MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Danh mục bảng biểu vi
Danh mục sơ đồ vii
Bảng ký hiệu viết tắt viii
Danh mục tài liệu tham khảo ix
Phụ lục x
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ KẾ TOÁN
NGHIỆP VỤ CHO THUÊ TÀI CHÍNH 3
1.1. Cho thuê tài chính trong nền kinh tế 3
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động cho thuê tài chính 3
1.1.2. Khái niệm cho thuê tài chính 4
1.1.3. ý nghĩa của hoạt động cho thuê tài chính 5
1.1.3.1. Lợi ích đối với nền kinh tế 5
1.1.3.2. Lợi ích đối với người cho thuê 6
1.1.3.3. Lợi ích đối với người đi thuê 7
1.1.4. Đặc điểm của giao dịch cho thuê tài chính 9
1.2. Kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính 12
1.2.1. Nhiệm vụ và vai trò của kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính 12
1.2.1.1. Nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính 12
1.2.1.2. Vai trò của kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính 13
1.2.2. Hợp đồng cho thuê tài chính là căn cứ để hạch toán quá trình cho
thuê, thu hồi vốn gốc và lãi 14
1.2.3. Tài khoản và chứng từ sử dụng trong kế toán nghiệp vụ cho thuê tài
chính 15
1.2.3.1. Tài khoản sử dụng trong nghiệp vụ kế toán cho thuê tài chính 15
1.2.3.2. Chứng từ sử dụng trong kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính 19
1.2.4. Phương pháp tính tiền cho thuê tài chính 19
1.2.5. Quy trình kế toán hạch toán nghiệp vụ cho thuê tài chính 22
1.2.5.1. Kế toán giai đoạn mua tài sản cho thuê 22
2.2.3.2. Kế toán cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính - Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam 47
2.2.3.3. Công tác báo cáo kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính 50
2.3. Nhận xét, đánh giá về công tác nghiệp vụ cho thuê tài chính tại
Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 52
2.3.1. Những kết quả đạt được trong công tác kế toán nghiệp vụ CTTC tại
Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 52
2.3.2. Những hạn chế trong công tác kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính
tại Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 54
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN NGHIỆP
VỤ KẾ TOÁN CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH -
NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 57
3.1. Định hướng phát triển của Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam 57
3.1.1. Môi trường kinh doanh của các Công ty cho thuê tài chính 57
3.1.1.1. Thực trạng môi trường pháp lý của hoạt động cho thuê tài chính
ở Việt Nam 57
3.1.1.2. Yếu tố thị trường công nghệ 59
3.1.1.3. Yếu tố lãi suất 64
3.1.1.4. Tính cạnh tranh 66
3.1.1.5. Yếu tố khách hàng 67
3.1.2. Định hướng phát triển của các công ty cho thuê tài chính tại Việt
Nam 68
3.1.3. Mục tiêu hoạt động của Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam 69
3.2. Những giải pháp nhằm hoàn thiện nghiệp vụ kế toán cho thuê tài chính
tại Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 72
3.2.1. Giải pháp đối với tổ chức bộ máy kế toán 72
3.2.2. Giải pháp đối với kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính 73
3.2.3. Một số giải pháp cho các vấn đề khác 74
thuê tài chính - Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam" mà mục đích là nghiên
cứu và luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn để làm sáng tỏ hơn về hoạt
động kế toán cho thuê tài chính hiện nay. Trên cơ sở đó, tìm ra những giải
pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính tại Công
ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
II. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Do đề tài còn mới mẻ, thời gian thực tập chỉ diễn ra trong 2 tháng, cộng
thêm kiến thức lý luận còn hạn chế, nên khoá luận sẽ tập trung nghiên cứu kế
toán nghiệp vụ cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính -Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam; mà không đi sâu nghiên cứu về tất cả các nghiệp vụ
kế toán tại Công ty.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khoá luận có sử dụng những phương pháp nghiên cứu như: suy luận
lôgíc, phương pháp so sánh và thống kê…
IV. KẾT CẤU CỦA KHOÁ LUẬN
Tên khoá luận: "Một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán nghiệp vụ
cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam".
Chương I: Những vấn đề cơ bản về cho thuê tài chính và nghiệp vụ kế
toán cho thuê tài chính.
Chương II: Thực trạng công tác kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính tại
Công ty cho thuê tài chính- Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế
toán nghiệp vụ cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính- Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam.
Về phía chủ quan, em thấy đây là một đề tài khó do tính mới mẻ trong
thực tiễn và sự hạn chế về kiến thức của bản thân nên mặc dù đề tài đã hoàn
thành nhưng sẽ không tránh khỏi nhiều sai sót. Em rất mong tiếp tục nhận
được sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo, các cán bộ Công ty để bài
viết được hoàn chỉnh hơn.
Cùng với xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, tín
dụng thuê mua cũng đã ra đời và có những bước phát triển tương đối ở Châu
Á và nhiều khu vực khác trên thế giới kể từ đầu thập niên 70.
Và chắc chắn hình thức tài trợ có tính an toàn cao, tiện lợi và hiệu quả
đối với các bên tham gia của tín dụng thuê mua sẽ ngày càng phát triển mạnh
mẽ hơn nữa.
Với sự giúp đỡ của IMF, nghiệp vụ cho thuê tài chính được ra đời ở Việt
Nam năm 1991. Sau đó, ngày 27/5/1995, Ngân hàng nhà nước ra quyết định
số 149/QĐ- NH5 về việc ban hành thể lệ tín dụng thuê mua. Ngày 9/10/1995,
Chính phủ đã ra nghị định số 64CP về việc ban hành quy chế tạm thời về tổ
chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam. Điều1,
chương1 trong Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho
thuê tài chính tại Việt Nam chỉ rõ : “Cho thuê tài chính là một hoạt động tín
dụng trung, dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và động sản
khác. Bên cho thuê cam kết mua máy móc – thiết bị và động sản khác theo
yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên
thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã
được hai bên thoả thuận và không được huỷ hợp đồng trước hạn. Khi kết thúc
thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê
tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê “.
1.1.2. Khái niệm cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua
việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản
khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho
thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản
khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản
cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời
hạn thuê đã được hai bên thoả thuận (theo nghị định 16/2001/NĐ-CP của
Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính).
Như vậy, cho thuê tài chính là tất cả các nghiệp vụ cho thuê tài sản
trợ tương đối rộng rãi nên khuyến khích được nhiều đối tượng trong nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, cho thuê tài
chính đã góp phần giúp các quốc gia thu hút các nguồn vốn quốc tế thông qua
việc nhận các loại máy móc, thiết bị cho thuê mà không làm tăng các khoản
nợ nước ngoài của quốc gia đó.
Lợi ích này của cho thuê tài chính được thể hiện rõ nét đối với các nền
kinh tế đang phát triển bởi việc tích luỹ vốn của các nền kinh tế này gặp rất
nhiều khó khăn do hiệu quả của nền kinh tế thấp, thu nhập quốc dân chưa cao,
các doanh nghiệp phần lớn thuộc loại vừa và nhỏ. Cho thuê tài chính sẽ thu
hút vốn quốc tế giúp các doanh nghiệp hiện đại hoá sản xuất, tăng hiệu quả
hoạt động, từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.
Hai, cho thuê tài chính góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị,
cải tiến cho các kỹ thuật. Hoạt động cho thuê tài chính sẽ đưa các loại máy
móc, thiết bị có trình độ công nghệ tiên tiến cho các doanh nghiệp, góp phần
nâng cao trình độ công nghệ của nền sản xuất trong điều kiện có khó khăn về
vốn đầu tư.
Đối với các quốc gia phát triển, cho thuê tài chính giúp cập nhật công
nghệ hiện đại cho nền kinh tế nên nó vẫn phát huy mạnh mẽ.
Đối với các quốc gia đang phát triển, cho thuê tài chính càng phát huy
tác dụng mạnh mẽ hơn bởi nó đáp ứng được nhu cầu đổi mới công nghệ
nhanh chóng, giảm bớt sự tụt hậu về công nghệ trong thời đại bùng nổ công
nghệ như hiện nay. Từ đó, giúp các quốc gia này có những bước nhảy vọt,
theo kịp những nền kinh tế phát triển.
1.1.3.2. Lợi ích đối với người cho thuê
Sự khác biệt của nghiệp vụ cho thuê tài chính mang lại nhiều lợi ích
cho người cho thuê (hay nhà tài trợ) so với các nghiệp vụ tài trợ khác.
Trước hết, cho thuê tài chính là hình thức tài trợ có tính an toàn cao.
Lợi ích này xuất phát từ đặc điểm của cho thuê tài chính, đó là quyền sở hữu
tài sản cho thuê vẫn thuộc bên cho thuê nên họ có quyền kiểm tra, giám sát
việc sử dụng tài sản. Ngoài ra khoản tiền tài trợ được sử dụng đúng mục đích
Thứ ba, hoạt động thuê tài chính giúp các doanh nghiệp không thoả
mãn các yêu cầu vay vốn của các định chế tài chính cũng vẫn có thể nhận
được vốn tài trợ. Đặc thù của cho thuê tài chính là tính an toàn cao nên các
công ty cho thuê tài chính có thể sẵn sàng thoả mãn nhu cầu đầu tư của khách
hàng ngay cả khi uy tín hoặc khả năng tài chính của khách hàng còn hạn chế.
Thứ tư, hoạt động thuê tài chính có thể giúp doanh nghiệp đi thuê
không bị đọng vốn trong tài sản cố định. Trong trường hợp khách hàng đã
mua tài sản nhưng thiếu vốn lưu động, khách hàng có thể bán lại cho công ty
CTTC sau đó thuê lại. Như vậy khách hàng vừa có vốn để hoạt động, vừa có
tài sản để sử dụng.
Thứ năm, thuê mua tài chính là phương thức rút ngắn thời gian triển
khai đầu tư, đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh do các thủ tục, cũng như
các điều kiện tài trợ đơn giản hơn nhiều so với các phương thức tài trợ khác;
đồng thời cách thức cung ứng thiết bị được tổ chức khép kín nên tiết kiệm
được rất nhiều thời gian.
Thứ sáu, hoạt động thuê tài chính cho phép người thuê hiện đại hoá sản
xuất, theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ mới. Ngày nay, các cuộc cách
mạng công nghệ diễn ra thường xuyên hơn, đòi hỏi các thiết bị, máy móc phải
thay đổi liên tục để theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ mới; từ đó tạo ra
những sản phẩm có tính riêng biệt và có chất lượng cao, có sức cạnh tranh
trên thị trường là vấn đề tất yếu phải giải quyết đối với mọi doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường. Thông qua hoạt động thuê tài chính, các doanh
nghiệp có thể bán thiết bị cũ, nhập thiết bị mới và việc thay đổi thiết bị này
không đem lại bất cứ rủi ro nào về mặt pháp lý, cũng như về mặt hao mòn vô
hình đối với người thuê.
Thứ bảy, thuê tài chính cho phép các doanh nghiệp thu hút vốn nước
ngoài. Hiện nay, mức lãi suất ngoại tệ trên thị trường vốn quốc tế thấp hơn lãi
suất vay ở Việt Nam, do đó thông qua việc thuê máy móc, thiết bị của các
công ty thuê mua quốc tế hay các công ty thuê mua liên doanh ở Việt Nam,
các doanh nghiệp Việt Nam có thể nhận được vốn tài trợ có mức lãi suất thấp
Thứ hai, theo Hiệp định thống nhất luật dân sự về Tín dụng thuê mua
quốc tế do Hiệp hội tín dụng thuê mua quốc tế thoả thuận ngày 26/05/1988 tại
Ottawa- Canada thì: Cho thuê tài chính bao gồm các đặc điểm sau:
+ Người thuê chỉ rõ thiết bị và lựa chọn nhà cung cấp, không phụ thuộc
vào những kỹ năng và ý kiến của người cho thuê.
+ Thiết bị được đề cập trong thoả thuận thuê mua do người cho thuê
mua theo thoả thuận giữa người cho thuê và người thuê trong tình trạng mà
người thuê đã biết rõ về nhà cung cấp.
+ Những khoản tiền thuê phải trả theo thoả thuận của hợp đồng thuê
mua và được tính theo phương thức trả dần hay trả ngay một phần đáng kể chi
phí mua thiết bị.
Thứ ba, theo tiêu chuẩn của Uỷ ban kế toán Hoa Kỳ thì hoạt động cho
thuê tài chính phải thoả mãn những điều kiện sau:
+ Quyền sở hữu tài sản được chuyển cho người đi thuê khi chấm dứt
hợp thuê.
+ Hợp đồng thuê cho phép người đi thuê được quyền chọn mua tài sản
thuê với giá thấp hơn ở một thời điểm nào đó hay đến khi chấm dứt thời hạn
thuê.
+ Thời hạn thuê phải bằng hoặc lớn hơn 75% thời gian hoạt động ước
tính của tài sản thuê.
+ Giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu là 90% so
với giá trị tài sản thuê.
Các nhóm đặc điểm trên cho thấy: Tuỳ vào tình hình cụ thể của từng
quốc gia mà những nhà làm chính sách có một số thay đổi liên quan đến đặc
điểm của cho thuê tài chính. Chẳng hạn, một số nước quy định thời gian tối
thiểu của hợp đồng thuê mua là 2– 3 năm, nhưng lại có nước quy định thời
gian lên tới 100% thời gian hữu ích của tài sản. Trong khi nhiều quốc gia
khác lại khá linh hoạt, điển hình là Luật số 3462 ra ngày 27/12/1991 của Hàn
Quốc quy định: thời hạn thuê tối thiểu là 60% đời sống hữu ích của tài sản ;
còn nếu tài sản có đời sống hữu ích thì thời hạn đó là 70%.
Thứ năm, bên thuê phải được thực hiện khấu hao nhanh và phù hợp
với tiến độ trả tiền thuê nếu bên thuê hạch toán nội bảng. Nghĩa là bên thuê
được coi tài sản thuê như là một tài sản cố định hình thành từ nguồn vốn thuê
mua.
1.2. KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ CHO THUÊ TÀI CHÍNH.
Theo thông lệ, các quốc gia thường áp dụng các chuẩn mực kế toán
quốc tế 1991/1992 được IASC công bố và có hiệu lực từ ngày 01/01/1991 cho
các hoạt động thuê mua. Tuy nhiên, việc hạch toán cụ thể trong từng quốc gia
lại có những khác biệt nhất định. Nguyên nhân của sự khác biệt này là do các
quy tắc hạch toán thuê mua được căn cứ vào quyền sở hữu pháp lý hay căn cứ
vào quyền sử dụng.
Như đã nghiên cứu ở trên, đứng ở góc độ tín dụng, cho thuê tài chính
là loại hình tín dụng trung, dài hạn thông thường nhằm giúp các doanh nghiệp
giải quyết khó khăn về tài chính (vốn để đầu tư tài sản cố định). Vì thế, các
công ty cho thuê tài chính trực thuộc tổ chức tín dụng trong quá trình hoạt
động phải đảm bảo hai mặt: Một mặt, phải đảm bảo quy trình nghiệp vụ của
loại tín dụng “đặc thù” này, mặt khác phải tuân thủ quy chế tín dụng, kỹ thuật
kế toán cho vay nói chung của Ngân hàng thương mại.
Như vậy, tài sản thuê mua được “vốn hoá” vào trong hoạt động kinh
doanh của người thuê. Người cho thuê áp dụng nguyên tắc kế toán tài chính
không khấu hao và không đưa vào bảng tổng kết tài sản; tiền phí thuê thu về
được hạch toán như các khoản thu tài trợ vốn khác. Còn người thuê đưa tài
sản thuê vào bảng tổng kết tài sản và bắt đầu khấu hao tài sản này từ thời
điểm hợp đồng thuê có hiệu lực.
1.2.1. Nhiệm vụ và vai trò của kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính
1.2.1.1. Nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính
Kế toán cho thuê tài chính là công việc tính toán, ghi chép bằng con
số một cách kịp thời, đầy đủ, trung thực tất cả cácgiai đoạn trong quá trình
cho thuê tài chính. Cùng với công tác kế toán các hoạt động khác, kế toán
nghiệp vụ cho thuê tài chính tham gia trực tiếp vào quá trình kinh doanh của
lượng và số lượng.
Thứ ba, kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính phản ánh được toàn bộ
hoạt động tài chính, các khoản thu – chi, cũng như kết quả kinh doanh của
Công ty cho thuê tài chính. Qua đó, giúp công tác quản lý hoạt động cho thuê
tài chính đạt hiệu quả cao bằng cách tăng thu nhập và giảm chi phí, đảm bảo
kinh doanh có lãi.
Thứ tư, xuất phát từ đặc điểm của kế toán là mang tính tổng hợp cao,
cho nên kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính cùng với kế toán các nghiệp vụ
khác còn có vai trò cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác nhằm phục vụ cho
các hoạt động quan trọng của Công ty cho thuê tài chính như: hoạt động thanh
tra, kiểm soát, kiểm toán và phân tích hoạt động cho thuê tài chính.
1.2.2. Hợp đồng cho thuê tài chính là căn cứ để hạch toán quá trình cho
thuê, thu hồi vốn gốc và lãi
Hợp đồng cho thuê tài chính là căn cứ quan trọng nhất để hạch toán
giá trị tài sản cho thuê tài chính và hạch toán quá trình thu hồi vốn gốc và thu
lãi cho thuê tài chính.
Hợp đồng cho thuê tài chính là thoả thuận giữa bên cho thuê và bên đi
thuê về việc cho thuê một hoặc một số máy móc, thiết bị, phương tiện vận
chuyển và các động sản khác phù hợp với quyền và nghĩa vụ của các bên
tham gia.
Hợp đồng cho thuê tài chính phải được lập thành văn bản phù hợp với
quy định của pháp luật và là loại hợp đồng không được phép huỷ ngang,
ngoại trừ những trường hợp đặc biệt. Trước khi hợp đồng cho thuê tài chính
có hiệu lực, các bên tham gia phải tiến hành đăng ký tại cơ quan quản lý hợp
đồng theo quy định của pháp luật. Tuỳ theo đặc điểm pháp lý và điều kiện
riêng của từng quốc gia, hợp đồng cho thuê tài chính sẽ có những khác biệt
nhất định; nhưng về mặt nguyên tắc, các hợp đồng cho thuê tài chính đều phải
đảm bảo những nội dung cơ bản và những diều khoản, điều kiện đảm bảo như
sau:
+ Số hợp đồng, ngày – tháng – năm ký hợp đồng.
thống tài khoản này, nghiệp vụ cho thuê tài chính được hạch toán, theo dõi ở
tài khoản nội bảng cấp một 23 “Cho thuê tài chính”. Nội dung hạch toán tài
khoản này như sau:
* Tài khoản 231- Cho thuê tài chính bằng đồng Việt Nam.
- Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị tài sản cho thuê tài chính bằng
đồng Việt Nam, khách hàng đang thuê theo hợp đồng và phần giá trị tài sản
cho thuê tài chính được Công ty CTTC đánh giá là có khả năng trả đúng hạn
và đầy đủ khi đến hạn trả mới.
Bên nợ ghi: Giá trị tài sản giao cho khách hàng thuê tài chính theo hợp
đồng.
Bên có ghi: Giá trị tài sản cho thuê tài chính được thu hồi khi khách
hàng trả tiền theo hợp đồng.
Số dư nợ: Phản ánh giá trị tài sản giao cho khách hàng thuê tài chính
đang nợ trong hạn.
Hạch toán chi tiết: Mở tài khoản chi tiết theo từng khách hàng thuê tài
chính.
* Tài khoản 231 có các tài khoản cấp III sau:
2311: Nợ cho vay trong hạn và đã được gia hạn nợ.
2312: Nợ quá hạn đến 180 ngày, có khả năng thu hồi.
2313: Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày có khả năng thu hồi.
2318: Nợ khó đòi.
* Tài khoản 232- Cho thuê tài chính bằng ngoại tệ.
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị tài sản cho thuê tài chính bằng
ngoại tệ, khách hàng đang thuê theo hợp đồng và phần giá trị tài sản cho thuê
tài chính được Công ty CTTC đánh giá là có khả năng trả đúng hạn, đầy đủ
khi đến hạn trả mới.
Nội dung hạch toán của tài chính khoản 232 giống như nội dung hạch
toán tài khoản 231.
* Tài khoản 233: Đầu tư bằng đồng Việt Nam vào các thiết bị cho thuê
tài chính.
tổng kết tài sản của Công ty CTTC nhưng thực chất vẫn thuộc quyền sở hữu
của Công ty CTTC nên được theo dõi ở tài khoản ngoại bảng sau:
- Tài khoản 951: Tài sản dùng để CTTC đang quản lý tại Công ty.
Tài khoản này dùng để phản ánh các tài sản dùng để CTTC đang quản
lý tại các Công ty CTTC. Giá trị tài sản được theo dõi theo giá mua ban đầu.
Bên nhập ghi: Giá trị tài sản dùng để cho thuê tài chính nhận về Công
ty CTTC quản lý.
Bên xuất ghi: Giá trị tài sản dùng để cho thuê tài chính quản lý tại Công
ty CTTC được xử lý.
Số còn lại: Phản ảnh giá trị tài sản dùng để CTTC đang quản lý tại
Công ty CTTC.
Hạch toán chi tiết: Mở tài khoản chi tiết theo từng tài sản dùng để cho
thuê tài chính.
Ngoài sổ tài khoản chi tiết, công ty CTTC mở sổ theo dõi chi tiết từng khách
hàng thuê tài sản.
- Tài khoản 952: Tài sản dùng để cho thuê tài chính đang giao cho
khách hàng thuê.
Tài khoản này dùng để phản ánh các tài sản dùng để CTTC đang giao
cho khách hàng thuê. Giá trị tài sản được theo dõi theo giá mua ban đầu.
Bên nhập ghi: Giá trị tài sản dùng để CTTC giao cho khách hàng thuê.
Bên xuất ghi: Giá trị tài sản dùng để CTTC giao cho khách hàng thuê
được xử lý hoặc nhận về Công ty.
Số còn lại: Phản ánh giá trị tài sản dùng để CTTC đang giao cho khách hàng thuê.
Hạch toán chi tiết: Mở tài khoản chi tiết theo từng tài sản dùng để CTTC.
Ngoài sổ tài khoản chi tiết, công ty CTTC mở sổ theo dõi chi tiết từng
khách thuê tài sản.
1.2.3.2. Chứng từ sử dụng trong kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính
Ngoài các chứng từ ghi sổ thông thường dùng trong kế toán tín dụng, còn
sử dụng các chứng từ gốc chuyên dùng cho nghiệp vụ cho thuê tài chính như:
- Hợp đồng CTTC.
a =
P.i.(1 + i)
n
(1 + i)
n
- 1
* Phương pháp 2: Tiền thuê trả vào đầu mỗi kỳ, niên kim cố định tổng
số tiền tài trợ là:
P = a +
a
+
A
+ …+
a
(1 + i) (1 + i)
2
(1 + i)
n
⇒P =
a[(1 + i)
n+1
- 1]
i(1 + i)
n
Số tiền thanh toán mỗi kỳ là:
a =
P.i.(1 + i)
n
(1 + i)
- 1
+
V
i(1 + i)
n
(1 + i)
n
Giá trị mỗi niên kim là:
a =
P -
V
.i (1 + i)
n
(1 +i)
n
(1 + i)
n
- 1
a =
P (1 + i)
n
- V.i
(1 + i)
n - 1
* Phương pháp 5: Tính tiền thuê theo niên kim cố định, đầu kỳ, có giá
trị bán ấn định khi kết thúc hợp đồng.