BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN MAI ANH
PHÁP LUẬT VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ TRONG
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Xuân Thu
HÀ NỘI - 2011
LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc, em xin trân trọng cảm
ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học trường Đại học Luật Hà Nội và các
giảng viên đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ em trong
quá trình học tập và nghiên cứu. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành
đến thầy giáo TS. Nguyễn Xuân Thu đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em
hoàn thành luận văn này.
LUẬT VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ TRONG DOANH NGHIỆP.............................. 10
1.1. Khái niệm đào tạo nghề và đào tạo nghề trong doanh nghiệp............ 10
1.1.1. Đào tạo nghề .................................................................................... 10
1.1.2. Đào tạo nghề trong doanh nghiệp ................................................... 13
1.2. Vai trò của đào tạo nghề trong doanh nghiệp ..................................... 15
1.3. Điều chỉnh pháp luật về đào tạo nghề trong doanh nghiệp ................ 18
1.3.1. Nguyên tắc ....................................................................................... 18
1.3.2. Nội dung điều chỉnh pháp luật về đào tạo nghề trong doanh
nghiệp ........................................................................................................ 20
1.3.3 Lược sử pháp luật Việt Nam về đào tạo nghề trong doanh nghiệp .. 22
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ TRONG
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM .................................................................. 26
2.1. Pháp luật về đào tạo nghề cho người lao động để làm việc cho
doanh nghiệp theo thời hạn đã cam kết ...................................................... 26
2.1.1. Điều kiện đối với doanh nghiệp thực hiện đào tạo nghề ................. 26
2.1.2. Vấn đề chi phí đào tạo nghề và thời hạn người lao động phải làm
việc cho doanh nghiệp sau khi được đào tạo ............................................ 28
2.1.3. Vấn đề bồi thường chi phí đào tạo nghề trong trường hợp người
lao động vi phạm cam kết về thời hạn làm việc ......................................... 30
2.2. Pháp luật về bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người
lao động ........................................................................................................ 32
2.2.1. Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc nâng cao trình độ
nghề nghiệp của người lao động ............................................................... 33
2.2.2. Trách nhiệm của người lao động khi được doanh nghiệp bồi
dưỡng nâng cao trình độ nghề nghiệp ...................................................... 35
3
2.3. Pháp luật về đào tạo lại nghề cho người lao động ............................... 43
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của nước ta đề ra
mục tiêu tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong
GDP; giá trị sản phẩm công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP; giá trị
sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất
công nghiệp; nông nghiệp có bước phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả,
bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao; tỷ lệ lao động nông nghiệp
khoảng 30% lao động xã hội.
Với những yêu cầu rất cao của một nước công nghiệp, nước ta đứng
trước một thách thức lớn về vấn đề xây dựng nguồn nhân lực không chỉ đủ về
số lượng mà còn phải có kiến thức, kỹ năng chuyên môn phù hợp. Vì vậy, Dự
thảo cũng đưa ra các định hướng cụ thể để đạt được các mục tiêu này. Trong
đó đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực. Nhà nước ta luôn xác định phát triển và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là
yếu tố quyết định quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng và là lợi thế cạnh tranh dài hạn, bảo đảm kinh tế - xã hội phát triển
nhanh, hiệu quả, bền vững. Chính vì vậy, hoạt động giáo dục và đào tạo đặc
biệt là đào tạo nghề cũng trở nên vô cùng quan trọng và cần thiết.
Những năm gần đây được sự quan tâm của Nhà nước và cả xã hội,
công tác đào tạo nghề đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, so với
những đòi hỏi thực tế của thị trường lao động thì công tác đào tạo nghề ở Việt
Nam hiện nay vẫn chưa đáp ứng được. Trên thực tế ngoài việc tuyển dụng lao
động qua đào tạo nghề trên thị trường, các DN cũng tự tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng, nâng cao tay nghề cho người lao động.
Có thể nói DN là một chủ thể tích cực trong đào tạo nghề. Nhu cầu về
lao động có kỹ thuật cao luôn tăng cùng với sự phát triển của DN. Vì vậy, tất
5
6
DN. Các chính sách, pháp luật Việt Nam chưa có những khuyến khích, ưu đãi
thực sự thu hút được sự quan tâm của DN để họ đầu tư hơn nữa vào việc đào
tạo nghề cho người lao động. Một số quy định cụ thể chưa phù hợp với thực tế,
gây khó khăn cho cả DN và người lao động trong quan hệ đào tạo nghề.
Những vấn đề nêu trên đã gợi ý cho tôi lựa chọn đề tài: "Pháp luật về
đào tạo nghề trong doanh nghiệp ở Việt Nam - Thực trạng và phương hướng
hoàn thiện" làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn sẽ góp phần phát hiện ra
những thiếu sót trong các quy định của pháp luật, từ đó đưa ra những giải
pháp cụ thể nhằm hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề đào
tạo nghề nói chung, đào tạo nghề trong DN nói riêng.
Pháp luật về đào tạo nghề nói chung đã được đề cập trong hai đề tài
nghiên cứu khoa học cấp trường của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Việc làm
và giải quyết việc làm trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” do TS. Lưu Bình Nhưỡng làm chủ nhiệm và
“Pháp luật về dạy nghề trong điều kiện phát triển và hội nhập ở Việt Nam
hiện nay” do TS. Nguyễn Thị Kim Phụng làm chủ nhiệm. Nghiên cứu về vấn
đề này cũng có các bài báo, tạp chí như: “Vai trò của nhà nước trong việc đào
tạo nghề - nhìn từ góc độ kinh tế học” của Đỗ Thu Hằng, Đỗ Thị Kim Thoa,
bài đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước của Bộ Nội vụ số 8/2010; “Đào tạo
nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên” của TS. Nguyễn Văn Trung, bài
đăng trên tạp chí Quản lý nhà nước của Học viện Hành chính số 158, tháng
3/2009.
Pháp luật về đào tạo nghề trong DN ở Việt Nam là vấn đề nhìn chung
đang còn bỏ ngỏ. Theo tìm hiểu của tác giả luận văn, chỉ có một vài khoá luận
đào tạo nghề trong DN.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã được xác định ở
phần trên, đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là:
- Các quan điểm khoa học về đào tạo nghề và đào tạo nghề trong DN;
8
- Các quy định của pháp luật Việt Nam về đào tạo nghề trong DN;
- Thực tiễn áp dụng các quy định về đào tạo nghề trong DN ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về đào tạo nghề trong DN là một vấn đề rộng, hơn nữa thời
gian nghiên cứu và giới hạn của một luận văn thạc sỹ không cho phép đi sâu
phân tích và làm rõ thực trạng của tất cả các quy định pháp luật về đào tạo nghề
trong DN ở Việt Nam, vì vậy, tác giả chỉ giới hạn việc nghiên cứu thực trạng
pháp luật Việt Nam trong những vấn đề sau: Pháp luật về đào tạo nghề cho
người lao động để làm việc cho DN theo thời hạn đã cam kết; Pháp luật về bồi
dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động; Pháp luật về đào tạo lại
nghề cho người lao động; Pháp luật về đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ.
Với việc giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu như trên, tác giả
mong muốn sẽ giải quyết các vấn đề nghiên cứu một cách triệt để hơn và đề
xuất được các giải pháp khả thi góp phần hoàn thiện pháp luật lao động Việt
Nam khi điều chỉnh vấn đề đào tạo nghề trong DN.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Các phương pháp
nghiên cứu cụ thể bao gồm: phân tích, tổng hợp, thống kê, lịch sử, so sánh…
Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các chương, mục của
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về đào tạo nghề trong doanh nghiệp ở
Việt Nam.
10
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ PHÁP LUẬT VỀ
ĐÀO TẠO NGHỀ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm đào tạo nghề và đào tạo nghề trong doanh nghiệp
1.1.1. Đào tạo nghề
1.1.1.1. Khái niệm
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đào tạo được hiểu như sau:
Đào tạo (giáo dục), quá trình tác động đến một con người nhằm làm
cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo…một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi
với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định,
góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền
văn minh của loài người. Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập
trong nhà trường, gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách [3, tr.735].
Có thể thấy đào tạo và giáo dục là khái niệm có nội hàm tương tự nhau, đều
là quá trình dạy - học, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp.
Cũng theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì tùy theo tính chất chuẩn bị
cho cuộc sống và cho lao động người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào
tạo nghề nghiệp.
Để hiểu rõ hơn khái niệm ĐTN (hay đào tạo nghề nghiệp), trước hết
cần làm rõ khái niệm nghề.
Theo Đại Từ điển tiếng Việt, "Nghề là công việc chuyên làm theo sự
phân công lao động xã hội" [1, tr.1192]. Theo cách hiểu này thì nghề là bất kỳ
công việc nào có đòi hỏi chuyên môn hoặc không đòi hỏi chuyên môn mà con
kỹ thuật vừa giỏi nghiệp vụ sư phạm. Ngoài ra, phải tính đến việc sử dụng các
thành tựu kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất theo khoa học. Thiếu những
điều kiện này thì ĐTN không thể có hiệu quả cao.
Thứ tư, hiện nay, khoa học phát triển nhanh, liên tục đổi mới công nghệ
sản xuất. Để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các ngành, lĩnh vực công nghệ
mới này thì ĐTN cũng phải liên tục cập nhật các nghề đào tạo mới. Vì thế,
trong vòng 5- 7 năm phải xây dựng danh mục nghề đào tạo một lần. Đây là
điểm khác biệt giữa ĐTN với giáo dục phổ thông.
1.1.2. Đào tạo nghề trong doanh nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm
Hiện nay, chưa có tài liệu nào đề cập khái niệm ĐTN trong DN. Tuy
nhiên, dựa vào khái niệm ĐTN và các quy định của pháp luật hiện hành thì có
thể hiểu một cách sơ lược về ĐTN trong DN như sau:
14
ĐTN trong DN là hoạt động ĐTN do DN tự tiến hành hoặc DN ký hợp
đồng đào tạo với cơ sở khác có chức năng ĐTN để đào tạo nhân lực trực tiếp
trong sản xuất, kinh doanh cho DN và xã hội hoặc để thực hiện các nghĩa vụ
đào tạo nghề cho NLĐ theo quy định của pháp luật.
Về chủ thể thực hiện ĐTN: hoạt động ĐTN cho NLĐ có thể do DN tự
tiến hành bằng hình thức kèm cặp, đào tạo tại các cơ sở ĐTN của mình hoặc
DN ký hợp đồng với các cơ sở ĐTN để tổ chức ĐTN cho NLĐ.
Về tính chủ động của DN trong việc ĐTN: DN đào tạo nghề để cung
cấp nguồn nhân lực cho DN mình và cho xã hội hoàn toàn không có sự bắt
buộc nào từ phía Nhà nước hay là trường hợp DN đào tạo nghề cho NLĐ vì
đó là nghĩa vụ mà pháp luật quy định.
1.1.2.2. Đặc điểm
ĐTN trong DN là một hình thức đào tạo trong ĐTN nói chung. Từ đặc
người học nghề và máy móc vẫn có thể sản xuất ra sản phẩm cho DN.
Thứ ba, chất lượng ĐTN phù hợp với yêu cầu của DN. Chủ thể thực
hiện đào tạo ở đây chính là DN, cơ sở ĐTN của DN hoặc cơ sở ĐTN được
DN ký hợp đồng ĐTN. Ưu điểm lớn nhất của hình thức ĐTN này là sản phẩm
đào tạo ra phù hợp với nhu cầu thực tế sử dụng của DN, chương trình đào tạo
được xây dựng sát với thực tế sản xuất của DN, tác phong lao động công
nghiệp đã được hình thành ngay trong quá trình học tập. Sở dĩ có sự phù hợp
này là do bản thân DN cũng chính là người sử dụng lao động nên DN hiểu rõ
nhất cầu lao động cần điều gì. Ngay cả trường hợp DN ký hợp đồng ĐTN với
cơ sở đào tạo khác thì mục đích, yêu cầu và kết quả đào tạo những yếu tố cơ
bản tạo nên chất lượng đào tạo cũng là điều khoản quan trọng trong hợp đồng
mà DN đặt ra.
1.2. Vai trò của đào tạo nghề trong doanh nghiệp
Ngày nay, để tránh tình trạng phải thu hút lao động kỹ thuật bằng công
cụ tiền lương thì các DN có xu hướng tham gia tích cực hơn vào ĐTN để tự
cung cấp lao động kỹ thuật cho mình thông qua việc DN tự tổ chức ĐTN
trong DN hoặc ký hợp đồng ĐTN với các cơ sở ĐTN. Trên thế giới, từ lâu
nay các DN đã rất chú trọng đến hình thức ĐTN tại nơi làm việc bởi những
ưu điểm của nó.
16
Ở DN tiềm năng về vốn và cơ chế tài chính tự chủ nên có thể giải quyết
kịp thời nhu cầu đầu tự phục vụ cho công tác ĐTN đối với những cơ sở ĐTN
do DN thành lập hoặc liên kết đào tạo, trong khi đó việc này gặp nhiều khó
khăn hơn ở các cơ sở ĐTN khác. Bên cạnh đó, để quản lý sản xuất, kinh
doanh thì các DN cũng phải có đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, đội ngũ
chuyên gia kỹ thuật nhiều kinh nghiệm. Đội ngũ nhân lực này tham gia vào
công tác đào tạo sẽ đảm bảo được tính chất thực tế của quá trình sản xuất, rút
là nghĩa vụ ĐTN dự phòng cho lao động nữ, đào tạo lại nghề cho NLĐ…
Luật Dạy nghề của Hàn Quốc năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung vào
năm 2001) xác định rõ trách nhiệm của DN trong ĐTN như: phải xây dựng kế
hoạch nâng cao năng lực nghề nghiệp cho NLĐ một cách có hệ thống và phải
cử cán bộ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các hoạt động ĐTN như chuẩn
bị kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch ĐTN; phải đưa NLĐ đến đào tạo
lại tại các trường hoặc các cơ sở dạy nghề trong đó DN phải chịu trách nhiệm
trả chi phí cho việc kiểm tra trình độ tay nghề, tạo cơ hội cho NLĐ tham gia
học nghề ví dụ như được nghỉ việc đi học nghề.
Luật Khuyến khích và phát triển nguồn nhân lực của Nhật Bản năm
1999 có rất nhiều quy định về quan điểm khuyến khích các DN tham gia vào
phát triển nguồn nhân lực, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của DN trong
việc phát triển nguồn nhân lực và đào tạo lại nghề cho NLĐ như: có chương
trình phát triển nguồn nhân lực và đào tạo lại nghề cho người lao động như:
có chương trình phát triển nguồn nhân lực một cách có hệ thống, phải thực
hiện việc đào tạo nghề cần thiết cho NLĐ của mình và thúc đẩy việc phát
triển, nâng cao năng lực nghề nghiệp cho NLĐ; trả trợ cấp cho NLĐ trong
ngày họ nghỉ việc để học nghề và kiểm tra tay nghề.
Toàn bộ chi phí cho việc bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, đào tạo lại và đào tạo
dự phòng do doanh nghiệp chịu. Việc làm này của doanh nghiệp vừa có tác
dụng tạo cơ hội giữ vững, ổn định việc làm, thu nhập và đời sống cho bản
thân và gia đình người lao động, vừa có ý nghĩa duy trì lực lượng và nâng cao
chất lượng của đội ngũ lao động để doanh nghiệp có điều kiện sử dụng hiệu
18
quả hơn, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói
chung [12, tr.208].
Có thể nói, hoạt động đào tạo này của DN ít mang mục đích kinh tế mà
Thứ ba, nguyên tắc khuyến khích các hoạt động ĐTN gắn với việc làm.
Để cụ thể hóa nguyên tắc này là Nhà nước phải có những chính sách linh hoạt
để khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ DN có hoạt động đào
tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người được đào tạo. Tùy vào điều
kiện cụ thể của mỗi nước mà có những chính sách khuyến khích cụ thể như:
miễn, giảm thuế, được hỗ trợ kinh phí ĐTN cho các đối tượng đặc biệt…
Thứ tư, nguyên tắc cấm cưỡng bức, ngược đãi trong ĐTN. Xét trong
mối quan hệ về ĐTN trong DN thì phía người được ĐTN cũng là bên yếu thế.
Vì vậy, họ cũng đứng trước nguy cơ bị DN cưỡng bức, ngược đãi trong quá
trình ĐTN. Theo quan điểm của ILO thì các hoạt động cưỡng bức trong lao
động bao gồm bất cứ công việc nào, cho dù được trả công hay không trả công,
được làm một cách không tình nguyện hoặc làm vì bị đe dọa trừng phạt. Tinh
thần của nguyên tắc này cũng được thể hiện rất rõ trong quy định tại Điều 25
BLLĐ: "Nghiêm cấm mọi doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân lợi dụng danh
nghĩa dạy nghề, truyền nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc dụ dỗ, ép
buộc người học nghề, tập nghề vào những hoạt động trái pháp luật". Khoản
1, khoản 2 Điều 9 Luật Dạy nghề năm 2006 cũng quy định hành vi lợi dụng
hoạt động dạy nghề để trục lợi, lạm dụng sức lao động; hành vi xúc phạm
danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên
của cơ sở dạy nghề và người học nghề là những hành vi bị cấm trong hoạt
động ĐTN.
Thứ năm, nguyên tắc kết hợp hài hòa chính sách kinh tế và chính sách
xã hội trong ĐTN. Theo nguyên tắc này thì những quy định của pháp luật về
ĐTN trong DN phải là sự kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính
sách xã hội. Tinh thần của nguyên tắc này được thể hiện trong rất nhiều nội
dung như: chính sách ưu đãi về thuế cho DN có hoạt động ĐTN, trách nhiệm
đào tạo lại nghề của DN đối với người lao động, trách nhiệm ĐTN dự phòng
cho lao động nữ…Các chính sách này được cụ thể hóa trong các quy định của
pháp luật về ĐTN nghề trong DN đảm bảo cho DN không vì thực hiện các
độ nghề nghiệp cho NLĐ. Trong quá trình làm việc tại DN, NLĐ có quyền
được bồi dưỡng, nâng cao trình độ tay nghề. Pháp luật lao động Việt Nam đã
21
quy định xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ
năng nghề cho NLĐ là trách nhiệm của DN. Pháp luật về ĐTN trong DN của
Việt Nam đã đề cập đến các trường hợp DN phải tiến hành bồi dưỡng nâng
cao trình độ tay nghề cho NLĐ và trách nhiệm cụ thể của các bên trong các
trường hợp này.
Thứ tư, pháp luật điều chỉnh vấn đề đào tạo lại nghề cho NLĐ. Trên
thực tế, do nhu cầu sản xuất, kinh doanh mà các DN phải thay đổi cơ cấu tổ
chức hoặc công nghệ sản xuất. Các thay đổi này có thể khiến một số NLĐ
trong DN bị mất chỗ làm việc. Vì vậy, DN phải chịu trách nhiệm đối với
những NLĐ này. Đào tạo lại nghề cho NLĐ bị mất chỗ làm việc trong trường
hợp này là nghĩa vụ bắt buộc đối với DN. Chính vì vậy, để các DN chủ động
hơn trong việc đào tạo lại nghề cho NLĐ, pháp luật về ĐTN trong DN cũng
quy định cụ thể các trường hợp DN phải đào tạo lại nghề cho người lao động.
Thứ năm, pháp luật điều chỉnh vấn đề ĐTN dự phòng cho lao động nữ.
ĐTN dự phòng nhằm tạo cơ hội cho lao động nữ khi họ không thể tiếp tục
làm công việc cũ. Đó cũng chính là lý do để Nhà nước ràng buộc trách nhiệm
của các DN, trong quá trình sử dụng lao động, phải ĐTN dự phòng cho lao
động nữ khi làm việc ở những nghề mà không thể đảm bảo liên tục cho đến
khi họ nghỉ hưu. Các trường hợp cần ĐTN dự phòng, kinh phí cho hoạt động
ĐTN dự phòng, chính sách của Nhà nước đối với DN có ĐTN dự phòng là
những nội dung mà pháp luật về ĐTN trong DN đề cập đến.
Nội dung điều chỉnh của pháp luật về ĐTN trong DN của Việt Nam có
những nét tương đồng với pháp luật của Trung Quốc. Theo Điều 14 Luật Dạy
nghề của Trung Quốc các hình thức ĐTN bao gồm: đào tạo trước khi tuyển
biểu là Sắc lệnh 77-SL ngày 22/5/1950 quy định về chế độ công nhân giúp
việc Chính phủ trong thời kỳ kháng chiến; Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ
số 13/TTg ngày 6/01/1958 về việc bổ túc nghề nghiệp cho công nhân và đào
tạo thợ mới; Thông tư của Bộ lao động số 08/LĐ-TT ngày 10/6/1959 quy
định những nguyên tắc và hướng tuyển chọn công nhân vào bổ túc và đào tạo
thợ mới tại các cơ sở sản xuất quốc doanh, công trường kiến thiết cơ bản và đi
học nghề ở nước bạn; Thông tư của Bộ Lao động số 20/LĐ-TT ngày
3/11/1959 bổ sung và sửa đổi một số điểm về chế độ học nghề theo lối kèm
23
cặp; Quyết định số 194/DN-BD ngày 21/8/1985 ban hành quy chế đào tạo và
bồi dưỡng nghề trong sản xuất…
Sau năm 1985, trước những thay đổi cơ bản đời sống xã hội, những quy
định về học nghề trong luật lao động không chỉ nhằm xây dựng và phát triển
đội ngũ công nhân làm việc cho khối cơ quan, xí nghiệp Nhà nước mà còn
phải đáp ứng nhu cầu về nhân lực của các tổ chức kinh tế thuộc các thành
phần kinh tế khác đã được thừa nhận chính thức ở Việt Nam. Trước khi ban
hành BLLĐ năm 1994, những quy định về ĐTN trong DN còn khá mờ nhạt.
Đến BLLĐ năm 1994 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có những quy
định cụ thể, rõ ràng hơn về ĐTN trong DN. Những quy định này hầu hết đều
được giữ nguyên hiệu lực trong BLLĐ đã được sửa đổi, bổ sung hiện nay.
Nghị định số 90/CP ngày 15/12/1995 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về học nghề đã đề cập hình
thức ĐTN trong DN với các nội dung: cơ sở dạy nghề của DN, đào tạo bổ túc
nghề cho NLĐ trong DN, trường hợp DN tuyển người vào học nghề để sau đó
làm việc cho DN, đăng ký hoạt động ĐTN trong DN, hợp đồng học nghề…
1.3.3.2. Giai đoạn từ năm 1995 đến 2006
Giai đoạn này những quy định về ĐTN trong DN trong BLLĐ năm