i
Khóa luận Tốt nghiệp - Nguyễn Việt Anh
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN Trí Tuệ Và Phát Triển
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TRONG VIỆC
TRANG BỊ PHƢƠNG TIỆN LÀM VIỆC CỦA NGÀNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 2008-2013 – THỰC
TRẠNG VÀ PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Trọng Nghĩa
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Việt Anh
Khóa : I
Ngành : Tài chính Ngân hàng
Chuyên ngành : Tài chính Công
ii
Khóa luận Tốt nghiệp - Nguyễn Việt Anh
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
MỤC LỤC
TRANG LỜI CAM ĐOAN
i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
vi
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
4
1.1
Khái niệm ngân sách Nhà nƣớc
4
1.2
Cơ cấu ngân sách Nhà nƣớc
7
1.2.1
Thu ngân sách Nhà nước
7
1.2.2
Chi ngân sách Nhà nước
8
1.3
Hệ thống ngân sách Nhà nƣớc và phân cấp ngân sách
10
HƢỚNG HOÀN THIỆN CHO GIAI ĐOẠN 2014-2018
19
iv
Khóa luận Tốt nghiệp - Nguyễn Việt Anh
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
2.1
Giới thiệu chung về Vụ Kế hoạch Tài chính, Tòa án nhân dân tối
cao
19
2.1.1
Tóm lược quá trình hình thành và phát triển của ngành Tòa án nhân dân
19
2.1.2
Cơ cấu tổ chức của ngành Tòa án nhân dân
20
2.1.3
Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của Vụ Kế hoạch Tài chính
21
2.2
Thực trạng sử dụng ngân sách Nhà nƣớc trong việc trang bị
phƣơng tiện làm việc của ngành Tòa án giai đoạn 2008-2013 và đề
xuất phƣơng hƣớng hoàn thiện cho giai đoạn 2014-2018
23
2.2.1
Thực trạng về cơ cấu tổ chức, bộ máy biên chế của ngành Tòa án nhân
dân
Đề xuất về tổng nhu cầu sử dụng ngân sách Nhà nước để trang bị
phương tiện làm việc của ngành Tòa án nhân dân giai đoạn 2014-2018
37
2.2.3.1
Về đề xuất tổng nhu cầu sử dụng ngân sách Nhà nước
37
2.2.3.2
Tiến độ thực hiện
58
2.2.3.3
Tổ chức thực hiện
58
v
Khóa luận Tốt nghiệp - Nguyễn Việt Anh
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
2.2.3.4
Hiệu quả của đề án
59
CHƢƠNG 3.GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH
NHÀ NƢỚC ĐỂ TRANG BỊ PHƢƠNG TIỆN LÀM VIỆC CỦA NGÀNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 2014-2018
61
3.1
Giải pháp sử dụng ngân sách Nhà nƣớc hiệu quả trong việc trang bị
phƣơng tiện làm việc của ngành Tòa án nhân dân
61
vi
Khóa luận Tốt nghiệp - Nguyễn Việt Anh
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu chữ viết tắt
Diễn giải
NSNN
Ngân sách Nhà nước
NSTW
Ngân sách Trung Ương
NSĐP
Ngân sách địa phương
TAND
Tòa án nhân dân
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
2018) là 2.075.268 triệu đồng 1
Khóa luận Tốt nghiệp - Nguyễn Việt Anh
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân;
bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, quyền lực Nhà nước là thống nhất có
sự phân công phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp; có cơ chế kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với
các hoạt động tư pháp, từng bước xây dựng các cơ quan tư pháp trong sạch,
vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người; thực
hiện tốt chức năng, nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức và công dân.
Trong những năm qua, Tòa án nhân dân các cấp đã được Nhà nước
quan tâm đến việc trang bị phương tiện làm việc phục vụ cho công tác xét xử
chỉnh, trang bị đủ các trang thiết bị, phương tiện làm việc theo định mức đã
được Nhà nước ban hành nhằm cải thiện từng bước về điều kiện làm việc của
Thẩm phán, cán bộ, công chức, phục vụ trực tiếp cho hoạt động xét xử, từ đó
giúp cho công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo ngành Tòa án nhân dân các
cấp, hỗ trợ tác nghiệp cho Thẩm phán, thư ký và công chức, viên chức nhằm
nâng cao chất lượng hoạt động công tác xét xử .
Mục đích cụ thể:
Trang bị phương tiện làm việc của ngành Tòa án gồm các trang thiết bị
cần thiết như: Xe ô tô; xe máy; máy vi tính; máy photocopy; máy điều hoà
nhiệt độ; tăng âm loa đài; camera giám sát; máy quét tài liệu; máy chiếu; máy
phát điện; bàn ghế phòng xử án; giá để bảo quản hồ sơ lưu trữ Bảo đảm
nâng cao về mặt chất lượng cũng như công nghệ hiện đại, phấn đấu ngang
tầm với các nước trong khu vực và làm cơ sở tiền đề đến năm 2020 phải hoàn
chỉnh hệ thống “Toà án điện tử”.
3. Phạm vi nghiên cứu
3
Khóa luận Tốt nghiệp - Nguyễn Việt Anh
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
Nghiên cứu tại Vụ Kế hoạch và Tài chính, Tòa án Nhân dân tối cao –
262 Đội Cấn, Hà Nội.
Thời gian: Trong giai đoạn 2008-2013
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Tham khảo các giáo trình giảng dạy, các tài liệu, tạp chí, các văn bản
pháp luật của Nhà nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Thu thập số liệu thống kê từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên
của Vụ Kế hoạch và Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao.
bởi những quy định về thể chế tài chính của giai cấp phong kiến đang suy tàn,
nhất là chế độ thuế khoá vô lý, chế độ chi tiêu không rõ ràng đã gây nên phản
ứng mạnh mẽ đối với giai cấp tư sản. Họ đấu tranh để có một chế độ thuế
khoá theo luật định và chế độ chi tiêu tách bạch giữa chi tiêu chung của nhà
nước và chi tiêu của gia đình các vua chúa. Kết quả cuộc đấu tranh đó đã đưa
đến những thay đổi lớn trong quản lý tài chính của nhà nước và thuật ngữ
NSNN được dùng từ đó.
Như vậy, khái niệm NSNN xuất hiện sau khái niệm nhà nước. Khi nhà
nước ra đời đòi hỏi phải có nguồn tài lực để đáp ứng các khoản chi tiêu của
mình, hay nói cách khác đó là điều kiện cần để xuất hiện NSNN. Song khái
niệm NSNN ra đời trong lịch sử chỉ khi quan hệ hàng hoá - tiền tệ phát triển
mạnh. Đó chính là điều kiện đủ để xuất hiện NSNN.
Ngày nay thuật ngữ NSNN được dùng phổ biến trong đời sống kinh tế
xã hội, song cho đến nay chưa có một quan niệm thống nhất về khái niệm
NSNN.
Luật NSNN được Quốc hội khoá IV kỳ họp thứ 9 thông qua ngày
20.3.1996, công bố ngày 3.4.1996 quy định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu,
5
Khóa luận Tốt nghiệp - Nguyễn Việt Anh
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định và được thực hiện trong 1 năm để đảm bảo thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của nhà nước”.
Theo giáo trình tài chính học của trường Đại học Tài chính Kế toán Hà
nội : “NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính trong
quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước - quỹ ngân sách - để
Với quyền lực tối cao của mình nhà nước có thể sử dụng các công cụ
sẵn có để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn
lực tài chính cần thiết. Song cơ sở tạo lập các nguồn lực tài chính xuất phát từ
sản xuất, mà chủ thể là các thành viên trong xã hội, mọi thành viên đều có lợi
ích kinh tế đó. Nghĩa là nhà nước không thể dựa vào quyền lực của mình để
huy động sự đóng góp của xã hội dưới bất kỳ hình thức nào, bằng mọi giá mà
phải có giới hạn hợp lý, đó chính là việc giải quyết một cách hài hoà giữa lợi
ích nhà nước và lợi ích của các thành viên trong xã hội. Nếu chỉ chú trọng đến
lợi ích của nhà nước mà không chú ý đến lợi ích của xã hội thì quan hệ giữa
nhà nước và xã hội trở nên căng thẳng, sản xuất đình trệ, ảnh hưởng đến đời
sống của nhân dân. Do đó việc khẳng định NSNN thể hiện các quan hệ kinh
tế giữa nhà nước và xã hội có ý nghĩa quan trọng không chỉ đơn thuần về mặt
lý luận mà còn thực sự cần thiết trong quá trình quản lý và điều hành NSNN.
Mọi hoạt động thu chi của NSNN đều nhằm tạo lập và sử dụng các
nguồn lực tài chính, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước
và các chủ thể trong xã hội: Đó là mối quan hệ giữa phần nộp vào NSNN và
phần để lại cho các chủ thể kinh tế. Phần nộp vào ngân sách sẽ tiếp tục được
phân phối nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước và phục vụ các nhu
cầu phát triển kinh tế-xã hội nói chung.
Từ những đặc điểm hoạt động thu chi của NSNN và sự phân tích trên,
có thể hiểu NSNN một cách khái quát như sau: NSNN là một phạm trù kinh
tế, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể trong
xã hội, phát sinh do nhà nước tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài
7
Khóa luận Tốt nghiệp - Nguyễn Việt Anh
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
8
Khóa luận Tốt nghiệp - Nguyễn Việt Anh
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
ngoài nước;
-Các khoản di sản nhà nước được hưởng;
-Thu kết dư ngân sách năm trước;
-Tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước tại các đơn vị
hành chính, sự nghiệp;
-Các khoản tiền phạt, tịch thu;
-Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
-Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền, bằng hiện vật của Chính
phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài;
-Các khoản vay trong nước, vay nước ngoài của Chính phủ để bù đắp
bội chi và khoản huy động vốn đầu tư trong nước của tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương (gọi chung là tỉnh) quy định tại khoản 3 điều 8 của Luật
NSNN được đưa vào cân đối ngân sách.
Việc phân phối các khoản thu NSNN có ý nghĩa thiết thực trong việc
phân tích đánh giá và quản lý các nguồn thu NSNN. Dựa vào nội dung kinh tế
và tính chất các khoản thu có thể chia thu ngân sách thành hai nhóm: Nhóm
thu thường xuyên có tính chất bắt buộc bao gồm thuế, phí và lệ phí, các khoản
thu từ hoạt động kinh tế nhà nước. Nhóm thu không thường xuyên gồm các
khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản do nhà nước vay để bù
đắp bội chi. Ngoài ra còn có các khoản thu vay và viện trợ của nước ngoài.
1.2.2 Chi ngân sách nhà nước
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo nguyên
tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm trang trải cho chi phí bộ máy nhà nước và
thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội mà nhà nước đảm nhận theo những
nguyên tắc nhất định.
Chi ngân sách nhà nước gồm:
+Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước; góp vốn cổ
phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia
của nhà nước theo quy định của pháp luật;
+Chi cho quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển đối
với chương trình, dự án phát triển kinh tế;
+Dự trữ nhà nước;
10
Khóa luận Tốt nghiệp - Nguyễn Việt Anh
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
+Cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển.
-Chi trả nợ gốc tiền do nhà nước vay.
-Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
Có nhiều cách phân loại các khoản chi như căn cứ vào mục đích kinh
tế-xã hội hay căn cứ vào lĩnh vực chi, nhưng theo thông lệ quốc tế, các khoản
chi được phân thành: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi khác. Chi
thường xuyên là các khoản chi cho tiêu dùng hiện tại gồm tiêu dùng cá nhân
và tiêu dùng của các tổ chức, sự nghiệp. Các khoản chi đầu tư là các khoản
chi cho tiêu dùng trong tương lai, các khoản chi này có tác dụng làm tăng cơ
sở vật chất của quốc gia và góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế.
1.3 Hệ thống ngân sách nhà nƣớc và phân cấp ngân sách
1.3.1 Hệ thống NSNN: là tổng thể các cấp ngân sách gắn bó hữu cơ
với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của mỗi cấp ngân sách.
Hệ thống NSNN của nước ta được xây dựng trên các nguyên tắc:
Một là, Đảm bảo tính thống nhất của nền tài chính quốc gia. Đó là điều
kiện quan trọng để đưa mọi hoạt động thu chi của NSNN ở các cấp đi đúng
quỹ đạo quản lý kinh tế, tài chính của nhà nước, tạo nên mối liên hệ gắn bó
ngân sách địa phương. Theo Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam thì Quốc hội
quyết định và phân bổ NSNN, tức là quyết định cả ngân sách trung ương và
ngân sách các cấp chính quyền địa phương. Đây là điểm khác biệt cần lưu ý
so với nhiều nước trên thế giới và cũng là điểm khó khăn trong việc quyết
định và phân bổ ngân sách hàng năm.
1.3.2 Phân cấp ngân sách: Phân cấp ngân sách thực chất là việc giải
quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong việc sử dụng NSNN.
Cụ thể là:
-Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong
việc ban hành các chính sách, chế độ thu chi quản lý ngân sách.
-Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nhiệm vụ
12
Khóa luận Tốt nghiệp - Nguyễn Việt Anh
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
chi, nguồn thu và cân đối ngân sách giữa các cấp chính quyền.
-Giải quyết mối quan hệ trong chu trình ngân sách.
Muốn thực hiện được những nội dung trên, phân cấp ngân sách phải
đảm bảo các nguyên tắc:
Thứ nhất: Phân cấp ngân sách phải được tiến hành đồng thời với
phân cấp kinh tế và tổ chức bộ máy hành chính. Tuân thủ nguyên tắc này tạo
điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết mọi quan hệ vật chất giữa các cấp
chính quyền, xác định rõ nguồn thu trên địa bàn và quy định nhiệm vụ chi của
các cấp chính quyền một cách chính xác.
Thứ hai: Đảm bảo thực hiện vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương
và vị trí độc lập của ngân sách địa phương trong hệ thống NSNN thống nhất.
Thứ ba: Đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp ngân sách:
nguồn thu giữa các địa phương - địa phương nào giàu (có nguồn thu lớn) thì
tỷ lệ này thấp và ngược lại, địa phương nào quá nghèo thì tỷ lệ phân chia có
thể được mở đến 100%.
1.4 Chu trình ngân sách nhà nƣớc
Chu trình NSNN là quá trình từ khi hình thành ngân sách cho tới khi
kết thúc để chuyển sang ngân sách mới. Quá trình này bao gồm các khâu:
Hình thành ngân sách (dự toán), chấp hành ngân sách, quyết toán ngân sách.
1.4.1 Hình thành ngân sách là quá trình bao gồm các công việc: Lập
ngân sách, phê chuẩn ngân sách và thông báo ngân sách
-Lập ngân sách là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ
các khâu của quá trình quản lý ngân sách. Lập ngân sách thực chất là dự toán
các khoản thu chi của ngân sách trong một năm ngân sách. Việc dự toán thu
chi đúng đắn, có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối
với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội nói chung và việc thực hiện ngân sách
nói riêng.
-Phê chuẩn ngân sách là việc Quốc hội thực hiện thông qua dự toán
14
Khóa luận Tốt nghiệp - Nguyễn Việt Anh
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
ngân sách chính thức do Chính phủ trình.
-Thông báo ngân sách là bước cuối cùng của quá trình hình thành ngân
sách được thực hiện sau khi có nghị quyết phê chuẩn ngân sách của Quốc hội.
Chính phủ ra quyết định và Bộ Tài chính giao hướng dẫn nhiệm vụ thu chi
ngân sách cho các Bộ, Ngành, địa phương để thực hiện.
1.4.2 Chấp hành NSNN: Sau khi ngân sách được phê chuẩn và năm
ngân sách bắt đầu thì việc thực hiện ngân sách được triển khai. Nội dung của
Phân phối của NSNN luôn gắn chặt với chủ thể phân phối là nhà nước.
Nhà nước sử dụng NSNN là công cụ phân phối một bộ phận tổng sản phẩm
quốc dân, cùng các nguồn tài chính khác nhằm hình thành quỹ tích luỹ và tiêu
dùng trong phạm vi toàn xã hôị. Phân phối của NSNN mang tính chất không
hoàn trả trực tiếp, dựa trên quyền lực kinh tế chính trị của nhà nước. Phân
phối đúng đắn phù hợp sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Ngược
lại sẽ kìm hãm sự tăng trưởng của nền kinh tế. Vì vậy phải phát triển mạnh
mẽ kinh tế hàng hoá-thị trường, nâng cao vai trò điều hành và quản lý kinh tế-
xã hội của nhà nước để phát huy mặt tích cực của chức năng phân phối.
Chức năng thứ hai là chức năng giám đốc. Giám đốc NSNN được thực
hiện trong quá trình tập trung, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của
nhà nước - quỹ ngân sách trên nhiều lĩnh vực và gắn với tính hiệu quả của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Hai chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của ngân sách. Từ đó phát huy vai trò tích cực
của NSNN đối với quá trình tổ chức quản lý vĩ mô nền kinh tế, bổ sung hoàn
thiện cơ chế quản lý ngân sách nhằm làm cho hoạt động của ngân sách phù
hợp với cơ chế quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước.
1.5.2 Vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trƣờng
Sự thay đổi cơ chế quản lý kinh tế từ quản lý tập trung bao cấp sang cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã làm thay đổi căn bản vai trò của
16
Khóa luận Tốt nghiệp - Nguyễn Việt Anh
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
NSNN. Nếu như trước đây NSNN được coi là công cụ tài chính quan trọng để
nhà nước “làm kinh tế” thì ngày nay nó được coi là công cụ tài chính quan
GVHD: TS.Nguyễn Trọng Nghĩa
kinh tế. Một mặt NSNN là kết quả của hoạt động kinh tế-xã hội, mặt khác nó
có tác dụng tích cực đối với việc phát triển kinh tế. Thông qua phân phối
NSNN có thể điều chỉnh cơ cấu, ưu tiên cho những lĩnh vực quan trọng, cân
bằng những vấn đề kinh tế-xã hội, môi trường như thực hiện sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm thay đổi bộ mặt
xã hội cả thành thị và nông thôn, tăng thu nhập bình quân và nâng cao đời
sống nhân dân. Chi cho phát triển kinh tế là khoản chi có tính chất tích luỹ, tái
sản xuất ra của cải vật chất, sản xuất mở rộng và hình thành các trung tâm tích
tụ mới, tạo ra nhiều công ăn việc làm và hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp.
Hai là, NSNN góp phần bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát. Trong kinh
tế thị trường, sự biến động giá cả có nguyên nhân từ sự mất cân đối cung cầu.
Thông qua thuế và chính sách chi tiêu của NSNN, nhà nước có thể tác động
vào khía cạnh cung hoặc cầu để bình ổn giá cả. Đặc biệt sự hình thành quỹ dự
phòng và quỹ dự trữ từ kinh phí NSNN để đối phó sự biến động của thị
trường đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong bình ổn giá cả. Lạm phát là căn
bệnh đối với nền kinh tế. Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi
phí tăng. Để giảm lạm phát tất yếu phải dùng các biện pháp để hạ thấp giá, hạ
thấp chi phí. Bằng biện pháp thu chi của ngân sách, nhà nước có thể nâng đỡ
cung, giảm bớt cầu, nghĩa là khi xảy ra lạm phát một mặt nhà nước có thể
tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư phát triển, đồng thời thắt chặt
các khoản chi tiêu của NSNN.
Ba là, vai trò của nhà nước đối với công bằng xã hội.
Thông qua hoạt động thu chi, NSNN thực hiện tái phân phối thu nhập
đảm bảo sự công bằng của xã hội. Cụ thể qua các hoạt động thu NSNN dưới
hình thức kết hợp thuế gián thu và thuế trực thu để điều tiết thu nhập, điều tiết
tiêu dùng đảm bảo thu nhập chính đáng của người lao động, hạn chế thu nhập
bất chính. Qua hoạt động chi dưới hình thức trợ cấp để thực hiện các chính