trường Việt nam.
a. Ngân hàng Công thương Việt nam.
Tháng 7-1995 Ngân hàng Công thương Việt nam thành lập phòng tín
dụng thuê mua với chức năng nhiệm vụ
- Khai thác bắt nợ.
- Thực hiện các dự án liên doanh, liên kết giữa Ngân hàng Công thương
với các doanh nghiệp khác.
- Nghiên cứu các văn bản về tín dụng thuê mua, để thực hiện các dự án
cho thuê, soạn thảo các văn bản để chuẩn bị thành lập Công ty cho thuê tài
chính.
Tháng 10-1995 Nghị định số 64/CP của Chính phủ ban hành qui chế tạm
thời về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính ở Việt nam, quy
chế quy định các Ngân hàng muốn thực hiện nghiệp vụ này phải thành lập một
công ty độc lập, chức năng của một phòng không còn phù hợp nữa. Lúc này
phòng tín dụng thuê mua là tiền thân của công ty cho thuê tài chính hiện nay,
ngoài việc tiếp tục thực hiện các nghiệp vụ được giao còn chuẩn bị một cơ sở
vật chất và điều kiện để thành lập công ty cho thuê tài chính.
* Ngày 29-10-1996, theo giấy phép số 01/GP-CTCTTC của Ngân hàng

- Cho thuê tài chính.
- Khai thác tài sản xiết nợ
- Đẩu tư trả góp ( Thị trường chủ yếu là các doang nghiệp Nhà nươc phía
Bắc )

* Công ty cho thuê tài chính Việt Nam : Việt Nam Leasing Company
(VINALEASE) được thành lập năm 1997 với số vốn 5 triệu USD liên doanh
giữa 3 bên: Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank) 40%, Japan Leasing
Coporation 35%, Japan Long Term Credit Bank 25%. Công ty hoạt động chủ
yếu trong các dự án với các công ty tư nhân. Hiện nay liên doanh đang phát
triển hoạt động với các công ty lớn trong lĩnh vực dệt may và sản xuất thép
như VINATEX ( Tổng công ty dệt may Việt Nam ), VSC ( Tổng công ty thép Việt
Nam ) đồng thời tích cực tìm kiếm những khách hàng vốn là khách hàng
truyền thống của Vietcombank. Cho đến cuối năm 2000 công ty đã thực hiện
được 50 hợp đồng với doanh số cho thuê lên tới gần 100 triệu USD.
c. Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt nam
Được thành lập và đi vào hoạt động từ cuối năm 1995. Hiện nay Ngân
hàng đầu tư và phát triển Việt nam đang tìm các đối tác nước ngoài.
d. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Ngày 28-9-1994 theo quyết định số 130QĐ-NHNo Công ty thuê mua và tư
vấn đầu tư và Ngân hàng Nông nghiệp được thành lập nhưng trên thực tế
công ty này vẫn chưa đi vào hoạt động.
Ngày 14-7-1998, Công ty cho thuê tài chính I được thành lập theo quyết
định số 238/1998/QĐ-NHNN5 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt nam,
với số vốn điều lệ 65 tỷ, công ty chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1-1-1999.
Công ty này hoạt động chủ yếu từ Huế trở ra.
Công ty cho thuê tài chính II được thành lập sau đó vào ngày 27-8-1998
hoạt động chủ yếu từ Quảng Nam trở vào.
e. Công ty cho thuê tài chính Vena Leasing (VENALEASING ).
Chính thức đi vào hoạt động tháng 10-1995 với tổng số vốn điều lệ là 5

Nợ quá hạn chiếm gần 1% trên tổng dư nợ cho thuê tài chính, giảm 83%
so với 31/12/1999 và thấp hơn nhiều so với tỷ lệ nợ qua hạn cho phép. Cụ thể
là Nợ quá hạn của các công ty 100% vốn Việt Nam bằng 0, giảm 100% so với
mức dư nợ quá hạn tại thời điểm 31/12/1999 (8 tỷ VND).
Dư nợ quá hạn của các công ty cho thuê tài chính có vốn đầu tư nước
ngoài là gần 4,3 tỷ VND, tăng 2 tỷ VND so với mức dư nợ quá hạn đến
31/12/1999 (2,3 tỷ VND)
Thứ ba là về tổng doanh số cho thuê.
Tính đến 31/12/2001, tổng doanh số cho thuê toàn khối là gần 1065 tỷ
VND, trong đó doanh số cho thuê tài chính năm 2000 là 841 tỷ VND- tăng với
tỷ lệ 15% so với năm 1999.
Trong đó, doanh số cho thuê các công ty cho thuê tài chính 100% vốn Việt
Nam là 462 tỷ VND (chiếm 45% trong tổng doanh số cho thuê) còn doanh số
cho thuê của các công ty cho thuê tài chính có vốn đầu tư nước ngoài là 603 tỷ
VND (chiếm 55% tổng doanh số cho thuê).
Có thể cụ thể tình hình hoạt động và khả năng cạnh tranh qua bảng sau
Đơn vị : Tỷ VND
Công ty Cho thuê tài chính Dư nợ
Công ty CTTC NH ĐT&PT VN 126
Công ty CTTC NHNN&PTNT
-Công ty CTTC I
-Công ty CTTC II
100,34
70
Công ty CTTC NHCT VN 90,81
Công ty CTTC NHNT VN 15,81
Công ty CTTC QT VN (VILC) 101,23
Công ty Vina leases 50.34
Công ty Kexim Việt Nam 7.67
Công ty Vena Leasing 67

1.a Khái quát quá trình hình thành công ty:
Xuất phát từ nhu cầu của thị trường 5/1995 Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước Việt nam ra quyết định số 149/QĐ-NH5 về việc ban hành thể lệ tín dụng
thuê mua để quản lý, giám sát hoạt động nghiệp vụ này. Do vậy tháng 7/1995
Ngân hàng Công Thương Việt Nam thành lập phòng tín dụng thuê mua, ban
đầu có chức năng như : khai thác tài sản bắt nợ, thực hiện các dự án liên
doanh, nghiên cứu các văn bản về tín dụng thuê mua để thực hiên các dự án
cho thuê.
Đến tháng 10/1995 nghị định số 64/CP của Chính phủ ban hành qui chế
tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam.
Qui chế qui định các ngân hàng muốn thực hiện nghiệp vụ này phải thành lập
một công ty độc lập, chức năng của một phòng không được thực hiện nữa. Lúc
này Phòng tín dụng thuê mua – tiền thân của công ty cho thuê tài chính ngoài
việc tiếp tục thực hiên các nghiệp vụ được giao còn chuẩn bị mọi cơ sở vật
chất và điều kiện để thành lập công ty cho thuê tài chính.
Ngày 26/1/1998 Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt nam ra quyết định
số 53/1998/QĐ-NHNN5 về việc thành lập Công ty cho thuê tài chính Ngân
Hàng Công thương Việt Nam
- Tên tiếng Việt: Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Công thương Việt
Nam
- Tên viết tắt bằng tiếng Việt CTTTTC
- Tên tiếng Anh Leasing Company Industrial and Commercial Bank of VN
- Tên viết tắt bằng tiếng Anh: ICBVVLC
- Vốn điều lệ : 55 tỷ đồng Việt Nam hay 5 triệu USD
- Trụ sở : Số 18 Phan Đình Phùng, Quận Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam
Tại điều 2 quyết định này qui định “Công ty cho thuê tài chính NHCTVN là
một thành viên hạch toán độc lập của NHCTVN, được Ngân hàng cấp vốn điều
lệ có quyền tự chủ kinh doanh và tự chủ tài chính, chịu sự ràng buộc và quyền
lợi và nghĩa vụ đối với NHCTVN theo qui định tại điều lệ của NHCTVN. Vốn
điều lệ được cấp là 55 tỷ đồng Việt Nam.”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status