MỤC LỤC
MỤC LỤC.........................................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................4
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ CHO VAY CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.......................................................................................6
1.1. Tổng quan về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại . .6
1.1.1. Khái niệm về cho vay của ngân hàng thương mại..................6
1.1.2. Vai trò của hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại....8
1.1.2.1. Đối với sự nghiệp phát triển kinh tế..................................8
1.1.2.2. Đối với bản thân ngân hàng...............................................9
1.1.3. Các phương thức cho vay của ngân hàng thương mại.........10
1.1.3.1. phương thức cho vay từng lần.........................................13
1.1.3.2. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng..................17
1.2. Tổng quan về kế toán nghiệp vụ cho vay của ngân hàng
thương mại..........................................................................................21
1.2.1. Khái niệm về kế toán nghiệp vụ cho vay................................21
1.2.2. Vai trò của kế toán nghiệp vụ cho vay....................................22
1.2.3. Chứng từ và tài khoản phản ánh kế toán nghiệp vụ cho vay
.............................................................................................................24
1.2.3.1. Chứng từ kế toán nghiệp vụ cho vay...............................24
1.2.3.2. Tài khoản phản ánh kế toán nghiệp vụ cho vay..............25
1.2.4. Nội dung kế toán nghiệp vụ cho vay.......................................31
1.2.4.1. Nội dung kế toán nghiệp vụ cho vay từng lần.................31
1.2.4.2. Nội dung kế toán nghiệp vụ cho vay theo hạn mức tín
dụng..............................................................................................35
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG NỘI DUNG KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ CHO VAY
TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HƯNG YÊN.......................38
2.1. Khái niệm về tình hình hoạt động của chi nhánh ngân hàng
ngoại thương hưng yên.......................................................................38
2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển.............................................38
2
3.2.2. Giải pháp về khoản lãi chưa thu, hạch toán các khoản thu lãi
.............................................................................................................70
3.2.2.1. Lãi chưa thu.....................................................................70
3.2.2.2. Thu lãi..............................................................................71
2.3.2. Giải pháp về phương thức cho vay và thu hồi vốn................71
3.2.3.1. Vấn đề về nợ trước hạn...................................................71
3.2.3.2. Thực hiện đôn đốc thu nợ và lãi......................................71
3.2.3.3. Thực hiện kế toán dự thu, dự trả.....................................72
3.2.4. Giải pháp về chuyển, xử lý nợ quá hạn, lập quỹ dự phòng rủi
ro tín dụng..........................................................................................72
3.2.4.1. Xử lý nợ quá hạn.............................................................72
3.2.4.2. Chuyển nợ quá hạn kịp thời............................................73
3.2.4.3. Lập quỹ dự phòng rủi ro..................................................73
3.2.5. Giải pháp về hệ thống thông tin và nguồn nhân lực.............73
3.3. Một số kiến nghị...........................................................................74
3.3.1. Kiến nghị với ngân hàng ngoại thương Việt Nam................74
3.3.2. Kiến nghị với ngân hàng Trung Ương...................................74
3.3.3. Kiến nghị với Nhà nước..........................................................74
KẾT LUẬN.....................................................................................................................75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................76
3
Lời mở đầu
Trong giai đoạn hiện nay, quá trình công nghiệp hoá và hiện đại
hoá có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Công nghiệp
hoá hiện đại hoá tạo điêù kiện cho nước ta phát triển về mọi mặt. Từ đó
nền kinh tế mới có điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong
khu vực và trên thế giới, hoà nhập với các xu thế quốc tế, là cơ sở tham
gia vào tổ chức thương mại quốc tế. Để đạt được thành công trong quá
đề tài này.
5
Chương 1. Lý luận chung về kế toán nghiệp vụ cho vay
của ngân hàng thương mại.
1.1. Tổng quan về họat động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về cho vay.
Khái niệm về cho vay là một khái niệm rộng, nó có thể được định
nghĩa trên nhiều góc độ khác nhau. Xét định nghĩa cho vay một cách thô
sơ nhất, thuần túy nhất: Giao dịch cho vay (vay nợ) là giao dịch trong đó
bên cho vay cung ứng một lượng tiền (hàng hóa) duy nhất có giá trị nào
đó cho bên đi vay để đổi lấy nhiều lần trả nợ nhỏ từ phía bên đi vay cho
bên cho vay theo thời gian, thường là theo một lịch trình cố định. Tổng số
các khoản hoàn trả nhỏ theo chu kỳ này thường là lớn hơn giá trị của
khoản cho vay ban đầu. Số chênh lệch trong các khoản thanh toán đó gọi
là lãi.
Trong hoạt động của ngân hàng, người ta không dùng từ “cho vay”
mà dùng một thuật ngữ khác bao trùm hơn, rộng hơn và mang đậm bản
chất của ngành ngân hàng, đó là thuật ngữ “tín dụng”, thuật ngữ “tín
dụng” về bản chất giống “cho vay” nhưng cái mà bên cho vay cung ứng
không chỉ đơn thuần là tiền (hàng hóa) mà nó là “tài sản”, tài sản mang
tính chất bao trùm hơn, rộng hơn. Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín
dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể.
Trong hoạt động tín dụng thì phổ biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng
và các định chế tài chính khác với các doanh nghiệp và các nhân thể hiện
dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và
sau một thời gian nhất định người đi vay phải thanh tóan vốn gốc và lãi.
Như vậy vô hình chung thì hai thuật ngữ “cho vay” và “tín dụng” hầu như
hoàn tòan không có sự khác biệt, do đó trong nhiều tình huống chúng
được sử dụng thay cho nhau mà người đọc vẫn thấy thông suốt về í nghĩa.
cho vay cố định là r thì: r = r1 + r2 + r3
- r1: là tỉ lệ lạm phát, r1 biểu thị cho giá trị của tiền bị
“mất đi” trong suốt thời gian cho vay, điều này có
nghĩa là mặc dù đến khi hết hạn, gốc được hoàn trả
đúng như số cho vay ban đầu, nhưng giá trị thực tế
của khỏan cho vay đó đã giảm đi so với thời điểm
cho vay.
- r2: là chi phí sử dụng nguồn, nó bao gồm chi phí
quản lý vốn phát sinh khi nguồn vốn được sử dụng
bởi cá nhân, tổ chức khác dưới hình thức cho vay. Vì
nguồn lực là có hạn, do đó việc sử dụng nó cần phải
có sự xem xét cẩn thận và kỹ lưỡng, đồng thời khi sử
dụng nó phát sinh ra chi fí sử dụng và quản lý.
- r3: đây là lãi suất thực của ngân hàng, ngân hàng
cũng là một tổ chức kinh tế, hoạt động trên nguyên
tắc là tìm kiếm lợi nhuận, do đó bất cứ hoạt động
nào của nó cũng tuân theo nguyên tắc lợi nhuận làm
cơ cở.
7
Thông thường thì trong 3 thành tố cấu thành nên lãi suất cho vay
thì tỷ lệ lạm phát chiếm phầm chủ yếu. Đối với Việt Nam, nó dao động
trong khoảng 7% - 8% hoặc có thể cao hơn tùy từng thời kì phát triển
kinh tế. Phần chi phí sử dụng, quản lý vốn thường là có 1 tỷ lệ cố định, do
đó các ngân hàng cạnh tranh nhau ở r3 là chủ yếu, r3 cao hoặc thấp tùy
từng hoàn cảnh cụ thể, tuy vậy, yếu tố thời gian cũng làm ảnh hưởng
đáng kể tới nó. Ví dụ là nếu khoản vay là dài hạn thì lãi suất sẽ được nâng
lên, do phải đối mặt với rủi ro lớn hơn. Tóm lại, lãi suất của ngân hàng
chính là chi phí cơ hội cho việc sử dụng một khoản vốn vay, do đó cá
nhân, tổ chức trước khi tiến hành hoạt động cho vay cần trù bị trước lãi
cũng đúng trong các ngành kinh tế mũi nhọn mà ở đó, việc đầu tư luôn
cần một lượng vốn cực lớn mà việc phát hành trái khoán luôn mất rất
nhiều thời gian.
Nếu như chính phủ Việt Nam đưa ra một chính sách tiền tệ thắt
chặt thì đi đầu sẽ là hệ thống các các ngân hàng, thông qua việc huy động
vốn và cho vay, sẽ giúp chính phủ điều tiết lượng tiền trong lưu thông và
góp phần vào chống lạm phát. Như vậy, ngòai vai trò là “nhà cung cấp
vốn” cho các cá nhân, tổ chức – vô hình chung đã đóng vai trò là đòn bẩy
kinh tế, thúc đẩy sự phát triển, đồng thời nó gián tiếp tạo ra công ăn việc
làm, giúp ổn định xã hội. Đây chính là một công cụ quan trọng của chính
phủ trong điều tiết và quản lý xã hội.
1.1.2.2. Đối với bản thân ngân hàng.
Ngân hàng là một doanh nghiệp, mà hoạt động của doanh nghiệp
nào đi nữa thì mục đích cuối cùng vẫn là lợi nhuận. Hoạt động chính của
một ngân hàng gồm 2 mảng chính. Một là tập hợp nguồn vốn, thứ hai đó
là hoạt động cho vay. Hoạt động tập hợp vốn (nhận tiền gửi hoặc huy
động vốn từ các nguồn khác) cùng với việc quản lý vốn làm phát sinh chi
phí. Do đó thì hoạt động cho vay chính là hoạt động chính tạo ra thu nhập
của ngân hàng. Đối với một doanh nghiệp thì đầu ra là quyết định, trước
đây, trong nền kinh tế bao cấp, chúng ta chỉ quan tâm đến sản xuất cái gì,
chứ không quan tâm đến sản xuất cho ai, ai sẽ mua và mua bao nhiêu,
nhưng giờ đây quan niệm đã thay đổi cùng với thời gian, do đó xuất hiện
rất nhiều ngân hàng với mục đích cho vay khác nhau: cho vay tiêu dùng,
cho vay sản xuất…
Do đó, đối với chính bản thân ngân hàng thì nghiệp vụ cho vay là
nghiệp vụ quan trọng hàng đầu, quyết định tới lợi nhuận, khả năng cạnh
tranh cũng như ảnh hưởng tới sự phát triển trong tương lai của ngân hàng.
Nói tóm lại, nghiệp vụ cho vay có vai trò đặc biệt quan trọng, đối
với bản thân ngân hàng nói riêng và với tòan bộ nền kinh tế cũng như xã
hội nói chung.
nghệ và mở rộng sản xuất kinh doanh
Cho vay dài hạn Việt Nam là 3 năm trở lên (nước ngòai là 7
năm). Mục đích cho vay dài hạn là để đáp ứng các nhu cầu dài
hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy
mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
Cho vay không đảm bảo là loại cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho
10
vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những
khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài
chính mạnh, quản trị hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng
dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một
nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.
Cho vay đản bảo là loại cho vay được ngân hàng cung ứng, phải
có tài sản thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của
người thứ ba.
Căn cứ vào hình thái giá trị:
Cho vay bằng tiền là loại cho vay mà hình thái giá trị của khoản
cho vay là bằng tiền. Đây là loại cho vay chủ yếu của các ngân
hàng và việc thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau như: tín
dụng ứng trước, thấu chi, dễ dãi ngân quỹ, tín dùng thời vụ….
Cho vay bằng tài sản là hình thức cho vay mà hình thái giá trị
của khoản cho vay là tài sản.
Căn cứ vào phương pháp hoàn trả:
Cho vay trả góp: là loại cho vay mà khách hàng phải hoàng trả
vốn gốc và lãi theo định kỳ. Loại cho vay này chủ yếu được áp
dụng cho vay bất động sản nhà ở, cho vay tiêu dùng và cho vay
đối với những người kinh doanh nhỏ.
dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín
dụng.
2- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng
xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một
khoảng thời gian nhất đình.
3- Cho vay theo dự án đầu tư Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay
vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
4- Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối
với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng;
trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp
với các tổ chức tín dụng khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo
quy định của Quy chế này và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức
tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
5- Cho vay trả góp; Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng
xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc
được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
6- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam
kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn
mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả
thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí
trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
12
7- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng:
Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn
vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng
hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng
tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử
dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo
Thủ tục để làm hồ sơ cũng khá rắc rối. Bên đi vay khi nhận thấy
có nhu cầu vay vốn thì họ fải gửi đến ngân hàng cho vay bộ hồ sơ
gồm các giấy tờ sau: Đơn xin vay, các tài liệu thuyết minh cho đơn
xin vay: hồ sơ pháp lý, phương án sản xuất kinh doanh, tài liệu thế
chấp, cầm cố tài sản.
Ngân hàng sau khi thu được các tài liệu trên, cán bộ làm công
tác cho vay cần tiến hàn đánh giá, thẩm định, thu thập và phân tích
thông tin trên những mặt quan trọng sau:
Tư cách và điều kiện của người vay vốn.
Tính hợp pháp, hợp lệ của các tài liệu, giấy tờ trong hồ sơ xin
vay vốn.
Tiềm lực tài chính của khách hàng.
Mục đích vay vốn và hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn vay,
khả năng trả nợ Ngân hàng khi đến hạn thanh tóan.
Tài sản thế chấp, cầm cố của bên đi vay.
Nếu dùng từ ngữ chuyên ngành thì đây chính là khâu thẩm định dự án
tài chính. Nó xem xét dự án trên 2 khía cạnh: tính khả thi của dự án và
khả năng thanh tóan của khách hàng. Khi thấy tính khả thi của hồ sơ cho
vay thì giám đốc ngân hàng (hoặc giám đốc chi nhánh) sẽ quyết định phê
duyệt hay không để phản hồi lại cho khách hàng là món vay của họ được
chấp nhận hay không.
Tiếp đó thì hồ sơ xin vay đã được thủ trưởng của cơ quan ký (giám đốc
ngân hàng hoặc chi nhánh) sẽ được chuyển trực tiếp cho cán bộ có thẩm
quyền phụ trách các món vay (thông thường là cán bộ tín dụng) để cán bộ
tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hợp đồng (tín dụng). Sau đó đơn xin
vay và hợp đồng vay tiền được cán bộ tín dùng chuyển tiếp cho bộ phận
kế tóan để họ thực hiện nghiệp vụ kế tóan vào sổ sách và xuất tiền vay
cho khách hàng. Cũng tùy vào nhu cầu sử dụng tiền vay mà có thể khỏan
vay được xuất ra dưới dạng tiền mặt hoặc được chuyển thẳng vào tài
khỏan giao dịch của khách hàng, qua đó khách hàng có thể thực hiện giao
ngân hàng. Trong quá trình cho vay vốn, ngân hàng luôn fải kiểm tra
thường xuyên về khoản cho vay của mình: khách hàng có sử dụng đúng
mục đích không. Thông thường thì trước ngày đến hạn, cán bộ cho vay sẽ
phải lập thông báo và gửi nó đến cho khách hàng, báo với họ về khoản nợ
sắp đến hạn và nhắc nhở họ chuẩn bị trả tiền. Trong trường hợp khách
hàng trả trước hạn thì luôn có một lãi suất thấp hơn lãi suất áp dụng cho
khoản vay, đó là do khoản chiết khấu mà khách hàng được hưởng từ việc
trả nợ trước hạn, điều này cũng thúc đẩy, khuyến khích người đi vay tăng
thêm trách nhiệm của họ đối với khỏan cho vay. Khi thanh tóan với ngân
hàng, hình thức chủ yếu có thể là uỷ nhiệm chi hoặc thanh tóan bằng tiền
mặt. Trong trường hợp khách hàng đến hạn không trả nợ thì tùy vào
trường hợp cụ thể mà ngân hàng có thể gia hạn nợ hoặc chuyển nợ quá
hạn. Trong trường hợp do lý do khách quan thì khách hàng cần fải làm
15
đơn xin gia hạn nợ và gửi trực tiếp đến ngân hàng trước thời gian đến hạn
của món vay.
Như vậy phương thức cho vay từng lần luôn phân định rõ thời gian
cho vay và thời gian trả nợ, trên thực tế mặc dù được sử dụng rất nhiều
nhưng nó bộc lộ khá nhiều ưu và nhược điểm:
• Ưu điểm:
Đây là phương thức cho vay được đánh giá là linh
họat trong quá trình sử dụng vốn của ngân hàng, giúp
cho ngân hàng mở rộng được kinh doanh, phục vụ các
đối tượng của nó mà vẫn đảm bảo được tính an tòan
do kiểm soát tốt được tình hình dự án mà bên đi vay
đang chuẩn bị thực hiện, qua đó nắm thế chủ động,
giúp cho ngân hàng tạo được uy tín do hoạt động kinh
doanh ngày càng hiệu quả.
Với các thời điểm cho vay và trả nợ được xác định
hàng sẽ là người bị ảnh hưởng rất lớn bởi kế hoạch
của họ đã lên từ trước, nếu khách hàng không trả các
khỏan nợ đúng hạn nhiều khi dẫn đến hiện tượng vốn
lưu động của ngân hàng bị khách hàng chiếm dụng
một cách vô lý. Nguyên nhân của hiện tượng này là do
phần lớn thời gian hoàn trả nợ là mang tính chủ quan
của cả hai bên: ngân hàng và người đi vay vốn.
Như vậy phương pháp cho vay từng lần đã được nêu ở trên tuy
được sử dụng khá phổ biến, nhưng còn rất nhiều bất cập, nhất là trong
khâu thủ tục và việc định thời gian hoàn trả vốn và lãi, ta hãy cùng xem
xét phương pháp cho vay theo hạn mức tín dụng, đây cũng là một phương
thức cho vay phổ biến thứ hai trên thực tế hiện nay tại nước ta.
1.1.3.2. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng.
Phương thức thứ hai này được áp dụng cho việc cho vay và thu nợ
căn cứ vào quá trình nhập và xuất vật tư hàng hóa, nó làm giảm tính chủ
quan của phương pháp đầu tiên. Bên cho vay sẽ xuất vốn cho bên đi vay
khi bên đi vay có nhu cầu vốn phát sinh để nhập nguyên nhiên vật liệu
đầu vào cho sản xuất, kinh doanh: nhập vật tư hàng hóa, đồng thời thì
việc thu nợ sẽ căn cứ vào việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh
nghiệp khi họ bắt đầu thu được lợi nhuận từ hoạt động này. Theo đó thì
khách hàng sẽ được ngân hàng cấp cho một hạn mức tín dụng trong một
khoảng thời gian nhất định (thường là một vòng quay kinh doanh của
khách hàng).
Căn cứ vào định nghĩa trên, chúng ta có thể đưa ra được một kết luận
đơn giản: đối tượng của phương thức cho vay từng lần là cá nhân, tập thể,
doanh nghiệp… có nhu cầu sử dụng vốn vay thường xuyên cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình. Thực vậy, trong thực tế khảo sát thì đối
tượng của phương pháp này thường là:
Các doanh nghiệp mà trong quá trình hoạt động kinh doanh
thường xuyên có nhu cầu vay vốn.
bao gồm các thành tố đầu vào như vật tư hàng hóa, nguyên nhiên
vật liệu cho tới các yếu tố đầu ra như chi phí tiêu thụ sản phẩm…
Vốn lưu động tự có và tự huy động là nguồn vốn mà cá nhân,
doanh nghiệp có thể tự xoay sở được mà không cần tới sự giúp đỡ
của ngân hàng, có rất nhiều nguồn: vốn tự có, vốn góp, vốn do
ngân sách cấp, vốn liên doanh, các khỏan tạm thời sử dụng, lãi
chưa phân phối….
Khi tài liệu về vốn vay đến tay cán bộ của ngân hàng thì họ sẽ tiến
hành thẩm định lại để xác định lại, đây là bước thẩm định hồ sơ vay vốn,
đồng thời kèm theo sự điều chỉnh về nhu cầu vốn vay sao cho hợp lý và
thật sự chính xác. Đi kèm với khâu thẩm đinh là tự cân đối nguồn vốn tự
có của mình để dự trù việc phân bổ nguồn vốn cho bên đi vay thông qua
hoạt động cho vay. Bước thỏa thuận về hạn mức tín dùng thì do ngân
hàng và khách hàng cùng thỏa thuận, bàn bạc với nhau để đưa ra con số
cuối cùng. Khi đã xác định được hạn mức thì cả hai bên cùng bàn bạn để
18
xác định thời hạn cho vay theo kế hoạch. Thời hạn cho vay theo hạn mức
trung và dài hạn là số ngày của một vòng luân chuyển vốn vay, xác định
bởi công thức:
T
C
90
Số vòng quay vốn
vay
Theo đó: T
CV là
thời hạn cho vay
Số vòng quay vốn vay
Ttd
=
-
dụng
Quý
khi cho vay
Khi đến hạn thu nợ thì phương thức này yêu cầu khi nào doanh
nghiệp có thu nhập thì toàn bộ tiền thu bán hàng và các khỏan thu có
nguồn gốc khác phải đưa vào tài khoản cho vay theo hạn mức tín dụng để
trả nợ.
Cũng giống như phương thức cho vay từng lần, phương thức này cũng
có nhưng ưu và nhược điểm riêng:
Ưu điểm:
Đối với khách hàng: đây là phương thức cho vay rất linh
hoạt, thủ tục cũng không rườm rà đồng thời có thể vay gộp chung
cho nhiều đối tượng. Khách hàng chỉ cần làm thủ tục xin cho vay
vốn một lần duy nhất, còn các lần sau chỉ cần guiử các chứng từ
hóa đơn phù hợp mà thôi. Do đó khách hàng có thể hoàn tòan chủ
động trong việc vay và thanh tóan nợ. Bên cạnh đó phương thức
này giúp cho khách hàng giảm bớt một khoản chi phí về vốn khi
mua nguyên nhiên vật liệu: khi mua chỉ cần chi trả trên tài khỏan
hạn mức tín dụng, vừa không fải trả lãi tiền vay, vừa không bị đong
vốn như phương pháp đầu tiên.
Đối với ngân hàng: do việc thường xuyên mua bán trao
đổi thông qua tài khoản hạn mức tín dụng của khách hàng ở ngân
hàng, vô hình chung nó đã đem lại cho ngân hàng một khỏan thu
thường xuyên, đồng thời giúp ngân hàng kiểm soát hoạt động kinh
doanh, tình hình tài chính của bên đi vay. Ngòai ra một điểm rất
hay của phương thức này đó là mặc dù việc cho vay và trả nợ đan
xem vào nhau nhưng vẫn có thể phạt nợ quá hạn đối với đơn vị đi
quan trọng hơn bởi số lượng nghiệp vụ diễn tra trong ngày là vô cùng lớn.
Do vậy có thể nói kế tóan ngân hàng vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật
ghi chép, phân lọai, tổng hợp và giải thích các nghiệp vụ tác động đén
tình hình tài chính của các ngân hàng, nó là cơ sở để đưa ra quyết định
kinh tế liên quan đến mục tiêu quản lý kinh doanh, đánh giá, thẩm định
tình hình hoạt động của ngân hàng.
Như vây, kế toán nghiệp vụ cho vay là một bộ phận của kế tóan
ngân hàng, đó là công việc ghi chép, tính toán một cách đầy đủ, chính xác
các khoản thu nợ, thu lãi và theo dõi dư nợ tín dụng của ngân hàng. Trên
21
cơ sở đó bảo vệ an tòan vốn vay cho ngân hàng và cung cấp các thông tin
cần thiết để cho việc quản lý và điều hành hoạt động tín dụng của ngân
hàng.
Hoạt động kế tóan nghiệp vụ cho vay và hoạt động cho vay của
bản thân ngân hàng có mối quan hệ hữu cơ: hoạt động cho vay của ngân
hàng đóng vai trò là đòn bẩy thúc đẩy kinh tế phát triển, là một trong
những hoạt động chính mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, do đó để cho
hoạt động này thực hiện thực sự tốt thì việc phối hợp nhịp nhàng với các
hoạt động khác là vô cùng cần thiết, đặc biệt là nghiệp vụ kế tóan. Đây là
công việc có tính chất hai mặt: một mặt là trực tiếp ghi chép các nghiệp
vụ diễn ra, bên cạnh đó là công việc quản lý tình hình tài sản và nguồn
vốn gián tiếp. Như vậy hoạt động kế tóan nghiệp vụ ngân hàng không chỉ
đơn thuần là hoạt động nghiệp vụ kế tóan thuần túy, nó cùng với hoạt
động cho vay của ngân hàng bổ sung, hỗ trợ cho nhau.
Trong quá trình hoạt động thì nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ cho vay
thể hiện rõ ở các mặt sau:
Kế tóan nghiệp vụ cho vay thực hiện vai trò của nghiệp vụ
kế tóan, đó là ghi chép, xác lập các chứng từ một cách hợp pháp;
tiến hành công việc bảo quản, kiểm soát chặt chẽ các hồ sơ chứng
chung của ngân hàng.
Kế tóan nghiệp vụ cho vay là công cụ hữu hiệu “bảo quản”
tốt nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng, nó không chỉ thực hiện
nhiệm vụ ghi chép kế tóan thuần túy mà giúp quản lý rủi ro trong
hoạt động cho vay cũng như khả năng không thu hồi được vốn vay,
vô hình chung giúp nguồn thu nhập của ngân hàng trở nên ổn định
hơn.
Kế tóan nghiệp vụ cho vay một cách gián tiếp giúp các cơ
quan có thẩm quyền đánh giá được tình hình đầu tư, phát triển thực
tế của các ngành kinh tế: phạm vi, khối lượng vốn đầu tư, lợi nhuận
kì vọng của các ngành… tất nhiên đây là một việc không đơn giản
chút nào, cần phải có một phương pháp tổng hợp các số liệu kế
tóan thuần túy trên các trường dữ liệu được sắp xếp từ ban đầu.
Cuối cùng, đây chính là công cụ đắc lực của Đảng, nhà nước
về các vân đề lớn liên quan trực tiếp đến tiền tệ như các chính sách
tín dùng, chính sách tiền tệ, chính sách tài chính mà trong đó ngân
hàng là đơn vị cần áp dụng các khung lãi suất mà chính phủ quy
định (do ngân hàng Trung Ương ban hành chỉ thị cụ thể), góp phần
thúc đẩy kinh tế phát triển, kiểm soát lạm phát, tạo công ăn việc
làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Trên thực tế, với tốc độ phát triển nhanh của các ngân hàng nói
riêng và với tình hình gia nhập tổ chức thương mại quốc tế nói riêng
thì việc áp dụng khung lãi suất đã được thay bằng áp dụng lãi suất
“sàn” và “trần” mà ngân hàng Trung Ương quy định, tạo thế chủ động
tìm kiếm khách hàng và lợi nhuận cho các ngân hàng, tuy vậy không
vì thế mà vị trí, vai trò của nghiệp vụ kế tóan ngân hàng thương mại
23
lại giảm xuống. Nó luôn giữ vị trí ưu tiên hàng đầu trong hoạt động
của các ngân hàng.
mặt).
o Chứng từ thanh tóan không dùng tiền mặt như ủy nhiệm chi,
thẻ thanh tóan (hình thức chuyển khoản).
24
o Trường hợp tài khoản tiền gửi của người đi vay được ngân
hàng chủ động trích lập ra để thu nợ, lãi… thì có phiếu chuyển
khoản và bản kê lãi hàng tháng.
Các chứng từ không chỉ quan trọng bởi tính chất pháp lý mà nó giúp
cho việc quản lý hoạt động của ngân hàng được tốt hơn, vào cuối mỗi
tuần, tháng, quý, năm thì các chứng từ đó được tập hợp lại để giúp cho
việc thành lập các báo cáo tổng họp.
1.2.3.2. Tài khoản phản ánh kế toán nghiệp vụ cho vay.
Theo quyết định số 435/1998/QĐ – NHNN và văn bản 155/CV –
NHNN thì các tài khoản được sử dụng trong kế tóan nghiệp vụ cho vay
được chia làm hai loại: tài khoản nội bảng – phản ánh các khoản nợ trong
hạn, quá hạn và tài khoản ngoại bảng – phản ánh lãi dự thu, tuy vậy mục
đích chính của nó vẫn là để phản ánh tình hình về tài sản của khách hàng
– chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng tài sản của ngân hàng (phần tổng tài
sản “có”).
Ngòai ra thì người ta cũng sử dụng các tài khoản khác có liên quan
trong hệ thống tài khoản kế tóan như: TK tiền lãi cộng dồn dự thu, TK dự
phòng phải thu khó đòi...
1.2.3.2.1. Tài khoản nội bảng.
Tài khoản nội bảng chia làm 4 loại:
Tài khoản cho vay phản ánh nợ trong hạn bằng VNĐ và ngoại
tệ.
Tài khoản nợ quá hạn – 2112, 2113, 2118
Tài khoản “lãi cộng dồn dự thu” - 217
Tài khoản dự phòng fải thu khó đòi - 219