Pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện - Pdf 28


2

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
MỞ ĐẦU 6
CHƢƠNG 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 9
1.1. Tổng quan về hoạt động xuất nhập khẩu 9
1.1.1. Khái niệm về hoạt động xuất nhập khẩu 9
1.1.2. Lịch sử phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu 12
1.1.3. Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu 13
1.2. Tổng quan về thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 14
1.2.1. Sự cần thiết phải đánh thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu 14
1.2.2. Các loại thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 17
1.3. Tổng quan pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 22
1.3.1. Khái niệm pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 22
1.3.2. Mối quan hệ giữa pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và
pháp luật về thủ tục hải quan 23
1.3.3. Mục đích, yêu cầu của pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 26
Tóm tắt chƣơng 1: 27
CHƢƠNG 2:THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ TRONG LĨNH
VỰC XUẤT NHẬP KHẨU 29
2.1. Pháp luật điều chỉnh về hoạt động quản lý thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam 29
2.2. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể theo pháp luật về quản lý thuế
trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 34
2.2.1. Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế 34
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của Cơ quan hải quan 35
2.2.3. Trách nhiệm của công chức hải quan trong việc thu thuế 38

3.3.1. Bổ sung một số quy định về khai bổ sung hồ sơ khai thuế để đảm bảo quyền lợi
cho người nộp thuế 78
3.3.2. Đề xuất sửa đổi một số quy định về thời hạn nộp thuế 80
3.3.3. Đề xuất bỏ cụm từ “tiền thuế truy thu” trong quy định về thứ tự thanh toán tiền
thuế, tiền phạt 83
3.3.4. Đề xuất sửa đổi về một số trường hợp liên quan đến xử lý số tiền thuế nộp thừa 83
3.3.5. Hướng giải quyết các bất cập trong quy định về việc hoàn thành nghĩa vụ nộp
thuế 84
3.3.6. Rút ngắn thời hạn giải quyết đối với trường hợp hoàn trước, kiểm tra sau 86
3.3.7. Quy định thêm về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc
cung cấp thông tin về người nộp thuế 86
3.3.8. Bổ sung trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế 87
3.3.9. Một số kiến nghị liên quan đến quy định về các biện pháp cưỡng chế thi hành
quyết định hành chính thuế 88
3.3.10. Bổ sung trường hợp miễn xử phạt vi phạm pháp luật về thuế 92
3.4. Tạo ra cơ chế thực hiện tốt qui định về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập
khẩu 93
Tóm tắt chƣơng 3: 96
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 4


NSNN
Ngân sách nhà nước
11
QLT
Quản lý thuế
12
TTĐB
Tiêu thụ đặc biệt
13
WTO
Tổ chức Thương mại thế giới
14
XK
Xuất khẩu
15
XNK
Xuất nhập khẩu 5

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang

Bảng 3.1: Số thu thuế giai đoạn 2007-2010 68
Bảng 3.2: Theo dõi nợ thuế trước và sau khi thực hiện Luật QLT 75


7

pháp nào tỏ ra thực sự hiểu quả để giải quyết các vấn đề này… Mặt khác,
đứng trước những công nghệ quản lý hiện đại, hệ thống pháp luật vẫn chưa
xây dựng được hành lang pháp lý cần thiết cho việc ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật , nhiều ứng dụng công nghệ thông tin đã được triển khai có hiệu
quả nhưng vẫn thiếu vắng các quy định pháp luật cần thiết.
Xuất phát từ những lý do đó, việc đi sâu nghiên cứu những vấn đề liên
quan đến pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK, đánh giá tình hình
thực hiện pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK của Việt Nam trong
thời gian qua từ đó đề xuất một số giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về
quản lý thuế trong lĩnh vực XNK đang là một đòi hỏi khách quan. Hy vọng
rằng, đề tài “Pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu – Thực
trạng và phương hướng hoàn thiện” sẽ góp phần vào việc giải quyết những
vấn đề thực tiễn nói trên.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung của pháp luật về quản
lý thuế trong lĩnh vực XNK, hoạt động quản lý nhà nước của cơ quan hải
quan đối với thuế XNK, đánh giá tình hình áp dụng pháp luật về quản lý thuế
trong lĩnh vực thuế XNK ở Việt Nam trong thời gian qua, dự đoán những xu
hướng vận động liên quan ở Việt Nam trong thời gian tới để từ đó đề ra
những giải pháp mang tính đồng bộ, lâu dài cho pháp luật về quản lý thuế đối
với hàng hóa XNK ở Việt Nam trong thời gian tới đáp ứng được xu thế phát
triển trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những quy định của pháp luật về quản lý thuế
của cơ quan nhà nước đối với hoạt động XNK hàng hóa ở Việt Nam.

8


XNK là cách gọi phổ biến của các thuật ngữ như: xuất khẩu (XK), nhập
khẩu (NK); thương mại quốc tế; ngoại thương… Đó là những thuật ngữ dùng
để chỉ hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá trình trao
đổi hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền
tệ làm môi giới. XNK không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ
thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và
bên ngoài. Có thể hiểu hoạt động NK là mua hàng hoá từ các tổ chức kinh tế,
các công ty nước ngoài, tiến hành tiêu thụ hàng hoá, vật tư ở thị trường nội
địa hoặc tái xuất với mục tiêu lợi nhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia
với nhau. Còn hoạt động XK là bán lại cho các cá nhân, pháp nhân quốc tế
những hàng hoá được sản xuất, gia công, chế biến trong nước hoặc hàng hoá
mua về từ các nước khác.
Theo đó, lĩnh vực XNK có một số đặc trưng cơ bản như sau:
- Có mức độ phân công lao động và chuyên môn quốc tế ở trình độ kỹ
thuật cao và quy mô lớn.
- Là quan hệ kinh tế diễn ra giữa các chủ thể của các nước khác nhau,
các chủ thể có quốc tịch khác nhau, do vậy chịu sự điều chỉnh của các hệ
thống pháp luật khác nhau, và thường xuyên sử dụng các luật, điều ước, công
ước, quy tắc, thông lệ… mang tính chất quốc tế cũng như sử dụng đa dạng
các loại tiền tệ để thanh toán.

10

- Hàng hóa, dịch vụ được di chuyển qua biên giới các quốc gia nên phụ
thuộc nhiều vào chính sách XNK của các nước, đặc biệt là việc quản lý
thương mại quốc tế thông qua các công cụ chính sách như thuế, hạn ngạch và
các công cụ phi thuế quan khác của các nước. Do phải vận chuyển qua biên
giới quốc gia với khoảng cách tương đối xa nên quá trình giao nhận vận
chuyển cũng trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi thêm nhiều hoạt động kèm theo
như làm các thủ tục thông quan, vận chuyển thường quan qua các hãng vận

chất cơ bản của hàng hoá, trừ hàng hoá tái nhập sau khi hết thời hạn tạm XK
theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 6 Thông tư 79/2009/TT-BTC ngày 20/04/2009
của Bộ Tài chính hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan;
thuế XK, thuế NK và quản lý thuế đối với hàng hoá XK, NK thì hàng hoá
XK, NK thương mại bao gồm:
1.
Hàng hoá XK, NK theo hợp đồng mua bán hàng hoá;
2.
Hàng hoá kinh doanh theo phương thức tạm nhập tái xuất;
3.
Hàng hoá kinh doanh chuyển cửa khẩu;
4.
Hàng hoá XK, NK theo loại hình nhập nguyên liệu để sản xuất
hàng XK;
5.
Hàng hoá XK, NK để thực hiện hợp đồng gia công với thương
nhân nước ngoài;
6.
Hàng hoá XK, NK để thực hiện các dự án đầu tư;
7.
Hàng hoá kinh doanh XK, NK qua biên giới đường bộ;
8.
Hàng hoá XK, NK nhằm mục đích thương mại của tổ chức (không
có mã số thuế, mã số kinh doanh XNK), của cá nhân;
9.
Hàng hoá XK, NK của doanh nghiệp chế xuất;
10.
Hàng hoá đưa vào, đưa ra kho bảo thuế;
11.

các thủ tục hải quan.

13

Nếu trước đây, thương mại tự do thường tập trung vào các mặt hàng
nông sản và bảo hộ các mặt hàng chế tạo; thì hiện nay, đặc biệt là ở các nước
phát triển như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU) và Nhật Bản, lĩnh vực nông
nghiệp lại được quan tâm nhiều hơn và thể hiện rõ tính chất bảo hộ cao hơn so
với các lĩnh vực khác khi thoả thuận về các hiệp định thương mại quốc tế.
Lĩnh vực XNK thường được điều chỉnh bởi các quy tắc có tính toàn cầu
thông qua các hiệp định của WTO, mặc dù cũng có một số thoả thuận thương
mại khu vực như việc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA);
Khối Thương mại Nam Mỹ (MERCOSUR) giữa một số nước ở Nam Mỹ;
Thỏa ước Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) giữa Hoa Kỳ, Canada và
Mexico; Liên minh Châu Âu giữa 25 quốc gia ở châu Âu. Có thể kể thêm một
số thỏa thuận thương mại quốc tế thất bại như Khu vực Mậu dịch Tự do Châu
Mỹ (FTAA) hay Hiệp định Đa phương về Đầu tư (MAI).
1.1.3. Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu
Không thể phủ nhận vai trò của XNK đối với sự phát triển kinh tế của
các nước hiện nay. Có thể nói rằng hoạt động XNK có ý nghĩa sống còn đối
với các nước tham gia vì nó giúp mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước;
đồng thời cho phép các quốc gia thay đổi cơ cấu các ngành kinh tế, cơ cấu vật
chất của sản phẩm theo hướng phù hợp với đặc điểm sản xuất của mình hơn.
Hoạt động XNK đóng những vai trò cụ thể như sau:
- XNK tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước. XNK là
lĩnh vực trao đổi, phân phối lưu thông hàng hóa với nước ngoài, nối sản xuất
và tiêu dùng của một nước với sản xuất và tiêu dùng của nước ngoài. Chính
hoạt động XNK đã mở rộng thị trường hàng hoá; đồng thời giúp tăng cường
nguồn cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất trong nước.


15

cầu, quản lý nhà nước về XNK đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thuế trở
thành một công cụ hữu hiệu của các nhà quản lý.
a) Đánh thuế đối với hoạt động XNK để tạo nguồn thu cho Ngân sách
Nhà nước
Thuế nói chung vốn được Nhà nước ban hành xuất phát từ nhu cầu tạo
nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước (NSNN), đảm bảo cho các khoản chi cho
hoạt động của bộ máy nhà nước, trả lương cho cán bộ công nhân viên chức
nhà nước, các khoản chi cho an sinh xã hội, chi cho đầu tư phát triển, chi cho
đối ngoại… Nếu nguồn NSNN không đủ để đáp ứng, các hoạt động của nhà
nước sẽ bị ngưng trệ.
Hoạt động XNK là hoạt động xuất hiện về sau so với các hoạt động khác
trong đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, với tính chất là hoạt động kinh tế
có yếu tố nước ngoài, liên quan đến việc làm tăng hoặc giảm nguồn vật chất
trong nước, hoạt động XNK có thể thu về hoặc làm hụt đi một lượng ngoại tệ
lớn. Các giao dịch XNK thường có giá trị rất lớn, do đó, việc đánh thuế đối
với hoạt động XNK có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng nguồn thu cho
NSNN. Mà trên thực tế, nguồn thu từ thuế đối với hoạt động XNK của Việt
Nam hiện nay đang chiếm khoảng 20% trên tổng thu NSNN.
b) Đánh thuế đối với hoạt động XNK để điều chỉnh quan hệ kinh tế quốc
tế
Vẫn xuất phát từ mối quan hệ kinh tế giữa 2 hay nhiều quốc gia khác
nhau, hoạt động XNK là sự thể hiện rõ ràng nhất về mối quan hệ kinh tế quốc
tế. Việt Nam bắt đầu tham gia vào xu hướng hội nhập toàn cầu rất muộn so
với các quốc gia khác trên thế giới. Tuy nhiên, với thời gian không dài, Việt
Nam đã tham gia nhiều tổ chức khu vực và quốc tế như: ASEAN, WTO… ký
và gia nhập nhiều hiệp định quốc tế đa phương và song phương như: GATT,
AFTA, Khối hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), và các


17

công bằng xã hội. Thuế đánh vào hoạt động XNK cũng không nằm ngoài việc
thực hiện yêu cầu nói trên. Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các
thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp với những quy mô hoạt động
khác nhau nhưng có điều kiện hoạt động giống nhau, hàng hóa như nhau thì
phải nộp thuế như nhau theo cùng quy định của pháp luật. Bình đẳng, công
bằng trong chính sách thuế không có nghĩa là cào bằng mà khuyến khích các
tổ chức, cá nhân làm ăn có hiệu quả để tích luỹ tái đầu tư cho sản xuất kinh
doanh ngày càng phát triển và không chỉ là lý thuyết mà được biểu hiện trên
cơ sở luật pháp. Tổ chức, cá nhân nào nộp đúng, nộp đủ thì được khen ngợi,
tạo điều kiện để thực hiện thông quan hàng hóa nhanh chóng, thuận lợi hơn;
chây ỳ, nộp chậm, trốn tránh thì phải chịu phạt, truy cứu trách nhiệm.
1.2.2. Các loại thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
Trên thế giới và ở Việt Nam hiện có rất nhiều loại thuế, như: thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu (thuế XK, thuế NK); thuế chuyển quyền sử dụng đất;
thuế thu nhập cá nhân; thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT); thuế tiêu thụ đặc
biệt (thuế TTĐB); thuế môn bài… Ở Việt Nam, liên quan đến hoạt động
XNK có thuế XK, thuế NK; thuế GTGT và thuế TTĐB.
a) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế XK, thuế NK có vai
trò và ý nghĩa thiết thực, không chỉ trong việc tạo nguồn thu cho NSNN hàng
năm mà quan trọng hơn, nó còn là công cụ hữu hiệu trong tay Nhà nước để
kiểm soát hoạt động XNK hàng hoá với nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong
nước và thực hiện các mục tiêu đối ngoại của Chính phủ trong từng thời kỳ,
đối với từng quốc gia hoặc từng nhóm quốc gia cụ thể. Trong lĩnh vực XNK,
hoạt động quản lý thuế gắn liền với quản lý thuế XK, thuế NK. Còn các loại
thuế khác cũng xuất hiện trong quá trình quản lý thuế đối với hàng hóa XNK
như thuế TTĐB, thuế GTGT là các loại thuế phát sinh cả trong hoạt động


19

lý cho các bên trong quá trình hành thu thuế XK, thuế NK. Quan hệ pháp luật
này phát sinh từ cơ sở pháp lý là đạo luật thuế XK, thuế NK do Quốc hội ban
hành mà hậu quả pháp lý chủ yếu của việc áp dụng đạo luật đó trong thực tiễn
là làm phát sinh quyền thu thuế cho Nhà nước và nghĩa vụ đóng thuế cho các
tổ chức, cá nhân là người nộp thuế. Việc tiếp cận khái niệm thuế XK, thuế
NK từ góc độ pháp lý có nhiều ý nghĩa thiết thực, trước hết là giúp chúng ta
nhận diện rõ hơn về bản chất của thuế nói chung và thuế XK, thuế NK nói
riêng, thực chất là một quyết định hành chính đơn phương của quốc gia đối
với người đóng thuế, hay là một “thỏa thuận” song phương giữa người thu
thuế với người nộp thuế? Trên cơ sở lý thuyết đó, giúp cho Nhà nước hoạch
định và thực thi chính sách thuế XK, thuế NK phù hợp hơn với quyền lợi của
quốc gia và của người đóng thuế, xét trong mối quan hệ lợi ích với các quốc
gia khác trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động XNK hàng hóa qua biên giới với
nước ngoài được điều tiết và kiểm soát bởi hai công cụ chủ yếu là “hàng rào
thuế quan” và “hàng rào phi thuế quan”. Hàng rào thuế quan ở những nước
này được hiểu thực chất là thuế NK đánh vào hàng hóa NK, chứ không bao
gồm cả thuế XK đánh vào hàng hóa XK như Việt Nam hay Trung Quốc. Do
có quan niệm khác nhau như trên giữa các nước về nội hàm của khái niệm
“thuế quan” nên chính sách thuế quan của các nước cũng có sự khác nhau. Sở
dĩ có sự khác nhau này trong chính sách thuế quan của các nước là bởi vì, mỗi
quốc gia đều có phong tục, tập quán riêng cần được duy trì, tôn trọng, bảo vệ,
quan trọng hơn, mỗi quốc gia đều có quyền đánh thuế đối với các công dân
hay tổ chức mang quốc tịch nước ngoài có hoạt động XNK hàng hóa diễn ra
trên lãnh thổ nước mình. Quyền đánh thuế của quốc gia chính là cơ sở, là đạo
lý cơ bản để Nhà nước – với tư cách là người đại diện hợp pháp cho quốc gia,

20


b) Thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT (còn gọi là VAT) là từ viết tắt của Value Added Tax. Tại
một số quốc gia, như Australia, Canada, New Zealand, Singapore thì thuế này
được gọi là "Goods and Services Tax" (viết tắt GST) nghĩa là thuế hàng hóa
và dịch vụ; còn tại Nhật Bản thì nó được biết đến dưới tên gọi "thuế tiêu thụ".
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, thuế GTGT là một loại thuế gián thu
đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá
trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào NSNN theo mức
độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Theo đó, người tiêu dùng cuối cùng của sản
phẩm, hàng hóa, dịch vụ chính là đối tượng chịu thuế, còn người sản xuất, lưu
thông sẽ được hoàn trả lại tiền thuế GTGT đã đóng. Xuất phát từ đặc trưng là
một loại thuế đánh vào tiêu dùng, cho nên hàng XK (theo định nghĩa này thì
người tiêu dùng ở nước ngoài) thường không phải chịu thuế GTGT hoặc thuế
GTGT đối với người XK được hoàn lại. Vậy nên, trong lĩnh vực XNK, vấn đề
quản lý thuế chỉ đặt ra với hoạt động thu nộp thuế đối với hàng hóa NK và
công tác hoàn thuế đối với doanh nghiệp XK.
c) Thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế TTĐB là loại thuế đánh vào một số loại hàng hóa dịch vụ đặc biệt,
cần điều tiết mạnh nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời tăng
nguồn thu cho NSNN.
Về bản chất, thuế TTĐB có diện đánh thuế hẹp, chỉ tập trung điều tiết
một số mặt hàng và dịch vụ nhất định, không được Nhà nước khuyến khích
tiêu dùng. Tuỳ theo quan điểm của các nhà làm luật ở mỗi quốc gia mà danh
mục hàng hoá và dịch vụ phải chịu loại thuế này có thể rất khác nhau, xuất
phát từ chủ trương, chính sách của Nhà nước trong việc hướng dẫn sản xuất,
tiêu dùng cũng như trong lĩnh vực điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư ở
từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội và bởi phong tục tập quán của mỗi

22


công dân của người nộp thuế. Quản lý thuế phải góp phần hỗ trợ và bảo đảm
cho công dân thưc hiện quyền và nghĩa vụ của mình trước pháp luật. Do đó,
cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế.
Công tác quản lý thu nộp thuế hiện nay bao gồm quản lý thu nộp thuế tại
cơ quan hải quan và tại cơ quan thuế nội địa. Là cơ quan chịu trách nhiệm
“gác hàng, gác tiền, gác cửa khẩu” của mỗi quốc gia, cơ quan hải quan đóng
vai trò là cơ quan thu thuế trong lĩnh vực XNK.
Pháp luật về quản lý thuế là danh từ pháp lý dùng để chỉ tập hợp các quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình thực hiện những biện pháp nghiệp vụ của cơ quan có
chức năng thu ngân sách mà trong lĩnh vực XNK thì cơ quan thu ngân sách
chính là cơ quan hải quan.
Xét từ phương diện hình thức, pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực
XNK gao gồm các văn bản quy phạm pháp luật như văn bản luật, nghị quyết
của Quốc hội; và các văn bản dưới luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
các Bộ, ngành… Còn xét về phương diện nội dung, pháp luật về quản lý thuế
trong lĩnh vực XNK lại bao hàm các vấn đề chủ yếu như: phạm vi điều chỉnh;
đối tượng áp dụng; quyền và nghĩa vụ của các đối tượng liên quan; các nội
dung cụ thể về đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế, hoàn thuế,
miễn thuế, giảm thuế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật
về thuế, giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế…
1.3.2. Mối quan hệ giữa pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất
nhập khẩu và pháp luật về thủ tục hải quan
Quản lý thuế trong lĩnh vực XNK được gắn liền với thủ tục hải quan,
hoạt động quản lý thu nộp thuế nằm trong hoạt động thông quan hàng hóa, hồ
sơ khai thuế nằm trong hồ sơ khai hải quan… Do vậy, pháp luật về quản lý

24


- Nhu cầu giảm chi phí giao dịch/ thuận lợi hóa thương mại và cải cách
hành chính nói chung.
Ngoài ra, những nhân tố chủ quan của ngành hải quan cũng tác động
không nhỏ đến pháp luật về thủ tục hải quan như:
- Yêu cầu về hội nhập với thế giới của ngành hải quan;
- Yêu cầu phát triển ngành hải quan hiện đại, minh bạch, giảm phiền hà
sách nhiễu.
Ngày nay, cơ quan hải quan với vai trò là một trong những cơ quan đóng
vai trò quan trọng trong quản lý thương mại và đi tiên phong trong việc áp
dụng những mô hình, phương pháp quản lý mới nhằm tạo thuận lợi cho hoạt
động thương mại. Vai trò của hải quan ngày nay đã được mở rộng hơn. Hải
quan đã trở thành cơ quan có trách nhiệm chính trong việc tạo thuận lợi cho
thương mại, đảm bảo an ninh kinh tế và tăng nhanh lưu lượng lưu thông hàng
hóa. Vì vậy xu hướng phát triển của thủ tục hải quan hiện đại là xây dựng và
triển khai thủ tục hải quan điện tử tức là thủ tục hải quan (bao gồm cả thủ tục
quản lý thuế) được thực hiện bằng phương tiện điện tử. Theo đó, hải quan
hiện đại sẽ được tổ chức thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin và
thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan để quản lý hàng hóa
XK, NK nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan, đảm bảo
đơn giản, hài hòa, thống nhất và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc
tế.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn như vậy, pháp luật về thủ tục hải quan cần
phải có những quy định gắn liền với xu hướng phát triển hiện đại hóa của
ngành hải quan. Và vì pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK có quan
hệ mật thiết với pháp luật về thủ tục hải quan, nên cũng cần sự cải cách để bắt
kịp với nhịp độ phát triển của thủ tục hải quan, góp phần tạo thuận lợi thương
mại.

26


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status