PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA XÍ NGHIỆP XÂY LẮP 1 - Pdf 75

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
CỦA XÍ NGHIỆP XÂY LẮP 1.
I - PHÂN TÍCH KẾT CẤU VÀ TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
CỦA XÍ NGHIỆP XÂY LẮP 1.
Tài sản cố định của doanh nghiệp là cơ sở vật chất kỹ thuật, là nhân tố quan
trọng đảm bảo điều kiện sản xuất của doanh nghiệp. Tài sản cố định là thước đo
năng lực sản xuất hiện có, trình độ tiên tiến về khoa học kỹ thuật của doanh
nghiệp. Tài sản cố định và đặc biệt là máy móc thiết bị sản xuất là điều kiện quan
trọng và cần thiết để tăng sản lượng, tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản
xuất, hạ giá thành sản phẩm.
Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, việc chuyển đổi từ cơ chế tập trung
bao cấp sang nền kinh tế thị trường thì việc trang bị trình độ khoa học kỹ thuật
công nghệ, đổi mới tài sản cố định trong các doanh nghiệp được đặt ra như một
vấn đề thời sự cấp bách. Trong khi cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu,
hạ tầng cơ sở thiếu thốn, nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp, nền công
nghiệp còn non trẻ chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước.
Việc không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định hiện có trong
sản xuất kinh doanh là một việc làm hết sức quan trọng và cấp thiết. Đó chính là
vấn đề sống còn của bất kỳ một doanh nghiệp nào để không ngừng tăng thêm năng
lực sản xuất, tức là tăng thêm sự tồn tại và tích luỹ để đứng vững và phát triển
trong cơ chế thị trường.
Song thực tế hiện nay việc sử dụng tài sản cố định ( nhất là hệ thống máy
móc thiết bị trong sản xuất kinh doanh) của các doanh nghiệp đang có chiều hướng
giảm sút, chỉ xét riêng về trình độ tận dụng năng lực sản xuất nhiều doanh nghiệp
chỉ ở dưới mức 50%. Việc giảm sút và tận dụng không hết năng lực có thể do công
tác quản lý và sử dụng tài sản cố định không hợp lý, kém hiệu quả. Hệ số sử dụng
thời gian chưa triệt để, còn thấp, do công tác dự trữ bảo quản, lắp đặt và công tác
bảo quản sửa chữa không đúng nơi đúng chỗ, không kịp thời do công tác dự toán
và cung cấp vật tư, phụ tùng thay thế.
Hiện nay, khi các chủ trương chính sách của Đảng về cách thức hoạt động
sản xuất kinh doanh, đặc biệt là chủ trương tự chủ trong sản xuất kinh doanh của

vậy việc kết cấu tài sản, tỷ trọng mỗi thành phần cấu thành kết cấu tài sản cố định
dùng trong sản xuất sao cho có lợi nhất và thu được hiệu quả cao, phù hợp với quy
mô sản xuất của từng doanh nghiệp là điều rất quan trọng và cần thiết, có vai trò
quyết định đến hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong sản xuất kinh doanh của Xí
nghiệp xây lắp 1.
Xí nghiệp xây lắp 1 thực hiện quyết định 166/1999/QĐ - BTC ngày
31/12/`1999 của Bộ Tài Chính về việc ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích
khấu hao tài sản cố định thì những tài sản có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên và
có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên được coi là tài sản cố định. Để quản lý và sử dụng
có hiệu quả số tài sản này, Xí nghiệp xây lắp 1 đã phân loại tài sản cố định theo các
nhóm như sau:
Nhóm I- Nhà xưởng:
- Nhà làm việc cơ quan
- Xưởng sản xuất
- Nhà kho
- Nhà để ô tô
Nhóm II- Máy móc thiết bị công tác:
- Máy trộn
- Cốp pha thép
- Đầm cóc
- Máy cắt thép
- Máy biến thế điện
Nhóm III- Phương tiện vận tải:
- Xe ô tô
Nhóm IV- Máy móc thiết bị văn phòng:
- Máy phô tô
- Máy vi tính
- Máy tính
- Máy in
- Máy fax

5 TSCĐ phúc lợi
công cộng
9.582.000 0,62 5.962.000 0,88 + 0,26
II TSCĐ thuê tài
chính
0 0 0 0 0
III
TSCĐ vô hình
0 0 0 0 0
TỔNG TSCĐ
1.537.074.085 100 1.709.459.149 100
( Nguồn cung cấp: Phòng Tài chính - Kế toán )
Nhìn vào bảng phân tích ta thấy: Giá trị tổng TSCĐ của Xí nghiệp năm 2003
so với năm 2002 tăng 172.385.064 đồng, tương ứng với mức tăng giá trị là
11,22%, trong đó nhóm TSCĐ hữu hình vẫn chiếm tỷ lệ 100%.
Tính đến 31/12/2003 tổng nguyên giá tài sản cố định của Xí nghiệp là
2.550.094.163 đồng với tổng giá trị còn lại là 1.709.459.149 đồng.
Các nhóm tài sản cố định giảm tỷ trọng:
+ Nhà xưởng năm 2002 có giá trị 1.222.064.893 đồng, năm 2003 có giá trị
1.090.064.893 đồng, tỷ trọng giảm 15,74%
+ Máy móc thiết bị công tác năm 2002 có giá trị 52.290.694 đồng, năm
2003 có giá trị 20.190.694 đồng, tỷ trọng giảm 2,22%
Các nhóm tài sản cố định tăng tỷ trọng:
+ Phương tiện vận tải năm 2002 có giá trị 175.966.800 đồng, năm 2003 có
giá trị 478.540.857 đồng, tỷ trọng tăng 16,54%
+ Máy móc thiết bị văn phòng năm 2002 có giá trị 77.169.698 đồng, năm
2003 có giá trị 105.700.705 đồng, tỷ trọng tăng 1,16%
+ TSCĐ phúc lợi công cộng năm 2002 có giá trị 9.582.000 đồng, năm 2003
có giá trị 5.962.000 đồng, tỷ trọng của nhóm này trong tổng tài sản cố định tăng
0,26%.

H
tăng TSCĐ
=
Giá trị TSCĐ bình quân trong kỳ
Năm 2002: H
tăng TSCĐ
=
492.415.969.1
733.051.632.1
= 0,83
Năm 2003: H
tăng TSCĐ
=
656.776.129.2
064.873.595
= 0,28
* Hệ số giảm tài sản cố định:
Giá trị TSCĐ giảm trong kỳ
H
giảm TSCĐ
=
Giá trị TSCĐ bình quân trong kỳ
Năm 2002:
H
giảm TSCĐ
=
492.415.969.1
748.954.241
= 0,12
Năm 2003:

9.065.000 đồng.
Việc tăng giảm tài sản cố định này của Xí nghiệp xây lắp 1 là phù hợp với
yêu cầu sản xuất kinh doanh, không ảnh hưởng gì đến các hoạt động của xí nghiệp.
II - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRANG BỊ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA XÍ
NGHIỆP XÂY LẮP 1.
Ta cần phân tích chỉ tiêu này để đánh giá mức độ sử dụng tài sản cố định, đặc
biệt là tình trạng máy móc thiết bị sản xuất trên số lượng lao động hay trên m
2
diện
tích sản xuất... nhằm trang bị hợp lý tài sản cố định đảm bảo năng suất, hiệu quả.
Để đánh giá tình hình trang bị tài sản cố định, ta cần phân tích các chỉ tiêu sau:
Nguyên giá TSCĐ bình quân
=
Tổng số công nhân
Nguyên giá TBMM bình quân
=
Nguyên giá TSCĐ
bình quân cho 1
công nhân
Nguyên giá
TBMM bình quân
cho 1 công nhân
Tổng số công nhân sản xuất
Bảng 3-4
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRANG BỊ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA XNXL I
ĐVT: Đồng
Năm Tổng số công nhân
sản xuất ( người )
Nguyên giá TSCĐ
bình quân

085.274.546.1
= 981.466 (Đồng)
Năm 2003:
H
TSCĐ 1 CN
=
232
531.925.475.2
= 10.672.093 (Đồng)
H
TBMM 1 CN
=
232
808.487.233
= 1.006.413 (Đồng)
Trong đó:
H
TSCĐ 1 CN
là hệ số trang bị tài sản cố định cho 1 công nhân
H
TBMM 1 CN
là hệ số trang bị máy móc thiết bị cho 1 công nhân

Các kết quả phân tích trên đã phản ánh:
Năm 2001: Cứ 1 công nhân được trang bị 5.384.408 đồng TSCĐ và 878.967
đồng thiết bị máy móc sản xuất.
Năm 2002: Cứ 1 công nhân được trang bị 7.757.768 đồng TSCĐ và 981.466
đồng thiết bị máy móc sản xuất.
Năm 2003: Cứ 1 công nhân được trang bị 10.672.093 đồng TSCĐ và
1.006.413 đồng thiết bị máy móc sản xuất.

= 0,36
+ Hệ số hao mòn TSCĐ năm 2003 =
163.094.550.2
014.635.840
= 0,33
Ta thấy hệ số hao mòn của Xí nghiệp xây lắp 1 là tương đối thấp. Hệ số hao
mòn năm 2003 giảm so với hệ số hao mòn 2002 là 0,03. Con số này phản ánh là
trong năm 2003, Xí nghiệp đã có sự đầu tư đổi mới tài sản cố định vào sản xuất
kinh doanh, mặc dù sự đầu tư này không phải là lớn. Hệ số hao mòn thấp như vậy
chứng tỏ rằng tài sản cố định của Xí nghiệp còn mới, giá trị sử dụng vẫn còn nhiều.
Để phân tích chi tiết hơn về tình trạng kỹ thuật của tài sản cố định ở Xí nghiệp
xây lắp 1, ta xem bảng sau:
Bảng 3.5
TÌNH TRẠNG KỸ THUẬT TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA XÍ NGHIỆP XÂY LẮP 1
ĐVT: Đồng
TT
Nhóm tài sản
Năm 2002 Năm 2003
Tỷ lệ (%) đã
hao mòn
Nguyên giá
Hao mòn luỹ
kế
Nguyên giá
Hao mòn luỹ
kế
2002 2003
1 Nhà xưởng 1.513.951.893 291.887.000 1.513.951.893 423.887.000 19,28 28,00
2 Máy móc thiết bị công tác 233.487.808 181.197.114 233.487.808 204.297.114 77,61 87,50
3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status