1
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
--------
Lờ c Quang
luận văn thạc sỹ Luật học
QUY NH CA PHP LUT V CễNG TRèNH GHI CễNG
LIT S THC TRNG V PHNG HNG HON
THIN
Lun vn Thc s Lut hc
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s :
5.05.15
Ngi hng dn khoa hc: Tin s Nguyn ỡnh Liờu
Hà Nội - 2002
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chƣơng 1
Chƣơng 3
PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TRÌNH
GHI CÔNG LIỆT SỸ
3.1
ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TRÌNH GHI CÔNG LIỆT SỸ
MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TRÌNH GHI
CÔNG LIỆT SỸ
73
3.2
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
87
93
95
MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Nội dung các chế định cơ bản của pháp luật ƣu đãi ngƣời có công với
cách mạng cũng nhƣ hình thức pháp lý của văn bản, vị trí, vai trò của pháp
luật ƣu đãi ngƣời có công trong pháp luật về bảo đảm xã hội, trong hệ thống
pháp luật Việt Nam là những lĩnh vực nghiên cứu cần có sự quan tâm ngày
càng nhiều hơn nữa của khoa học pháp lý để góp phần luận cứ khoa học
cho việc bổ sung, đổi mới, thực hiện tốt nhất chính sách của Đảng, Nhà
nƣớc đối với ngƣời có công với cách mạng trong giai đoạn cách mạng mới.
Trong pháp luật ƣu đãi ngƣời có công, các quy định pháp luật về
công trình ghi công liệt sỹ hợp thành một chế định quan trọng, chế định này
mang tính đặc thù rất rõ nét, thể hiện một cách đầy đủ ý nghĩa chính trị, đạo
lý truyền thống của pháp luật Việt Nam.
Tuy nhiên cho đến nay, các quy định pháp luật về công trình ghi công
liệt sỹ còn rất tản mạn, thiếu thống nhất. Trong khi đó, cùng với sự phát
triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc trong những năm qua, nhu cầu thực tế của
nhân dân về xây dựng, tu bổ và thăm viếng công trình ghi công ngày càng
cao.
Công tác quản lý Nhà nƣớc đối với các công trình ghi công liệt sỹ
đứng trƣớc những đòi hỏi mới rất bức xúc. Vì vậy việc nghiên cứu, đánh giá
chế định này trong pháp luật ƣu đãi ngƣời có công, để từ đó có những
khuyến nghị về bổ sung, hoàn thiện các quy phạm pháp luật, góp phần hoàn
thiện pháp luật ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng ở nƣớc ta là vấn đề cần
thiết. Do khả năng nghiên cứu, sƣu tầm tài liệu tham khảo còn có nhiều hạn
chế, chúng tôi chọn đề tài :"Quy định của pháp luật về công trình ghi công
liệt sỹ - Thực trạng và phƣơng hƣớng hoàn thiện" cho luận văn thạc sỹ của
mình.
2-Tình hình nghiên cứu đề tài
4
a. Mục đích của luận văn:
Qua việc nghiên cứu vai trò, vị trí và thực trạng chế định pháp luật về
công trình ghi công liệt sỹ, luận văn góp phần chỉ rõ tầm quan trọng của quy
định pháp luật về công trình ghi công liệt sỹ trong pháp luật ƣu đãi ngƣời có
công với cách mạng và pháp luật bảo đảm xã hội Việt Nam nói chung. Từ
đó, đóng góp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ sở lý luận cũng nhƣ các quy
phạm cơ bản của pháp luật ƣu đãi ngƣời có công hiện hành ở nƣớc ta.
b-Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu đánh giá chung về chế định pháp luật về công trình ghi
công liệt sỹ; vị trí, vai trò, tầm quan trọng của nó trong pháp luật ƣu đãi
ngƣời có công.
- Đánh giá thực trạng chế định pháp luật về công trình ghi công liệt sỹ
trong các giai đoạn lịch sử trƣớc và sau khi Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời hoạt
động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thƣơng binh, bệnh binh, ngƣời
hoạt động kháng chiến, ngƣời có công giúp đỡ cách mạng có hiệu lực năm
1995 (gọi tắt là Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có công); chỉ ra những tồn tại chủ
yếu để từ đó đƣa ra một số khuyến nghị về hƣớng hoàn thiện.
- Luận văn dành sự quan tâm đối với các quy định pháp luật hiện hành
về quản lý tài chính, cấp phát kinh phí xây dựng các công trình ghi công liệt
sỹ, kinh phí tu sửa, nâng cấp các hạng mục trong công trình ghi công liệt sỹ.
Nguồn kinh phí, cấp phát kinh phí, thanh quyết toán kinh phí ngân sách Nhà
nƣớc bằng các nguồn vốn, trong đó chủ yếu là nguồn vốn Trung ƣơng uỷ
quyền hỗ trợ công tác mộ, nghĩa trang liệt sỹ.
4- Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
a. Cơ sở lý luận:
6
7
Cũng có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để tham khảo trong quá
trình giảng dạy pháp luật ƣu đãi xã hội, pháp luật bảo đảm xã hội và dành
cho những ngƣời quan tâm đến vấn đề này.
8- Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo;
Luận văn gồm 3 chƣơng. Dƣới đây là nội dung của luận văn.
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI NGƢỜI CÓ
CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
1.1.1 Khái niệm ngƣời có công với cách mạng
Chế độ ƣu đãi đối với ngƣời có công với cách mạng đã đƣợc thực hiện ở
nƣớc ta từ rất sớm, nhƣng cho đến nay, qua nghiên cứu các văn bản quy
phạm pháp luật về ƣu đãi ngƣời có công, chúng ta vẫn chƣa thấy có khái
niệm rõ ràng về ngƣời có công. Tuy nhiên, căn cứ vào các tiêu chuẩn hiện
hành đối với các đối tƣợng hƣởng ƣu đãi của Nhà nƣớc đã quy định, các nhà
khoa học đã đƣa ra quan điểm xác định khái niệm ngƣời có công với cách
mạng.
Theo nghĩa rộng, có tác giả cho rằng: "Ngƣời có công là những ngƣời
lao động bình thƣờng, làm việc đại nghĩa, có công lao to lớn đối với đất
nƣớc, tự coi đó là nghĩa vụ đối với cộng đồng không bao giờ kể công và đòi
hỏi cộng đồng báo nghĩa" [16; trang 6 ]
Tác giả khác luận giải cụ thể hơn: Ngƣời có công là những ngƣời
không phân biệt tôn giáo, tín ngƣỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác; đã tự
Thứ nhất, Ngƣời hoạt động cách mạng trƣớc Cách mạng Tháng Tám
năm 1945.
9
Ngƣời hoạt động cách mạng trƣớc cách mạng Tháng Tám năm 1945
là ngƣời tham gia các tổ chức cách mạng từ ngày 31 tháng 12 năm 1944 trở
về trƣớc và ngƣời đứng đầu các tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc
thoát ly hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trƣớc ngày
Tổng khởi nghĩa.
Thứ hai, Liệt sỹ.
Liệt sỹ là ngƣời hy sinh trong sự nghiệp vẻ vang của dân tộc, đƣợc Nhà
nƣớc công nhận và truy tặng Bằng Tổ quốc ghi công trong khi:
- Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;
- Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận với địch;
- Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn
không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, thực hiện chủ trƣơng vƣợt tù,
vƣợt ngục mà hy sinh;
- Đấu tranh chống các loại tội phạm;
- Làm nghĩa vụ quốc tế;
- Dũng cảm làm những công việc cấp bách phục vụ quốc phòng và an
ninh, dũng cảm cứu ngƣời, cứu tài sản của Nhà nƣớc và nhân dân;
- Chết do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ phục vụ quốc phòng
và an ninh ở những vùng đặc biệt khó khăn, gian khổ (nơi có phụ cấp lƣơng
đặc biệt mức 100%);
- Thƣơng binh hoặc ngƣời hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh bị chết
do vết thƣơng tái phát, đƣợc y tế cơ sở hoặc bệnh viện nơi điều trị xác nhận
và đƣợc chính quyền địa phƣơng hoặc đơn vị quản lý nhận xét là xứng đáng.
Thứ ba, Thân nhân liệt sỹ.
gặp khó khăn hoặc tai hoạ lớn.
Qua cách phân loại này thì có thể thấy thân nhân liệt sỹ đƣợc xác định
có thể là ngƣời có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi
dƣỡng đối với liệt sỹ đƣợc pháp luật thừa nhận. Những ngƣời này bản thân
có thể không trực tiếp là ngƣời có công với cách mạng nhƣng có quan hệ
11
trực tiếp, gắn bó gần gũi nhất đối với ngƣời có công nên cũng thuộc diện
hƣởng chế độ ƣu đãi của Nhà nƣớc đối với ngƣời có công với cách mạng.
Thứ tư, Thƣơng binh, ngƣời hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh.
Thƣơng binh là những ngƣời thuộc lực lƣợng vũ trang bao gồm quân nhân,
công an nhân dân vì chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu hoặc dũng cảm
làm nhiệm vụ khó khăn nguy hiểm vì lợi ích của Nhà nƣớc và nhân dân mà
bị thƣơng mất sức lao động từ 21% trở lên.
Nhƣ vậy, thƣơng binh là những ngƣời bị thƣơng khi làm nhiệm vụ
chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu trong chiến tranh giải phóng dân
tộc hoặc bảo vệ Tổ quốc; những ngƣời bị thƣơng vì dũng cảm làm nhiệm vụ
khó khăn nguy hiểm trong khi làm nhiệm vụ luyện tập quân sự hoặc thi
hành công vụ đấu tranh chống các loại tội phạm, giữ gìn trật tự xã hội, bảo
vệ tài sản, lợi ích của Nhà nƣớc và nhân dân. Đối với những ngƣời không
thuộc lực lƣợng vũ trang nhân dân nhƣng có hành động dũng cảm mà bị
thƣơng mất sức lao động từ 21% trở lên nhƣ trên thì đƣợc gọi là ngƣời
hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh.
Thứ năm, Bệnh binh.
Bệnh binh là những quân nhân, công an nhân dân bị mắc bệnh trong thời
gian tại ngũ dẫn đến hậu quả bị suy giảm về sức khoẻ, suy giảm khả năng
lao động trong một thời gian dài hoặc vĩnh viễn. Theo quy định hiện hành,
những đối tƣợng nhƣ trên bị suy giảm từ 61% sức khoẻ trở lên đƣợc xác
nhận là bệnh binh. Nguyên nhân của sự suy giảm sức khoẻ này là do họ hoạt
chiến. Sự giúp đỡ này có thể dƣới nhiều hình thức đa dạng, đem lại hiệu quả
vô cùng to lớn, có thể là:
- Hiến tài sản, ruộng vƣờn, tiền bạc phục vụ hoạt động của cách
mạng.
- Che chở, nuôi giấu cán bộ cách mạng.
- Sản xuất, cung cấp vũ khí, lƣơng thực cho cách mạng...
1.1.3 Chính sách ƣu đãi đối với ngƣời có công với cách mạng
13
Chính sách đối với ngƣời có công với cách mạng là đƣờng lối, chủ trƣơng
của Đảng và Nhà nƣớc căn cứ vào nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ cách
mạng, dựa trên sự phát triển của kinh tế - xã hội, nhằm mục đích ghi nhận
công lao đóng góp, ghi nhận sự hy sinh cao cả của những ngƣời có công, tạo
mọi điều kiện, khả năng để bù đắp phần nào về đời sống vật chất, đời sống
văn hoá, tinh thần đối với ngƣời có công với cách mạng.
Chính sách đối với ngƣời có công là chính sách đặc biệt thực hiện cho
những đối tƣợng đặc biệt, thể hiện một cách rõ nét nhất quan điểm và đƣờng
lối của Đảng và Nhà nƣớc ta có vai trò hết sức quan trọng, phản ánh sự quan
tâm, ý thức của xã hội, của Nhà nƣớc, của cộng đồng, của các thế hệ con
cháu đối với các thế hệ cha anh đi trƣớc.
Vì vậy chính sách ƣu đãi ngƣời có công có ý nghĩa chính trị, nhân văn
và đạo lý hết sức sâu sắc. Thực hiện tốt chính sách đối với ngƣời có công sẽ
góp phần quan trọng vào giữ vững ổn định tình hình chính trị - xã hội, tạo cơ
sở xã hội bền vững góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, xây dựng đất
nƣớc. Thực hiện chính sách đối với ngƣời có công là sự kết hợp lợi ích giai
cấp và lợi ích dân tộc, đảm bảo cho đất nƣớc có sự phát triển lâu dài và bền
vững. Thực hiện chính sách đối với ngƣời có công là góp phần vào thực hiện
chính sách lấy con ngƣời là trung tâm, tất cả vì con ngƣời, làm cho thế hệ
thanh niên - thế hệ chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc ý thức đƣợc trách nhiệm
Thứ hai, Chính sách ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng ở nƣớc ta
do Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nƣớc hoạch định và Nhà nƣớc giữ vai
trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện.
Chính sách ƣu đãi ngƣời có công đƣợc thể chế hoá bằng các quy định
pháp luật về ƣu đãi ngƣời có công do Nhà nƣớc ban hành và đảm bảo thực
hiện. Mặt khác Nhà nƣớc thông qua bộ máy của mình với các cơ quan chức
năng từ Trung ƣơng tới địa phƣơng, tổ chức triển khai, đƣa các chính sách
ƣu đãi ngƣời có công vào thực tế cuộc sống. Nhà nƣớc tổ chức, động viên
khuyến khích, định hƣớng các phong trào của quần chúng tạo ra sức mạnh
15
tổng hợp huy động các nguồn lực, nhân lực ở cộng đồng dân cƣ trong quá
trình thực hiện triển khai thực hiện chính sách ƣu đãi đối với ngƣời có công.
Chính sách ƣu đãi đối với ngƣời có công là vấn đề rộng lớn, mang
tính định hƣớng. Trên cơ sở định hƣớng đó, Nhà nƣớc tổ chức thực hiện các
chính sách đó thông qua các nội dung công việc cụ thể: thể chế hoá nội dung
chính sách thành các văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật
ƣu đãi ngƣời có công, hƣớng dẫn triển khai thực hiện và kiểm tra, giám sát
quá trình thực hiện các quy phạm đã quy định đó.
Có thể nói pháp luật ƣu đãi đối với ngƣời có công là công cụ quan
trong và hữu hiện nhất để thể chế hoá, triển khai thực hiện chính sách ƣu đãi
đối với ngƣời có công ở nƣớc ta. Nhất là trong điều kiện nƣớc ta đang xây
dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân thì
việc đề cao vai trò của pháp luật ƣu đãi ngƣời có công trong quá trình thể
chế hoá, ban hành, tổ chức thực hiện các chính sách đối với ngƣời có công
với cách mạng của Đảng và Nhà nƣớc là rất cần thiết.
1.2 PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
Pháp luật nói chung đƣợc quan niệm là hệ thống các quy tắc xử sự
mang tính khuôn mẫu chung thống nhất, do Nhà nƣớc ban hành nhằm điều
trong việc củng cố, giữ gìn thành quả cách mạng, góp phần giữ vững ổn
định chính trị- xã hội, tạo tiền đề xã hội cần thiết, vững chắc để xây dựng đất
nƣớc, phát triển kinh tế - xã hội. Thông qua việc thể chế hoá các quyền đƣợc
ƣu đãi của ngƣời có công và những đảm bảo pháp lý cho việc thực hiện
những quyền đó trên thực tế, pháp luật ƣu đãi ngƣời có công ghi nhận và
trân trọng công lao, cống hiến của những ngƣời có công trong xã hội, tạo
điều kiện và khuyến khích ngƣời có công tiếp tục đóng góp sức lực và trí tuệ
của mình trong sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa.
Pháp luật ƣu đãi ngƣời có công có nhiệm vụ bảo đảm nguyên tắc bình
đẳng, công khai, công bằng trong xã hội. Điều đó thể hiện trong các quy
17
định đảm bảo cho ngƣời có công đƣợc đền đáp, ngƣời hy sinh, mất mất
nhiều hơn thì bản thân họ cũng nhƣ thân nhân của họ phải đƣợc ƣu đãi nhiều
hơn, tạo điều kiện cho họ có đƣợc sự bình đẳng với các thành viên khác của
cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Pháp luật ƣu đãi ngƣời có
công phát huy giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, khẳng định thành quả to
lớn của cách mạng Việt Nam, làm lành mạnh bầu không khí chính trị tinh
thần trong xã hội, phát huy tính giáo dục có hiệu quả đối với công dân, nhất
là thế hệ trẻ.
1.2.2 Quan hệ giữa pháp luật ƣu đãi ngƣời có công với một số
ngành luật
Pháp luật ƣu đãi ngƣời có công có mối liên hệ mật thiết với pháp luật
đảm bảo xã hội, luật hành chính, luật lao động, luật tài chính- ngân hàng và
một số ngành luật khác.
Bảo đảm xã hội trƣớc hết là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành
viên của mình thông qua hàng loạt các biện pháp công cộng nhằm giúp đỡ
họ chống lại sự thiếu hụt về kinh tế của bản thân hoặc gia đình họ có thể gặp
có sự liên hệ gần gũi đối với Luật Hành chính. Tuy nhiên, Luật Hành chính
điều chỉnh những quan hệ hình thành trong quá trình tổ chức và thực hiện
hoạt động chấp hành, điều hành của các cơ quan quản lý Nhà nƣớc trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Còn pháp luật ƣu đãi ngƣời có công điều
chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình tổ chức và thực hiện chế
độ ƣu đãi đối với ngƣời có công là những quan hệ xã hội có tính chất đặc
thù.
Các chế định của pháp luật ƣu đãi ngƣời có công về lao động, việc
làm, về trợ cấp, đào tạo nghề có liên quan rất mật thiết với luật lao động.
Các quy định về quản lý tài chính, sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ,
thanh quyết toán trợ cấp ƣu đãi với ngƣời có công, kinh phí xây dựng mới,
tu sửa và nâng cấp các công trình ghi công liệt sỹ nhƣ nghĩa trang liệt sỹ, đài
19
tƣởng niệm, nhà bia ghi tên liệt sỹ; định mức hỗ trợ kinh phí đối với thân
nhân liệt sỹ khi đi thăm viếng mộ liệt sỹ có liên quan hết sức chặt chẽ và có
thể coi là một bộ phận của luật tài chính - ngân hàng.
Tóm lại, về đối tƣợng điều chỉnh và phƣơng pháp điều chỉnh pháp
luật ƣu đãi ngƣời có công dƣờng nhƣ là một bộ phận của Luật hành chính.
Nhƣng xét về mục đích, tính chất, về vai trò và giá trị xã hội, nó lại là một
bộ phận của pháp luật về bảo đảm xã hội. Xét về nội dung các chế định cơ
bản thì pháp luật ƣu đãi ngƣời có công cũng có thể xem nhƣ là một bộ phận
của luật tài chính- ngân hàng. Do vậy có thể cho rằng pháp luật ƣu đãi ngƣời
có công là một lĩnh vực pháp luật mang tính liên ngành.
1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật ƣu đãi
ngƣời có công ở nƣớc ta
Trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc
của nhân dân ta, trải qua nhiều thăng trầm nhƣng dù dƣới bất kỳ hoàn cảnh
nào, những ngƣời có công với đất nƣớc vẫn đƣợc suy tôn, ghi công và kính
đƣợc dựng bia và phong thần, phong thành hoàng và đƣợc thờ tự ở các đình
làng.
Đối với nhóm thứ ba là nhóm đông đảo nhất trong số những đối
tƣợng có công vì họ trực tiếp bảo vệ quyền lợi cho giai cấp phong kiến. Vì
vậy triều đình cũng có sự chú ý tới quy định các chế độ ƣu đãi dành cho họ
và gia đình. Triều đình có đặt ra lệ "quân điền" để cung cấp cho binh lính có
công, buộc các làng xã phải chia phần công điền và ƣu tiên cho binh lính
trƣớc, sau đó mới chia cho thứ dân.
Có thể rút ra nhận xét về một số nét chính về pháp luật ƣu đãi ngƣời
có công thời kỳ phong kiến là:
+ Các Nhà nƣớc phong kiến đã coi trọng và đặt ra các quy định ƣu đãi
đối với các đối tƣợng ngƣời có công với chế độ. Đây là ƣu điểm chính, thể
hiện truyền thống quý báu của pháp luật nƣớc ta cần phát huy và nhân rộng.
21
+ Sự đãi ngộ tƣơng đối cao so với mức sống bình quân của dân
chúng, đãi ngộ không chỉ về vật chất mà cả về tinh thần, đãi ngộ ngay khi
còn sống cũng nhƣ sau khi đã chết.
+ Quy định về chế độ ƣu đãi, điều kiện hƣởng ƣu đãi mang đậm tính
đặc quyền, đặc lợi, bất bình đẳng của pháp luật phong kiến, phục vụ mục
đích và bảo vệ lợi ích của thiểu số giai cấp phong kiến thống trị bóc lột.
Trong thời kỳ Nhà nƣớc cách mạng từ năm 1945 đến nay. Kế tục
truyền thống quý báu của cha ông, ngay từ khi mới giàn h đƣợc độc lập Nhà
nƣớc ta đã sớm xây dựng và ban hành pháp luật ƣu đãi đối với ngƣời có
công với cách mạng.
Ngày 16 tháng 2 năm 1947, Chủ tịch nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL, sau đó bổ sung bằng Sắc lệnh số
242/SL ngày 12/10/1948 quy định tiên chuẩn xác nhận thƣơng binh, truy
trƣng là chủ yếu.
Sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ từ năm 1954 đến 1975. Với
184 văn bản pháp luật về ngƣời có công đƣợc ban hành đã tạo ra bƣớc phát
triển mới của pháp luật ƣu đãi ngƣời có công.
Trong các văn bản pháp luật của thời kỳ này, đáng chú ý nhất là Nghị
định số 161/CP ngày 30 tháng 10 năm 1964 kèm theo bản Điều lệ tạm thời
về chế độ đãi ngộ đối với quân nhân, thanh niên xung phong, dân quân du
kích với việc quy định chế độ thƣơng tật mới là 8 hạng, mức khởi điểm là
21%. Quy định chế độ tiền tuất mới gồm tuất hàng tháng và tuất một lần đối
với gia đình và thân nhân liệt sỹ. Đồng thời, để phù hợp với tình hình thực tế
của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc, đánh giá đúng và động viên kịp
thời sự đóng góp của nhân dân, pháp luật ƣu đãi ngƣời có công đã bổ sung
các đối tƣợng mới, đó là:
- Chế độ đối với thanh niên xung phong (Chỉ thị số 71/TTg ngày 21
tháng 6 năm 1966);
23
- Chế độ đối với dân công thời chiến (Nghị định số 77/CP ngày 26
tháng 4 năm 1966);
- Chế độ ƣu đãi đối với lực lƣợng vận tải nhân dân (Theo Quyết định
só 84/CP ngày 4 tháng 5 năm 1966);
- Chế độ đối với cán bộ y tế làm nhiệm vụ cấp cứu phòng không
(Nghị định số 111/CP ngày 28 tháng 6 năm 1973);
Đồng thời Nhà nƣớc ban hành các văn bản thể hiện trách nhiệm đối
với ngƣời có công nhƣ quy định các ngành nghề để sắp xếp thƣơng binh
vào làm việc, quy định tổ chức các cơ sở sản xuất dành riêng và cung cấp
các phƣơng tiện trang cấp cho thƣơng binh, bệnh binh...
Pháp luật ƣu đãi ngƣời có công thời kỳ này đã phát triển tƣơng đối
kháng chiến, ngƣời có công giúp đỡ cách mạng (Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có
công) và Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nƣớc "Bà mẹ Việt Nam
Anh hùng" đƣợc Chủ tịch nƣớc công bố ngày 10 tháng 9 năm 1994. Dƣới đó
là các Nghị định của Chính phủ và Thông tƣ của các Bộ hƣớng dẫn thực
hiện. Đây là hai văn bản pháp luật cao nhất có hiệu lực cho đến nay trong
lĩnh vực ƣu đãi ngƣời có công, thể chế hóa quy định về chế độ ƣu đãi đối
với ngƣời có công tại điều 67, Hiến pháp 1992.
1.2.4 Ý nghĩa và thành tựu của pháp luật ƣu đãi ngƣời có công với
cách mạng
Đƣợc hình thành từ sau ngày thành lập nƣớc, trải qua hơn 50 năm,
pháp luật ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng đã có những bƣớc tiến dài với
nhiều sự thay đổi, bổ sung, điều chỉnh để đáp ứng với nhiệm vụ chính trị
trong từng thời kỳ cách mạng, phát huy những tác động tích cực, góp phần
rất lớn vào ổn định chính trị xã hội, thực hiện những mục tiêu chính trị của
Đảng và Nhà nƣớc.
Pháp luật ƣu đãi ngƣời có công không ngừng đƣợc bổ sung, sửa đổi
cho phù hợp với tình hình, phù hợp với điều kiện lịch sử của đất nƣớc đã trở
thành một hệ thống tƣơng đối chặt chẽ, đầy đủ, với các chế độ ƣu đãi đa
25