BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ TÀI: Tình hình quản lý và sử
dụng ngân sách Nhà nước
của xã Hòa An, huyện Krông
Păk, tỉnh Đăk Lăk năm 2009
– 2010
1
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 3
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3. Đối tượng nghiên cứu 5
1.4. Phạm vi nghiên cứu 5
PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN: 5
2.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước 5
Trong cơ chế thị trường, quan hệ kinh tế thuộc nội dung ngân sách nhà nước chỉ có thể
phát sinh, phát triển trên cơ sở vận động không ngừng của các cơ quan tiền tệ trong quá
trình sản xuất và lưu thông hàng hóa. Tính chất, quy mô, mức độ hiệu quả của quá trình
vận động tiền đề vật chất quan trọng nhất của ngân sách nhà nước. Sẽ không có một ngân
sách lành mạnh nếu như sự vận động của các quan hệ tiền tệ trong quá trình sản xuất và
lưu thông hàng hóa bị ách tắc hoặc bị biến dạng theo xu thế không có lợi, làm tổn thương
đến sự vận động của hàng hóa. Tuy nhiên cần cũng cần phải nhận thấy rằng: Trong mối
quan hệ giữa ngân sách nhà nước với sự vận động của các đơn vị tiền tệ nảy sinh trong
lĩnh vực sản xuất, lưu thông hàng hóa, các quan hệ tiền tệ thuộc nội dung ngân sách nhà
nước hoàn toàn không mang tính thụ động mà có ảnh hưởng tích cực trở lại. Sự ảnh
hưởng đó hoàn toàn phụ thuộc vào việc nhà nước sử dụng ngân sách làm công cụ quan
trọng trong điều chỉnh vĩ mô của nền kinh tế, xã hội. 2.1.2 Các đặc trưng của ngân sách
xã 6
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu chi ngân sách nhà nước 7
2.1.4 Vai trò của ngân sách nhà nước trong cơ chế thị trường 8
bản, phúc lợi xã hội, thậm chí có những trường hợp do động cơ tham
những dẫn đến các vi phạm về quản lý, kéo theo hậu quả lãng phí
ngân sách nhà nước… Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do:
Thất thu thuế nhà nước, đầu tư kém hiệu quả, mức cung tiền của
Ngân hàng nhà nước với nền kinh tế, tỷ giá hối đoái, nhập siêu,… Bởi
3
vậy, sử dụng ngân sách như thế nào cho hợp lý là một vấn đề cần
được giải quyết.
Xã Hòa An là một xã miền núi. Được thành lập sau giải phóng,
dân cư chủ yếu là dân miền Trung di dân từ những năm 60 của thế kỷ
trước và đồng bào dân tộc tại chỗ. Trong những năm qua, cùng với sự
phát triển của kinh tế huyện, nền kinh tế của xã đã có những tiến
triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân được cải thiên rõ rệt, cơ sở hạ tầng
từng bước được nâng cao. Tuy nhiên, song song với quá trình phát
triển, là sự xuất hiện những bất cập trong quá trình sử dụng ngân
sách nhà nước trên địa bàn xã làm hạn chế sự phát triển chung nền
kinh tế của xã. Cụ thể trong năm 2009, thu ngân sách trên địa bàn là
824.746.405 đồng, chi ngân sách là 3.646.891.911 đồng. Do vậy
những khoản thu không đáp ứng được những khoản chi, từ đó dẫn
đến tình trạng sử dụng ngân sách nhà nước chưa hợp lý, một số cơ sở
hạ tầng phục vụ đời sống nhân dân chưa đạt hiệu quả cao. Để góp
phần tháo gỡ một phần khó khăn, vướng mắc cho Ủy ban nhân dân
xã Hòa An, huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk. Dưới sự hướng dẫn của
thầy giáo – Th.s Nguyễn Ngọc Thắng và cô giáo - Th.s Nguyễn Trịnh
Thanh Nguyên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Tình hình quản lý và
sử dụng ngân sách Nhà nước của xã Hòa An, huyện Krông
Păk, tỉnh Đăk Lăk năm 2009 – 2010” để làm chuyên đề nghiên
cứu của mình.
Vì đề tài có phạm vi rộng, với thời gian và trình độ chuyên môn
có nhiều hạn chế, mặc dù chúng tôi đã cố gắng hết sức nhưng không
năng và nhiệm vụ của nhà nước”.
Xét về phương diện pháp lý: Ngân sách nhà nước là một đạo luật
dự trù các khoản thu chi, chi tiền của nhà nước trong một thời gian
nhất định, thường là một năm. Đạo luật này được các cơ quan lập
pháp của quốc gia đó ban hành.
5
Xét về bản chất kinh tế: Mọi hoạt động của ngân sách nhà nước
đều là hoạt động phân phối các nguồn tài nguyên quốc gia. Ngân
sách nhà nước thực hiện mối quan hệ phân phối. Đó là hệ thống
quan hệ kinh tế giữa một bên là Nhà nước một bên là các tổ chức kinh
tế, xã hội, các tầng lớp dân cư.
Về tính chất xã hội: Ngân sách nhà nước luôn là một công cụ
kinh tế thuộc nội dung ngân sách nhà nước, nhằm phục vụ cho việc
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Trong cơ chế thị trường, quan hệ kinh tế thuộc nội
dung ngân sách nhà nước chỉ có thể phát sinh, phát triển
trên cơ sở vận động không ngừng của các cơ quan tiền tệ
trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa. Tính
chất, quy mô, mức độ hiệu quả của quá trình vận động
tiền đề vật chất quan trọng nhất của ngân sách nhà
nước. Sẽ không có một ngân sách lành mạnh nếu như sự
vận động của các quan hệ tiền tệ trong quá trình sản
xuất và lưu thông hàng hóa bị ách tắc hoặc bị biến dạng
theo xu thế không có lợi, làm tổn thương đến sự vận
động của hàng hóa. Tuy nhiên cần cũng cần phải nhận
thấy rằng: Trong mối quan hệ giữa ngân sách nhà nước
với sự vận động của các đơn vị tiền tệ nảy sinh trong lĩnh
vực sản xuất, lưu thông hàng hóa, các quan hệ tiền tệ
thuộc nội dung ngân sách nhà nước hoàn toàn không
mang tính thụ động mà có ảnh hưởng tích cực trở lại. Sự
Tổ chức bộ máy thu ngân sách.
2.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chi ngân sách nhà
nước
Chế độ xã hội là nhân tố cơ bản;
Sự phát triển của lực lượng sản xuất;
Khả năng tích lũy của nền kinh tế;
Mô hình tổ chức bộ máy của nhà nước và những nhiệm vụ kinh
tế, xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ.
7
2.1.4 Vai trò của ngân sách nhà nước trong cơ chế thị trường.
2.1.4.1 Vai trò huy động nguồn tài chính của ngân sách
nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước .
Vai trò về mặt tài chính này của ngân sách nhà nước được xác
định trên cơ sở bản chất kinh tế của ngân sách nhà nước. Sự hoạt
động của Nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội luôn
đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích
xác định. Các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước phải được thỏa mãn của
các nguồn thu bằng hình thức thuế và thu ngoài thuế. Đây là vai trò
lịch sử của ngân sách nhà nước được xuất phát từ nội tại của phạm
trù tài chính mà trong bất kỳ chế độ xã hội và cơ chế kinh tế nào,
ngân sách nhà nước đều phải thực hiện và phát huy.
Đây là vai trò cơ bản quan trọng nhất của ngân sách nhà nước.
Qua việc thiết lập mối quan hệ giữa ngân sách với các chủ thể kinh tế
khác để tiến hành phân phối các nguồn tài chính nhằm tạo lập nên
quỹ ngân sách nhà nước. Các quan hệ kinh tế được thiết lập dưới các
hình thức :
- Thuế
- Phí và lệ phí
- Các hoạt động thu từ hoạt động kinh tế
- Đi vay
cơ chế trong lĩnh vực phân phối phù hợp với vai trò của Nhà nước với
cơ chế kinh tế, cơ chế tài chính và với những yêu cầu của chính sách
tài chính quốc gia, ngân sách nhà nước.
- Công cụ quản lý kinh tế trong cơ chế thị trường. Bằng quá trình
phân phối, huy động và sử dụng các nguồn tài chính bằng cơ chế
hoạt động ngân sách nhà nước tác động trực tiếp đến việc thực hiện
các mục tiêu kinh tế vĩ mô và tác động đến sự hoạt động của các
quan hệ hàng hoá tiền tệ trong nền kinh tế theo quỹ đạo của Nhà
9
nước. Nhà nước sử dụng ngân sách nhà nước là công cụ để điều tiết
quản lý vĩ mô nền kinh tế - xã hội theo 3 nội dung cơ bản :
2.1.4.3 Kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo định hướng
xã hội:
Để duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô và thúc đẩy
sự tăng trưởng kinh tế Nhà nước sử dụng công cụ thuế và chi ngân
sách nhà nước để hướng dẫn, kích thích và tạo ra sức ép đối với các
chủ thể kinh tế trong hoạt động kinh tế. Bằng công cụ thuế: Một mặt,
Nhà nước tạo ra nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, mặt
khác sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển, thu hút được các
doanh nghiệp và tư nhân bỏ vốn đầu tư vào các ngành nghề cần thiết
và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế theo các định hướng phát triển.
Hướng dẫn, khuyến khích thúc đẩy các thành phần kinh tế mỡ rộng
phát triển sản xuất kinh doanh thì thuế phải có tác động điều tiết trên
các lĩnh vực: Sản xuất, phân phối lưu thông và tiêu dùng. Mặt khác,
ngân sách nhà nước có tác dụng định hướng và điều chỉnh các hoạt
động kinh tế bằng các giải pháp lớn về chi ngân sách nhà nước thông
qua các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào
các ngành kinh tế mũi nhọn hoặc trợ giá cho các ngành có ảnh hưởng
tới sự phát triển của nền kinh tế. Nhìn chung trong nền kinh tế nước
ta, quy mô của các doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp quốc doanh
nào đó vượt quá nhu cầu xã hội làm cho giá mặt hàng đó giảm mạnh
dẫn đến nguy cơ thiệt hại về lợi ích kinh tế cho người sản xuất kinh
doanh và dẫn đến xu hướng dịch chuyển vốn sang các ngành nghề
khác thì lúc này Nhà nước sẽ tác động lên thị trường và giá cả bằng
việc mua hàng hóa đó với một giá thích hợp hoặc vận dụng hình thức
trợ giá để đảm bảo lợi ích của người sản xuất kinh doanh cũng như lợi
ích của xã hội trong quá trình phát triển kinh tế. Sự điều tiết của Nhà
nước lên thị trường hàng hóa được thực hiện bằng việc bố trí các
11
khoản chi ngân sách nhà nước về dự trữ tài chính, dự trữ Nhà nước
trong ngân sách hàng năm bao gồm dự trữ bằng tiền, vàng, ngoại tệ,
các loại hàng hoá vật tư chiến lược.
Bên cạnh thị trường hàng hóa, Nhà nước còn tác động đến thị
trường tiền tệ, thị trường vốn bằng việc vận dụng đồng bộ các công
cụ tài chính, giá cả tiền tệ trong đó ngân sách nhà nước là một trong
những công cụ quan trọng. Ngân sách nhà nước điều tiết thị trường
tài chính bằng các biện pháp tích cực như: khai thác các nguồn vay
trong nước bằng phát hành các loại trái phiếu như: công trái, chứng
chỉ đầu tư, tín phiếu kho bạc, tranh thủ các khoản vay vốn viện trợ
của nước ngoài bằng các biện pháp thu hút và gọi vốn tham gia trên
thị trường chứng khoán với tư cách là người vừa phát hành đồng thời
với cả tư cách người mua chứng khoán. Thực hiện các biện pháp này,
ngân sách nhà nước tác động tích cực vào mối quan hệ kinh tế giữa
các chủ thể trên thị trường tài chính đồng thời vừa tạo nguồn tài
chính cho ngân sách lại vừa thúc đẩy giao lưu các nguồn vốn góp
phần điều tiết lượng tiền trong lưu thông, kiềm chế và đẩy lùi lạm
phát .
2.1.4.5 Điều tiết thu nhập dân cư góp phần thực hiện
công bằng xã hội:
Nền kinh tế thị trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến
- Từ các khoản thu phát sinh trên địa bàn xã; và ngân sách xã
được hưởng 100% số thu từ các khoản này, người ta gọi tắt là: các
khoản thu ngân sách xã được hưởng 100%
- Từ các khoản thu phát sinh trên địa bàn xã; nhưng ngân sách
xã chỉ được hưởng 1 phần và được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) nào
đó. Tỷ lệ này thường có sự thay đổi tùy theo tình hình kinh tế, xã hội
và yêu cầu quản lý ngân sách nhà nước, người ta thường gọi tắt là
13
các khoản thu điều tiết, hay các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % với
ngân sách cấp trên.
- Từ các khoản thu được hình thành từ số chi của ngân sách cấp
trên để đảm bảo cho sự cân đối của ngân sách xã, người ta thường
gọi là thu bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc thu trực cấp.
Theo Luật ngân sách nhà nước năm 2002 các khoản thu dành
cho ngân sách xã được hưởng bao gồm những khoản gì là tùy thuộc
vào quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh. Tuy vậy Bộ Tài chính cũng
khuyến cáo có thể đưa các khoản thu sau vào danh mục dành cho
ngân sách xã được hưởng: cụ thể:
a. Các khoản thu ngân sách xã được hưởng 100%.
Các khoản phí, lệ phí thu vào ngân sách xã theo quy định
Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã phần nộp vào ngân sách
Nhà nước theo chế độ quy định.
Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và
hoa lợi công sản khác theo quy địnhcủa pháp luật do xã quản lý
Các khoản thu huy động đóng góp của các tổ chức cá nhân
gồm: các khoản đóng góp theo pháp luật quy định, các khoản đóng
góp theo nguyên tắc tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do
Hội đồng nhân xã quyết định đưa vào ngân sách xã quản lý và các
khoản đóng góp tự nguyện khác.
Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài
sung nguồn vốn cho cấp ngân sách đó để đảm bảo cân đối thu chi
ngay từ khâu xây dựng dự toán. Từ đó hình thành khoản thu bổ sung
từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. trong điều kiện hiện
nay ở nước ta phần lớn ngân sách cấp xã chưa tự cân đối được thu
chi, nên ngân sách cấp trên phải cấp bổ sung và hình thành nguồn
thu thứ ba cho ngân sách xã.
15
Cơ chế xác lập số thu bổ sung từ ngân sách cấp trên được qui
định như sau:
- Thu bổ sung để cân đối ngân sách được xác định trên cơ sở
chênh lệch giữa dự toán chi được giao và dự toán thu từ các nguồn
thu được phân cấp. Số bổ sung này được xác định từ năm đầu của
thời kỳ ổn định và được giao ổn định từ 3 đến 5 năm
- Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản thu bổ sung theo từng
năm để hỗ trợ xã thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể
2.5.2. Chi ngân sách xã
Có rất nhiều nội dung chi mà ngân sách xã phải đảm bảo, song
khi nhìn nhận một cách khái quát thì chi ngân sách xã bao gồm 2
nhóm lớn là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển.
2.5.2.1 Chi thường xuyên
- Chi cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước ở xã bao gồm:
+ Tiền lương, tiền công cho cán bộ công chức cấp xã
+ Sinh hoạt phí đại biểu HĐND
+ Các khoản phụ cấp khác theo quy định của Nhà nước
+ Chi về phúc lợi tập thể, y tế, vệ sinh
+ Công tác phí
+ Chi về hoạt động, văn phòng như: tiền điện, tiền nước, vật
liệu văn phòng, bưu phí, điện thoại, hội nghị, chi tiếp tân.
+ Chi mua sắm sữa chữa thường xuyên trụ sở, phương tiện làm
việc
- Chi sữa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi các công trình hạ
tầng cơ sở do xã quản lý như: trường học, trạm y tế, đài tưởng niệm,
cơ sơ thể dục thể thao, cầu, đường giao thông, công trình cấp thóat
nước công cộng riêng đối với thị trấn còn có nhiệm vụ chi quản lý,
17
sữa chữa cải tạo vỉa hè, đường phố nội thị, đèn chiếu sáng, công viên,
cây xanh (đối với phường do ngân sách cấp trên chi).
- Hỗ trợ khuyến khích phát triển các sự nghiệp kinh tế như
khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm, nuôi dưỡng phát triển nguồn
thu ngân sách xã.
- Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật
Căn cứ vào định mức chế độ, tiêu chuẩn của Nhà nước, Hội đồng
nhân dân tỉnh quy định cụ thể mức chi thường xuyên cho từng công
việc phù hợp với tình hình đặc điểm và khả năng ngân sách địa
phương
2.5.2.2 Chi đầu tư phát triển
Nhóm chi đầu tư phát triển là tập hợp các nội dung chi có liên
quan đến việc cải tạo, nâng cấp hoặc làm mới các công trình thuộc hệ
thống cơ sở vật chất kỹ thuật của xã như: đường giao thông, kênh
mương tưới tiêu nước, trường học, trạm xá, hệ thống truyền tải và
cung cấp điện năng Do vậy các khoản chi đầu tư phát triển thể hiện
rõ mục đích tích lũy nên cần phải ưu tiên đầu tư vốn cho nó nhiều
hơn.
Chi đầu tư phát triển của ngân sách xã hiện nay gồm:
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã
hội của xã hội của xã không có khả năng thu hồi vốn theo phân cấp
của cấp tỉnh
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã
hội của xã hội của xã từ nguồn huy động đóng góp của các tổ chức cá
nhân cho từng dự án nhất định theo qui định pháp luật, do Hội đồng
7 Dự phòng
8 Chi chuyển nguồn 17,233
C BỘI CHI NSNN -115,900
Tỷ lệ bội chi so GDP -6.9%
D NGUỒN BÙ ĐẮP BỘI CHI NSNN 115,900
1 Vay trong nước 88,520
19
2 Vay ngoài nước
20
THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Đơn vị : Tỷ đồng
STT Nội dung Ước thực hiện 2009
A THU CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ ƯỚC 442,340
I Thu nội địa 269,656
1 Thu từ doanh nghiệp nhà nước 83,859
2
Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu
thô)
50,659
3 Thu từ khu vực công thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh 47,833
4 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 67
5 Thuế thu nhập cá nhân 14,329
6 Lệ phí trước bạ 9,658
7 Thu phí xăng, dầu 8,961
8 Các loại phí, lệ phí 7,658
9 Các khoản thu về nhà, đất 41,712
- Thuế nhà đất và chuyển quyền sử dụng đất 1,464
2 Trả nợ ngoài nước 10,370
3 Chi viện trợ 800
III
Chi phát triển sự nghiệp kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh,
quản lý hành chính
320,501
Trong đó:
1 Chi Giáo dục - đào tạo, dạy nghề 78,105
2 Chi Y tế 27,479
3 Chi Dân số và kế hoạch hoá gia đình 931
4 Chi Khoa học, công nghệ 4,611
5 Chi Văn hoá thông tin 3,200
6 Chi Phát thanh, truyền hình, thông tấn 1,770
7 Chi Thể dục thể thao 1,462
8 Chi lương hưu và bảo đảm xã hội 62,465
9 Chi sự nghiệp kinh tế 26,866
10 Chi sự nghiệp bảo vệ môi trường 5,585
11 Chi quản lý hành chính nhà nước, Đảng, đoàn thể 44,903
12 Chi trợ giá mặt hàng chính sách 1,460
IV Chi bù lỗ cho doanh nghiệp kinh doanh dầu 2,100
V Chi dự phòng
VI Chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính 100
VII Chi cải cách tiền lương
VIII Chi chuyển nguồn 17,233
B CHI QUẢN LÝ QUA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 66,980
C VAY NƯỚC NGOÀI VỀ CHO VAY LẠI 23,720
TỔNG CỘNG (A+B+C) 675,395
Chúng ta thấy tình hình thu ngân sách nhà nước năm 2009 là 468,795 tỷ đồng và
21
Trong năm 2009 tổng thu ngân sách xã là 824.746.405 đồng,
đạt 155% so với dự toán huyện giao, đạt 102% so với Nghị quyết hội
đồng nhân dân xã giao, tăng 30% so với năm 2008. Tuy nhiên tổng
chi ngân sách là 3.646.981.911 đồng.
Xét riêng trong 6 tháng đầu năm 2010 thu ngân sách trên địa
bàn là 307.714.215 đồng, đạt 76% so với dự toán huyện giao và đạt
42 % so với nghị quyết Hội đồng nhân dân xã giao, tăng 105 so với 6
tháng đầu năm năm 2009. Tổng chi ngân sách tính đến hết tháng 6
năm 2010 là 2.115.573.058 đồng.
PHẦN THỨ BA: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
23
3.1 M t s nét v tình hình c b n c a vi c qu n l và s d ng lao ng t i xã Hoà An ộ ố ề ơ ả ủ ệ ả ý ử ụ độ ạ
huy n Krông P k t nh kl kệ ă ỉ Đă ă
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1.Vị trí địa lý.
Xã Hòa An nằm về phía đông của huyện Krông Păk với tổng diện tích tự nhiên
là 2356 ha.
Phía Bắc giáp với xã Bình Thuận, Huyện Krông Buk, Tỉnh Đăk Lăk.
Phía Đông Nam giáp với xã Ea Hiu, Huyện Krông Păk, Tỉnh Đăk Lăk.
Phía Đông Bắc giáp với xã Ea Phê , Huyện Krông Păk, Tỉnh Đăk Lăk.
Phía Tây Bắc giáp với xã Ea Yông, Huyện Krông Păk, Tỉnh Đăk lăk.
Phía Tây giáp với thị trấn Phước An, Huyện Krông Păk, Tỉnh Đăk Lăk.
Nằm ở vị trí vừa là đầu mối giao lưu kinh tế của các xã phía Đông Nam (Hòa
Tiến, Tân Tiến, Ea Uy và Ea Yiêng), vừa giáp với trung tâm huyện lỵ. Ưu thế này tạo
kiện khá thuận lợi trong quá trình hòa nhập với nền kinh tế chung của huyện.
3.1.1.2. Thời tiết – khí hậu.
Theo số liệu của trung tâm khí tượng thủy văn Đăk Lăk các yếu tố khí hậu xã
Hòa An như sau:
Nhiệt độ: Tổng nhiệt độ từ 8500 đến 9000
Địa hình xã Hòa An khá bằng phẳng. độ cao trung bình dưới mực nước biển là
450m đến 500m. Nhìn chung địa hình của xã có xu hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống
Đông Nam.
Trên địa bàn xã cấp độ dốc được phân ra như sau:
+ Độ dốc cấp I (0
0
đến 3
0
), diện tích 1283 ha, phân bố ở khu vực trung tâm và
một phần ở phía Nam của xã.
+ Độ dốc cấp II (3
0
đến 8
0
), diện tích 1073 ha, phân bố ở khu vực phía Nam và
Tây Nam của xã.
3.1.1.4. Thổ nhưỡng
Theo điều tra của viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp 1978 cho thấy đất đai
trên địa bàn xã Hòa An được chia thành các loại sau:
+ Đất hồ, sông suối (SH): diện tích 10 ha chiếm 0,4% diện tích phân bố các khu
vực ven các con suối.
+ Đất nâu đỏ phát triển đá mẹ bazan (F) đây là loại đất địa bàn xã (77,5%) với
diện tích 1827 ha phân bố hầu khắp xã.
Đặc điểm của loại đất này là độ pH từ 4 đến 4,5, hàm lượng mùn từ 3% đến 5%,
lân dễ tiêu rất ít (dưới 5mg/100g), hàm lượng kali thấp, cơ giới đất thịt nặng đến sét.
Đất có kết cấu viên do đó rất tơi xốp, độ xốp từ 50% đến 60%. Sử dụng chủ yếu trồng
cây công nghiệp lâu năm có giá trị.
+ Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của bazan (Rk): Diện tích 362 ha, chiếm 15,4%
diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở phía Nam và một phần nhỏ ở phía Đông.
25