Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
MỤC LỤC.........................................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................4
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ CHO VAY CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.......................................................................................6
1.1. Tổng quan về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ..6
1.1.1. Khái niệm về cho vay của ngân hàng thương mại..................6
1.1.2. Vai trò của hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại....8
1.1.2.1. Đối với sự nghiệp phát triển kinh tế...................................8
1.1.2.2. Đối với bản thân ngân hàng................................................9
1.1.3. Các phương thức cho vay của ngân hàng thương mại.........10
1.1.3.1. phương thức cho vay từng lần..........................................13
1.1.3.2. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng..................17
1.2. Tổng quan về kế toán nghiệp vụ cho vay của ngân hàng
thương mại..........................................................................................21
1.2.1. Khái niệm về kế toán nghiệp vụ cho vay................................21
1.2.2. Vai trò của kế toán nghiệp vụ cho vay....................................22
1.2.3. Chứng từ và tài khoản phản ánh kế toán nghiệp vụ cho vay
.............................................................................................................24
1.2.3.1. Chứng từ kế toán nghiệp vụ cho vay................................24
1.2.3.2. Tài khoản phản ánh kế toán nghiệp vụ cho vay...............25
1.2.4. Nội dung kế toán nghiệp vụ cho vay.......................................31
1.2.4.1. Nội dung kế toán nghiệp vụ cho vay từng lần.................31
1.2.4.2. Nội dung kế toán nghiệp vụ cho vay theo hạn mức tín
dụng.................................................................................................35
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG NỘI DUNG KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ CHO VAY
TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HƯNG YÊN.......................38
2.1. Khái niệm về tình hình hoạt động của chi nhánh ngân hàng
ngoại thương hưng yên.......................................................................38
2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển.............................................38
3.2.1. Giải pháp về chứng từ.............................................................69
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
3.2.2. Giải pháp về khoản lãi chưa thu, hạch toán các khoản thu lãi
.............................................................................................................70
3.2.2.1. Lãi chưa thu.......................................................................70
3.2.2.2. Thu lãi................................................................................71
2.3.2. Giải pháp về phương thức cho vay và thu hồi vốn................71
3.2.3.1. Vấn đề về nợ trước hạn.....................................................71
3.2.3.2. Thực hiện đôn đốc thu nợ và lãi.......................................71
3.2.3.3. Thực hiện kế toán dự thu, dự trả.......................................72
3.2.4. Giải pháp về chuyển, xử lý nợ quá hạn, lập quỹ dự phòng rủi
ro tín dụng..........................................................................................72
3.2.4.1. Xử lý nợ quá hạn...............................................................72
3.2.4.2. Chuyển nợ quá hạn kịp thời..............................................73
3.2.4.3. Lập quỹ dự phòng rủi ro...................................................73
3.2.5. Giải pháp về hệ thống thông tin và nguồn nhân lực.............73
3.3. Một số kiến nghị...........................................................................74
3.3.1. Kiến nghị với ngân hàng ngoại thương Việt Nam................74
3.3.2. Kiến nghị với ngân hàng Trung Ương...................................74
3.3.3. Kiến nghị với Nhà nước..........................................................74
KẾT LUẬN.....................................................................................................................75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................76
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong giai đoạn hiện nay, quá trình công nghiệp hoá và hiện đại
hoá có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Công nghiệp
tình của Ths Nguyễn Thị Thùy Dương và các thầy cô trong khoa Ngân
hàng – Tài chính. Tất nhiên do trình độ hạn chế và chưa có nhiều kinh
nghiệm thực tế nên bài sẽ có rất nhiều sai sót, tôi rất mong sự đóng góp í
kiến của thày cô và các bạn.
Cảm ơn Ths Nguyễn Thị Thùy Dương đã hướng dẫn tôi thực hiện
đề tài này.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chương 1. Lý luận chung về kế toán nghiệp vụ cho vay
của ngân hàng thương mại.
1.1. Tổng quan về họat động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về cho vay.
Khái niệm về cho vay là một khái niệm rộng, nó có thể được định
nghĩa trên nhiều góc độ khác nhau. Xét định nghĩa cho vay một cách thô
sơ nhất, thuần túy nhất: Giao dịch cho vay (vay nợ) là giao dịch trong đó
bên cho vay cung ứng một lượng tiền (hàng hóa) duy nhất có giá trị nào
đó cho bên đi vay để đổi lấy nhiều lần trả nợ nhỏ từ phía bên đi vay cho
bên cho vay theo thời gian, thường là theo một lịch trình cố định. Tổng số
các khoản hoàn trả nhỏ theo chu kỳ này thường là lớn hơn giá trị của
khoản cho vay ban đầu. Số chênh lệch trong các khoản thanh toán đó gọi
là lãi.
Trong hoạt động của ngân hàng, người ta không dùng từ “cho vay”
mà dùng một thuật ngữ khác bao trùm hơn, rộng hơn và mang đậm bản
chất của ngành ngân hàng, đó là thuật ngữ “tín dụng”, thuật ngữ “tín
dụng” về bản chất giống “cho vay” nhưng cái mà bên cho vay cung ứng
không chỉ đơn thuần là tiền (hàng hóa) mà nó là “tài sản”, tài sản mang
tính chất bao trùm hơn, rộng hơn. Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín
dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể.
Trong hoạt động tín dụng thì phổ biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng
lượng nghiệp vụ.
• Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị cho vay, nói cách khác thì
người đi vay ngòai nghĩa vụ hòan trả phần gốc thì họ còn fải chi trả
thêm một khoản nữa gọi là lãi. Lãi là một khái niệm được sử dụng
nhiều, có thể hiểu nôm na là phần mà ngân hàng thu về thêm sau
khi cho vay một khoản tiền nhất định. Nhưng xét dưới góc độ tài
chính, lãi bao gồm rất nhiều thành tố. Thông thường nếu lãi suất
cho vay cố định là r thì: r = r1 + r2 + r3
- r1: là tỉ lệ lạm phát, r1 biểu thị cho giá trị của tiền bị
“mất đi” trong suốt thời gian cho vay, điều này có
nghĩa là mặc dù đến khi hết hạn, gốc được hoàn trả
đúng như số cho vay ban đầu, nhưng giá trị thực tế
của khỏan cho vay đó đã giảm đi so với thời điểm
cho vay.
- r2: là chi phí sử dụng nguồn, nó bao gồm chi phí
quản lý vốn phát sinh khi nguồn vốn được sử dụng
bởi cá nhân, tổ chức khác dưới hình thức cho vay. Vì
nguồn lực là có hạn, do đó việc sử dụng nó cần phải
có sự xem xét cẩn thận và kỹ lưỡng, đồng thời khi sử
dụng nó phát sinh ra chi fí sử dụng và quản lý.
- r3: đây là lãi suất thực của ngân hàng, ngân hàng
cũng là một tổ chức kinh tế, hoạt động trên nguyên
tắc là tìm kiếm lợi nhuận, do đó bất cứ hoạt động
nào của nó cũng tuân theo nguyên tắc lợi nhuận làm
cơ cở.
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Thông thường thì trong 3 thành tố cấu thành nên lãi suất cho vay
thì tỷ lệ lạm phát chiếm phầm chủ yếu. Đối với Việt Nam, nó dao động
thu hút vốn đầu tư vào phát triển hệ thống công ty công nghệ cao của
FPT: phát hành trái khoán công ty hay thực hiện một cam kết cho vay kết
với một ngân hàng nào đó. Rõ ràng là đây là một ngành có tính chất rủi ro
cao, nếu huy động bằng con đường phát hành trái khoán thì sẽ tốn thời
gian hơn và chi phí bỏ ra cũng cao hơn nhiều so với việc đi vay ngân
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
hàng. Điều này không chỉ đúng trong các ngành công nghệ cao, mà nó
cũng đúng trong các ngành kinh tế mũi nhọn mà ở đó, việc đầu tư luôn
cần một lượng vốn cực lớn mà việc phát hành trái khoán luôn mất rất
nhiều thời gian.
Nếu như chính phủ Việt Nam đưa ra một chính sách tiền tệ thắt
chặt thì đi đầu sẽ là hệ thống các các ngân hàng, thông qua việc huy động
vốn và cho vay, sẽ giúp chính phủ điều tiết lượng tiền trong lưu thông và
góp phần vào chống lạm phát. Như vậy, ngòai vai trò là “nhà cung cấp
vốn” cho các cá nhân, tổ chức – vô hình chung đã đóng vai trò là đòn bẩy
kinh tế, thúc đẩy sự phát triển, đồng thời nó gián tiếp tạo ra công ăn việc
làm, giúp ổn định xã hội. Đây chính là một công cụ quan trọng của chính
phủ trong điều tiết và quản lý xã hội.
1.1.2.2. Đối với bản thân ngân hàng.
Ngân hàng là một doanh nghiệp, mà hoạt động của doanh nghiệp
nào đi nữa thì mục đích cuối cùng vẫn là lợi nhuận. Hoạt động chính của
một ngân hàng gồm 2 mảng chính. Một là tập hợp nguồn vốn, thứ hai đó
là hoạt động cho vay. Hoạt động tập hợp vốn (nhận tiền gửi hoặc huy
động vốn từ các nguồn khác) cùng với việc quản lý vốn làm phát sinh chi
phí. Do đó thì hoạt động cho vay chính là hoạt động chính tạo ra thu nhập
của ngân hàng. Đối với một doanh nghiệp thì đầu ra là quyết định, trước
đây, trong nền kinh tế bao cấp, chúng ta chỉ quan tâm đến sản xuất cái gì,
chứ không quan tâm đến sản xuất cho ai, ai sẽ mua và mua bao nhiêu,
Căn cứ vào thời hạn cho vay:
Cho vay ngắn hạn: có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng
để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và
các nhu cầu chi tiều ngắn hạn của cá nhân. Đối với ngân hàng
thương mại thì cho vay ngắn hạn chiếm tỉe trọng là cao nhất.
Cho vay trung hạn: theo quy định hiện thời của ngân hàng nhà
nước Việt Nam thì cho vay trung hạn có thời gian từ 1 năm đến
3 năm, còn đối với các nước trên thế giới thì có thể lên đến 7
năm. Mục đích chủ yếu của bên đi vay là để đầu tư mua sắm tài
sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới trang thiết bị kĩ thuật, công
nghệ và mở rộng sản xuất kinh doanh
Cho vay dài hạn Việt Nam là 3 năm trở lên (nước ngòai là 7
năm). Mục đích cho vay dài hạn là để đáp ứng các nhu cầu dài
hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy
mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
Cho vay không đảm bảo là loại cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những
khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài
chính mạnh, quản trị hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng
dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một
nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.
Cho vay đản bảo là loại cho vay được ngân hàng cung ứng, phải
có tài sản thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của
người thứ ba.
Căn cứ vào hình thái giá trị:
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết
định số 1627/2001/QĐ-NHNN; Quyết định số 738/2005/QĐ-NHNN
ngày 31/5/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ
sung khoản 6 Điều 1 của Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN; Quyết
định số 966/2003/QĐ-NHNN ngày 22/8/2003 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước về cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng đối với khách
hàng vay là người cư trú; các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên
quan.:
Tổ chức tín dụng thoả thuận với khách hàng vay việc áp dụng các
phương thức cho vay:
1- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín
dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín
dụng.
2- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng
xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một
khoảng thời gian nhất đình.
3- Cho vay theo dự án đầu tư Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay
vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
4- Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối
với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng;
trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp
với các tổ chức tín dụng khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo
quy định của Quy chế này và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức
tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
5- Cho vay trả góp; Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng
xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc
được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
6- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam
loại vật tư cụ thể để cho vay.
Đối tượng áp dụng trong phương thức cho vay này có thể là:
Các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, liên tục, như
vậy mỗi lần đi vay thì khách hàng sẽ làm một thủ tục hồ sơ mới để
xin vay vốn.
Các khách hàng có số vòng vay vốn lưu động trong kinh doanh ít,
nhu cầu vốn lưu động trong mỗi vòng vay vốn là không cao.
Các khách hàng mà hệ số tín nhiệm với ngân hàng thấp, không đủ
tin tưởng để cho vay thường xuyên và cho vay các khỏan lớn.
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Ngân hàng cảm thấy cần fải giám sát các khoản cho vay thông qua
cho vay từng lần.
Thủ tục để làm hồ sơ cũng khá rắc rối. Bên đi vay khi nhận thấy
có nhu cầu vay vốn thì họ fải gửi đến ngân hàng cho vay bộ hồ sơ
gồm các giấy tờ sau: Đơn xin vay, các tài liệu thuyết minh cho đơn
xin vay: hồ sơ pháp lý, phương án sản xuất kinh doanh, tài liệu thế
chấp, cầm cố tài sản.
Ngân hàng sau khi thu được các tài liệu trên, cán bộ làm công
tác cho vay cần tiến hàn đánh giá, thẩm định, thu thập và phân tích
thông tin trên những mặt quan trọng sau:
Tư cách và điều kiện của người vay vốn.
Tính hợp pháp, hợp lệ của các tài liệu, giấy tờ trong hồ sơ xin
vay vốn.
Tiềm lực tài chính của khách hàng.
Mục đích vay vốn và hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn vay,
khả năng trả nợ Ngân hàng khi đến hạn thanh tóan.
Tài sản thế chấp, cầm cố của bên đi vay.
Nếu dùng từ ngữ chuyên ngành thì đây chính là khâu thẩm định dự án
lãi suất cho vay theo một khung có sẵn, tuy vậy hai bên cũng có thể
thỏa thuận với nhau.
Độ rủi ro mà ngân hàng fải đối mặt, thường thì xuất phát chủ
yếu từ bên đi vay, còn lại một phần là do yếu tố thị trường (yếu tố
này chiếm phần ít hơn).
Khi thời hạn cho vay đã được hai bên đồng í thì cán bộ phụ trách
nghiệp vụ tín dụng sẽ ghi thời hạn vào hợp đồng vay tiền. Trên thực tế thì
phần lớn các khoản vay đều được ngân hàng phân kỳ hạn nợ và quyết
định mức trả nợ một lần. Tuy vậy đối với các món vay mà khách hàng
không có nguồn thu nhập thường xuyên hoặc thời hạn vay quá ngắn thì
ngân hàng không phân kỳ hạn nợ mà ghi trên hợp đồng là thời hạn trả nợ
cuối cùng. Cũng phải nói thêm: phân kì hạn nợ là hoạt động chia nhỏ
khoản nợ ra các khoản nhỏ rồi quy định thời hạn trả cho từng khoản đó,
như vậy sẽ dễ dàng cho khách hàng có nhu cầu vay khỏan lớn, có thể dễ
dàng trả các khoản nhỏ mà không cần tập trung một lượng tiền lớn để trả
ngân hàng. Trong quá trình cho vay vốn, ngân hàng luôn fải kiểm tra
thường xuyên về khoản cho vay của mình: khách hàng có sử dụng đúng
mục đích không. Thông thường thì trước ngày đến hạn, cán bộ cho vay sẽ
phải lập thông báo và gửi nó đến cho khách hàng, báo với họ về khoản nợ
sắp đến hạn và nhắc nhở họ chuẩn bị trả tiền. Trong trường hợp khách
hàng trả trước hạn thì luôn có một lãi suất thấp hơn lãi suất áp dụng cho
khoản vay, đó là do khoản chiết khấu mà khách hàng được hưởng từ việc
trả nợ trước hạn, điều này cũng thúc đẩy, khuyến khích người đi vay tăng
thêm trách nhiệm của họ đối với khỏan cho vay. Khi thanh tóan với ngân
hàng, hình thức chủ yếu có thể là uỷ nhiệm chi hoặc thanh tóan bằng tiền
mặt. Trong trường hợp khách hàng đến hạn không trả nợ thì tùy vào
trường hợp cụ thể mà ngân hàng có thể gia hạn nợ hoặc chuyển nợ quá
hạn. Trong trường hợp do lý do khách quan thì khách hàng cần fải làm
15
duyệt cho đến thỏa thuận hợp đồng, như vậy, đối với
những khoản vay vớn, có tính chất cấp bách thì vô
hình chung phương pháp cho vay này đã làm tăng
thêm chi phí cơ hội của bên đi vay.
Bên cạnh đó, việc thường xuyên theo dõi, quản lý
nguồn vốn gây ra một chi phí phụ cho việc quản lý
vốn của ngân hàng, nó làm tăng chi phí đầu vào, làm
giảm doanh thu dự kiến của ngân hàng: đầu tư quản lý
nhiều cho một khoản cho vay nhỏ thu lãi thấp; mặt
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
khác, việc quản lý, giám sát thường xuyên sẽ gây tâm
lý không tốt cho khách hàng, họ có cảm giác bị trói
buộc nhiều, làm giảm hiệu quả của hoạt động kinh
doanh bên đi vay.
Nếu có rủi ro trong lúc trả nợ của khách hàng thì ngân
hàng sẽ là người bị ảnh hưởng rất lớn bởi kế hoạch
của họ đã lên từ trước, nếu khách hàng không trả các
khỏan nợ đúng hạn nhiều khi dẫn đến hiện tượng vốn
lưu động của ngân hàng bị khách hàng chiếm dụng
một cách vô lý. Nguyên nhân của hiện tượng này là do
phần lớn thời gian hoàn trả nợ là mang tính chủ quan
của cả hai bên: ngân hàng và người đi vay vốn.
Như vậy phương pháp cho vay từng lần đã được nêu ở trên tuy
được sử dụng khá phổ biến, nhưng còn rất nhiều bất cập, nhất là trong
khâu thủ tục và việc định thời gian hoàn trả vốn và lãi, ta hãy cùng xem
xét phương pháp cho vay theo hạn mức tín dụng, đây cũng là một phương
thức cho vay phổ biến thứ hai trên thực tế hiện nay tại nước ta.
1.1.3.2. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng.
về nhu cầu vay vốn của họ trong quý, công thức dưới đây được đưa ra để
tham khảo (nó được sử dụng phổ biến trên thực tế):
Nhu cầu vay
vốn
Nhu cầu sản xuất kinh
doanh
Vốn lưu động
=
-
Quý, kế
hoạch
Tự có và tự huy
động
Giải thích các kí hiệu:
Vốn sản xuất kinh doanh quý kế hoạc là nhu cầu vốn cần thiết
để phục vụ cho họat động sản xuất kinh doanh trong một quý, nó
bao gồm các thành tố đầu vào như vật tư hàng hóa, nguyên nhiên
vật liệu cho tới các yếu tố đầu ra như chi phí tiêu thụ sản phẩm…
Vốn lưu động tự có và tự huy động là nguồn vốn mà cá nhân,
doanh nghiệp có thể tự xoay sở được mà không cần tới sự giúp đỡ
của ngân hàng, có rất nhiều nguồn: vốn tự có, vốn góp, vốn do
ngân sách cấp, vốn liên doanh, các khỏan tạm thời sử dụng, lãi
chưa phân phối….
Khi tài liệu về vốn vay đến tay cán bộ của ngân hàng thì họ sẽ tiến
hành thẩm định lại để xác định lại, đây là bước thẩm định hồ sơ vay vốn,
đồng thời kèm theo sự điều chỉnh về nhu cầu vốn vay sao cho hợp lý và
thật sự chính xác. Đi kèm với khâu thẩm đinh là tự cân đối nguồn vốn tự
có của mình để dự trù việc phân bổ nguồn vốn cho bên đi vay thông qua
nguyên, nhiên vật liệu, hàng hóa… mà tài khoản không đủ tiền thanh toán
thì doanh nghiệp có thể yêu cầu ngân hàng chi trả hộ (khoản nợ của
doanh nghiệp đối với ngân hàng) với nhưng hồ sơ sau:
Bảng kê khai các giấy tờ thanh tóan mà doanh nghiệp xin ngân
hàng cho vay (séc, ủy nhiệm chi…) và kèm theo đó là các hóa đơn,
chứng từ chưng minh các khoản fát sinh đó là có cơ sở.
Hợp đồng mua bán vật tư, nguyên nhiên vật liệu.
Ngân hàng sau khi xem xét tính hợp pháp, hợp lệ của các loại giấy tờ,
tài liệu trên đồng thời đối chiếu vói mục đích, đối tượng của việc xin vay
để đưa ra quyết định cuối cùng là có chi trả hộ hay không (phát tiền vay).
Tuy vậy nó vẫn fải tuân theo nguyên tắc là số tiền ngân hàng cho vay
từng lần nằm trong hạn mức tín dụng còn lại.
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Số tiền hạn mức còn lại
Mức cho vay
còn lại
Hạn mức
tín
Dư nợ thực tế
trước
=
-
dụng
Quý
khi cho vay
Khi đến hạn thu nợ thì phương thức này yêu cầu khi nào doanh
giao dịch của họ bị kiểm qua, quản lý và giám sát thường xuyên,
do đó tạo ra tâm lý không thỏai mái của đơn vị xin vay vốn. Trong
trường hợp muốn trích một phần thu nhập vào một mục đích nào
đó mang tính chất tam thời thì thủ tục rất rườm rà.
Với ngân hàng: do luôn fải duy trì một lượng vốn nhất
định để đáp ứng trường hợp khách hàng yêu cầu lượng vốn đạt tới
hạn mức đã thỏa thuận, do đó vốn của ngân hàng sẽ bị ứ đọng nếu
khách hàng không sử dụng hết hạn mức, tuy nhiên ngân hàng vẫn
fải duy trì vốn dự phòng đó để đảm bảo tín nhiệm của mình trong
thanh tóan và cho vay, nó làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Ngòai ra việc thu nợ và cho vay đan xen nhau và có tính chất thời
gian của tiền tệ, do đó việc quy định lãi suất và các giấy tờ liên
quan rất phức tạp.
1.2. Tổng quan về kế tóan nghiệp vụ cho vay của ngân hàng thương
mại.
1.2.1. Khái niệm kế toán nghiệp vụ cho vay.
Kế tóan nghiệp vụ ngân hàng là công việc thực hiện các ghi chép,
phản ánh, tổng hợp một cách thật tòan diện và đầy đủ, chính xác các hoạt
động nghiệp vụ, hoạt động tài chính ở mỗi hệ thống, các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh nhằm thực hiện chức năng phản ánh, giám sát các hoạt động
kinh tế.
Trong tình hình phát triển sản xuất mạnh mẽ của các tổ chức kinh
tế như hiện nay thì kết tóan nghiệp vụ đóng vai trò kiểm soát, quản lý một
lượng lớn tài sản, đặc biệt với ngành ngân hàng nó càng đóng vai trò
quan trọng hơn bởi số lượng nghiệp vụ diễn tra trong ngày là vô cùng lớn.
Do vậy có thể nói kế tóan ngân hàng vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật
ghi chép, phân lọai, tổng hợp và giải thích các nghiệp vụ tác động đén
tình hình tài chính của các ngân hàng, nó là cơ sở để đưa ra quyết định
kinh tế liên quan đến mục tiêu quản lý kinh doanh, đánh giá, thẩm định
tình hình hoạt động của ngân hàng.
nâng cao uy tín và vị thế của ngân hàng.
Kế tóan nghiệp vụ cho vay giúp cho việc quản lý tài khoản
của khách hàng, giúp ngân hàng dễ dàng tiếp cận với tình hình tài
chính của khách hàng hơn.
Kế tóan nghiệp vụ cho vay cùng với nghiệp vụ tín dụng ngân
hàng giúp cho việc thẩm định, đôn đốc các khản cho vay, đem lại
hiệu quả sử dụng vốn cao…
1.2.2. Vai trò của kế tóan nghiệp vụ cho vay.
Trong hoạt động ngân hàng thì hoạt động kế tóan nghiệp vụ cho vay là
chiếm một phần rất quan trọng, không chỉ vì nó kiểm soát một lượng vốn
lớn của ngân hàng, mà đây chính là nghiệp vụ gián tiếp giúp ngân hàng
tạo ra lợi nhuận kinh doanh. Xét trong tổng thể thì vai trò của kế tóan
nghiệp vụ cho vay thể hiện ở các mặt sau:
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Kế tóan nghiệp vụ cho vay giữ một vị trí quan trọng trong
tòan bộ nghiệp vụ kế toán của ngân hàng. Đây là nghiệp vụ không
hề đơn giản chút nào, liên quan đến nhiều con số và cả đến số liệu
tổng hợp trong bảng cân đối kế tóan (chiếm phần lớn trong phần
tổng tài sản “Có” của ngân hàng).
Kế tóan nghiệp vụ cho vay cung cấp cho ngân hàng và các
đơn vị kinh tế khác các thông tin cần thiết liên quan tới quá trình sử
dụng vốn, cho vay, thu lãi, đáo hạn. Qua đó tạo cơ sở vững chắc
giúp cấp quản lý ra các quyết định chính xác như: ra hạn mức tín
dụng, gia hạn nợ… phần nào giúp nâng cao hiệu quả hoạt động
chung của ngân hàng.
Kế tóan nghiệp vụ cho vay là công cụ hữu hiệu “bảo quản”
tốt nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng, nó không chỉ thực hiện
nhiệm vụ ghi chép kế tóan thuần túy mà giúp quản lý rủi ro trong
mặt pháp lý để xác định số tiền ngân hàng cho người đi vay vay và người
đi vay nhận nợ với ngân hàng. Do tính chất như vậy nên từ khâu lập
chứng từ đến khâu bảo quản, quản lý, giám sát phải nhất quán và thực
hiện đúng khung luật pháp. Mặc dù trong thực tế các phần mềm kế tóan
đã thực hiện phần lớn công việc kế tóan, nhưng các chứng từ thực tế vẫn
cần được bảo quản để làm cơ sở pháp lý khi có khiếu nại, tranh chấp xảy
ra.
Người ta chia làm hai loại chứng từ kế tóan nghiệp vụ cho vay:
- Chứng từ gốc là những loại chứng từ được lập ra khi có nghiệp vụ
phát sinh, đây là chứng từ hợp pháp có thể mang ra sử dụng khi có
khiếu nại, tranh chấp, kiện cáo, nó bao gồm các loại tài liệu, chứng
từ sau:
o Giấy đề nghị cung cấp vốn vay: giấy tờ này do bên đi vay
lập ra để xin ngân hàng cấp vốn vay, đây là bước đầu tiên trong
việc lập hồ sơ xin vay vốn, nó ghi rõ mục đích sử dụng vốn, tổng
số vốn xin được cấp dưới hình thức cho vay.
o Hợp đồng xin vay vốn (hợp đồng tín dụng): là hợp đồng
được lập ra sau khi bên đi vay và ngân hàng đồng í về việc cho
vay. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng nhất ràng buộc trách nhiệm
của người đi vay với ngân hàng.
o Ngòai ra còn một số chứng từ khác như biên bản phản ánh
tài sản thế chấp, cầm cố, phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh…
- Chứng từ ghi sổ: là loại chứng từ lập ra với mục đích kiểm soát tốt
hơn hoạt động kế tóan, nó có ý nghĩa lớn đối với ngân hàng, bởi vì
đây là con số tổng hợp riêng theo những phương pháp mà ngân
hàng quy định, mang ý nghĩa nội bộ nhiều hơn, bao gồm:
o Giấy xin lĩnh tiền mặt (nếu nghiệp vụ cho vay bằng tiền
mặt).
o Chứng từ thanh tóan không dùng tiền mặt như ủy nhiệm chi,
thẻ thanh tóan (hình thức chuyển khoản).
nhân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế thành lập một tài khoản tại
chính ngân hàng đó để tiện lợi trong việc chuyển khoản, cho vay.
Để hạch tóan thì cần các tài khỏan liên quan sau: TK 2111, 2121,
2131, 2141…
Kết cấu các tài khoản cho vay:
25