Tài liệu TIỂU LUẬN:TÌM HIỂU VỀ BỘ CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TẠI VIỆT NAM - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
========
K
K
H
H
O
O
Á
ÁL
L
U
U


N
N


THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TẠI VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Hồng Hà
Lớp : A1 - K37
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Đặng Thị Nhàn HÀ NỘI - 2002
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nguyễn Hồng Hà - Lớp A1 -
K37

LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu và là một yêu cầu khách quan
đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới trong quá trình phát triển. Xu hướng
này ngày càng hình thành rõ rệt mà nét nổi bật là nền kinh tế thị trường đang trở
thành một sân chơi chung cho tất cả các nước.


Chương I: “Khái quát về bộ chứng từ trong thanh toán xuất nhập
khẩu”
Chương II: “Tìm hiểu thực trạng bộ chứng từ thanh toán trong thanh
toán xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay”
Chương III: “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện bộ chứng từ trong
thanh toán xuất nhập khẩu”

Tựu chung lại, mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu thực trạng của
việc sử dụng bộ chứng từ trong thanh toán xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay,
từ đó đưa ra một số gợi ý về giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện bộ chứng từ
thanh toán này. Mong rằng bài viết sẽ góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu
nhằm thúc đẩy quá trình thanh toán quốc tế diễn ra được trôi chảy hơn.
Do còn những hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế, khoá
luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Người viết rất mong nhận
được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khoá luận được hoàn
chỉnh hơn.
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Nguyễn Hồng Hà - Lớp A1 -
K37 MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương I: KHÁI QUÁT VỀ BỘ CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN XUẤT NHẬP
KHẨU 1
I. Khái niệm và vai trò của bộ chứng từ trong thanh toán xuất nhập khẩu 1
1. Một số khái niệm 1
1.1. Phương thức thanh toán quốc tế 1
1.2. Chứng từ và phân loại chứng từ 3
2. Vai trò của bộ chứng từ trong thanh toán xuất nhập khẩu 3

xuất nhập khẩu ở Việt Nam 45
2.1. Những sai sót thường gặp trong khi lập bộ chứng từ 46
2.2. Một số trở ngại khác thường gặp trong thanh toán sử dụng
bộ chứng từ 57
II. Tìm hiểu nguyên nhân của những tồn tại trong công tác lập và sử dụng bộ
chứng từ thanh toán 59
1. Nguyên nhân chủ quan 59
2. Nguyên nhân khách quan 61
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN BỘ CHỨNG TỪ TRONG
THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU 63
I. Kinh nghiệm về việc lập bộ chứng từ thanh toán đối với một số thị trường và
mặt hàng chủ yếu 63
1. Một số thị trường 63
1.1. Thị trường Mỹ 63
1.2. Thị trường EU 65
1.3. Thị trường Nhật Bản 65
1.4. Thị trường Asean 66
1.5. Thị trường Hồng Kông 66
2. Một số mặt hàng chủ yếu 66
2.1. Mặt hàng xuất khẩu 66
2.2. Mặt hàng nhập khẩu 70
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Nguyễn Hồng Hà - Lớp A1 -
K37

II. Các giải pháp nhằm hoàn thiện bộ chứng từ trong thanh toán xuất nhập
khẩu. 71
1. Giải pháp tầm vĩ mô 72
1.1. Lựa chọn và vận dụng các văn bản pháp lý và tập quán quốc tế có liên
quan, kết hợp với việc thiết lập môi trường pháp lý trong nước thuận lợi 72
1.2. Tiến tới đơn giản hoá và tiêu chuẩn hoá bộ chứng từ trong thanh toán

phương thức thanh toán.
Như vậy, phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức
đòi và hoàn trả tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người
nhập khẩu và người xuất khẩu. Trong ngoại thương, có rất nhiều phương thức
thanh toán khác nhau như chuyển tiền, ghi sổ, nhờ thu, tín dụng chứng từ Mỗi
phương thức thanh toán đều có ưu điểm, nhược điểm, thể hiện quyền lợi giữa
người nhập khẩu và người xuất khẩu. Vì vậy, việc chọn phương thức thanh toán
thích hợp phải được hai bên thống nhất, ghi vào hợp đồng mua bán ngoại
thương. Mỗi phương thức thanh toán là một phương pháp bảo đảm thanh toán;
việc chuyển giao “tiền thực sự” hay “chi trả” giữa người mua và người bán được
thực hiện bởi các phương thức đó.
Trong thanh toán quốc tế có nhiều phương thức thanh toán khác nhau,
chia làm hai nhóm chính:
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nguyễn Hồng Hà - Lớp A1 -
K37

2

- Nhóm những phương thức thanh toán không phụ thuộc vào chứng từ
hàng hoá gồm phương thức chuyển tiền, phương thức ghi sổ, phương thức nhờ
thu phiếu trơn.
Trong các phương thức thanh toán kể trên, căn cứ đòi và trả tiền của các
bên không phải là bộ chứng từ thanh toán mà dựa chủ yếu trên thực tế của việc
giao hàng. Ngân hàng chỉ đóng vai trò thứ yếu, trung gian và không có tính
quyết định tới việc thanh toán của người mua đối với người bán. Khi áp dụng
những phương thức này, việc thanh toán tiền hàng chủ yếu phụ thuộc vào thiện
chí của người mua, quyền lợi của người bán không được bảo đảm, gây tình trạng
ứ đọng vốn, dễ bị chiếm dụng vốn. Bởi vậy, những phương thức thanh toán này
chỉ nên áp dụng khi mà giữa hai bên phải thực sự tin cậy lẫn nhau hoặc giá trị
hợp đồng mua bán nhỏ. Đôi khi ngưòi ta cũng áp dụng khi mà khoảng cách giữa

Trong thương mại quốc tế hiện nay, căn cứ vào các nguồn luật khác nhau
có nhiều cách phân loại chứng từ. Trong cuốn “Các nguyên tắc thống nhất về
nhờ thu” (Bản sửa đổi 1995, có hiệu lực 1/1/1996, số 522 của phòng thương mại
quốc tế, ICC soạn thảo), viết tắt là URC 522 có định nghĩa về chứng từ như sau:
“Chứng từ bao gồm chứng từ tài chính và chứng từ thương mại ” (điều 2).
-Chứng từ tài chính: Bao gồm các chứng từ : hối phiếu, kỳ phiếu, séc,
hoặc các loại chứng từ tương tự khác dùng để thu tiền (như thư tín dụng, điện
chuyển tiền, biên lai ký phát, )
- Chứng từ thương mại: Gồm có các hoá đơn, chứng từ vận chuyển,
chứng từ về quyền sở hữu hoặc bất kỳ một loại chứng từ tương tự nào khác miễn
là không phải chứng từ tài chính.
Trong hoạt động xuất nhập khẩu, bộ chứng từ thanh toán thông thường
gồm có: hối phiếu, hoá đơn thương mại, vận đơn, giấy chứng nhận bảo hiểm,
giấy chứng nhận kiểm nghiệm hàng hoá, giấy chứng nhận xuất xứ, giấy kê khai
đóng gói bao bì chi tiết.
Việc nghiên cứu chi tiết, cụ thể từng loại chứng từ sẽ được đề cập tới ở
phần sau (phần II, Chương I).
2. Vai trò của bộ chứng từ trong thanh toán xuất nhập khẩu.
2.1. Bộ chứng từ là cơ sở thanh toán giữa các bên trong hoạt động xuất
nhập khẩu.
Trong giao thương quốc tế, việc thực hiện hợp đồng và việc thanh toán
được tiến hành độc lập nhau về: nhân sự, thủ tục, thời gian và nơi chốn. Do đó,
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nguyễn Hồng Hà - Lớp A1 -
K37

4

cơ sở tiến hành thanh toán là bộ chứng từ xác thực việc chuyển quyền sở hữu
hàng hoá và việc hoàn tất các nghĩa vụ giao hàng của bên xuất khẩu.
Chứng từ có thể xác nhận người bán đã giao đúng, đủ hàng hay chưa và

5

mua) chỉ muốn thanh toán hàng nhập sau khi anh ta bán được một số hàng. Mặt
khác, người xuất khẩu (người bán) lại có nhu cầu về tài chính để mua nguyên
vật liệu thô phục vụ cho sản xuất hàng hoá mà anh ta bán. Xuất phát từ đặc điểm
bộ chứng từ là căn cứ thanh toán giữa các bên nên có thể coi chứng từ là đại
diện của hàng hoá. Thay vì hàng hoá, người ta có thể buôn bán trao tay bộ
chứng từ, hoặc có thể dùng nó làm vật cầm cố, thế chấp hay chiết khấu tại ngân
hàng.
Bộ chứng từ có thể được mua đi bán lại nhằm chuyển giao quyền sở hữu
đối với hàng hoá. Trong trường hợp hàng hoá vẫn còn trên đường vận chuyển,
nhưng người mua lại tìm ngay được một đối tác để bán lại thì anh ta có thể
chuyển giao ngay bộ chứng từ cho người thứ ba đó. Khi đó, người mua lại bộ
chứng từ có thể dùng bộ chứng từ để nhận hàng và vấn đề thanh toán sẽ được
tiến hành giữa người bán và người thứ ba này.
Bộ chứng từ hay hối phiếu có thể được dùng để cầm cố: Người chủ bộ
chứng từ hay hối phiếu có thể mang chứng từ hay hối phiếu của mình đến ngân
hàng hay một tổ chức tín dụng để cầm cố cho một khoản vay nào đó tại ngân
hàng đó. Ngân hàng cầm cố có thể sử dụng hối phiếu hoặc bộ chứng từ nếu như
người chủ hối phiếu không thực hiện việc trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Khi
áp dụng hình thức này, người cầm cố hối phiếu phải ghi vào mặt sau của tờ hối
phiếu như sau:
Bộ chứng từ cũng có thể được sử dụng làm vật thế chấp để vay tín dụng.
Trong trường hợp nhà nhập khẩu phải thanh toán toàn bộ gửi hàng trong khi
hàng lại chưa cập bến, anh ta có thể yêu cầu ngân hàng ứng trước một khoản tín
dụng. Sau khi giải phóng hàng hoá và thu hồi vốn, nhà nhập khẩu sẽ hoàn trả
tiền cho ngân hàng. Với nghiệp vụ này, ngân hàng phải đương đầu với các rủi ro
mất vốn cho vay, vì vậy ngân hàng đòi hỏi phải có thế chấp cho các khoản ứng
trước. Các chứng từ về quyền sở hữu hàng hoá như vận đơn đường biển, giấy
gửi hàng đường biển, vận đơn đường không, hoá đơn kiêm phiếu nhận hàng,

tới hạn thanh toán của nhà xuất khẩu. Với nghiệp vụ này ngân hàng cung ứng
một khoản vốn cho nhà xuất khẩu để họ có điều kiện tiếp tục quá trình tái sản
xuất. Nhà nhập khẩu sẽ có ngay vốn thay vì phải chờ nhà nhập khẩu thanh toán
do anh ta đã cung cấp một khoản tín dụng thương mại (bán chịu hàng). Còn
ngân hàng có lợi là thu được lãi suất chiết khấu. Một nét đặc trưng của chiết
khấu hối phiếu là ngân hàng sẽ khấu trừ tiền lãi ngay khi chiết khấu và chỉ
chuyển cho khách hàng số tiền còn lại. Số tiền đó là giá trị chiết khấu.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nguyễn Hồng Hà - Lớp A1 -
K37

7

2.3. Tạo điều kiện áp dụng được những thành tựu của khoa học công
nghệ hiện đại vào việc sử dụng chứng từ.
Ngày nay, thương mại điện tử (TMĐT) không chỉ được các quốc gia coi
là một giải pháp hữu hiệu nhất cho việc toàn cầu hoá mà còn là một trong những
cơ hội lớn để phát triển nền kinh tế quốc gia và toàn cầu lên một bước mới. Theo
con số của Tập đoàn tư vấn Boston Consulting thì doanh số TMĐT năm 1999 đã
tăng trưởng ở mức 120%, đạt 33,1 tỷ USD, chiếm 1,4% tổng doanh thu bán lẻ
trên thế giới. Theo dự đoán, đến năm 2003 doanh thu từ TMĐT sẽ là 1400 tỷ
USD. Để có thể chia sẻ một phần con số doanh thu khổng lồ đó, các quốc gia
phải có những thay đổi căn bản từ chính sách vĩ mô, cơ sở hạ tầng. Một trong
những chuyển đổi quan trọng có tính quyết định để tham gia TMĐT là việc thiết
lập một cơ sở hạ tầng về thanh toán điện tử, đưa ra những quy định quy tắc về
giao dịch chứng từ điện tử thanh toán và chữ ký điện tử. Để đạt được như vậy,
các phương thức thanh toán quốc tế phải dựa trên cơ sở là bộ chứng từ thanh
toán chứ không phải là hàng hoá. Bộ chứng từ sẽ dần dần được chuyển từ hình
thức bằng giấy truyền thống sang hình thức mã hoá điện tử, và việc xuất trình bộ
chứng từ sẽ trở nên đơn giản thông qua hệ thống mạng máy tính cho bất kỳ ngân
hàng nào. Chính điều này tạo tiền đề cho phương thức kinh doanh qua mạng,

người xuất khẩu dựa vào bộ chứng từ chứ không dựa vào hàng hoá, nên ngân
hàng giám sát rất chặt chẽ nội dung của từng loại chứng từ có phù hợp với yêu
cầu của L/C hay không, thậm chí ngân hàng gây khó khăn trong thanh toán
trong trường hợp nhà xuất khẩu có những sai sót nhỏ trong bộ chứng từ.
- Các chứng từ phải không mâu thuẫn nhau, ví dụ mô tả hàng hoá trong
hoá đơn phải giống mô tả trong vận đơn và phải đúng quy định của L/C; số
lượng hàng hoá ghi trong các chứng từ phải thống nhất và đúng quy định của
L/C
- Xuất trình bộ chứng từ phải đúng thời gian quy định của L/C: Nếu trong
L/C không quy định thời gian xuất trình bộ chứng từ, điều 43 UCP-DC quy
định: các Ngân hàng sẽ không chấp nhận các chứng từ xuất trình cho Ngân hàng
sau 21 ngày kể từ ngày giao hàng. Vì vậy, trong mọi trường hợp, các chứng từ
không được xuất trình sau khi hết thời hạn có hiệu lực của L/C.
Thông thường bộ chứng từ thanh toán trong ngoại thương và đặc biệt
trong thanh toán bằng L/C bao gồm các chứng từ sau:
1. Hối phiếu thương mại (Bill of exchange)
1.1. Định nghĩa
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nguyễn Hồng Hà - Lớp A1 -
K37

9

“ Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký
phát cho một người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy phiếu, hoặc đến một
ngày cụ thể nhất định, hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương lai, phải
trả một số tiền nhất định cho một người nào đó, hoặc theo lệnh của người này
trả cho một người khác, hoặc trả cho người cầm phiếu.”
Trong ngoại thương, hối phiếu được coi là một công cụ thanh toán quốc tế
thông dụng và một phương tiện tín dụng. Nó biểu hiện sự cam kết bằng văn bản
giữa người mắc nợ (người nhập khẩu) và người chủ nợ (người xuất khẩu).

hối phiếu chủ yếu được tạo lập theo “Luật điều chỉnh về hối phiếu” (Uniform
Law for Bills of Exchange) viết tắt là ULB 1930 và theo luật Anh - Mỹ. Trong
bối cảnh Việt Nam, mặc dù chúng ta đã có Pháp lệnh thương phiếu nhưng Pháp
lệnh này được xây dựng chủ yếu trên cơ sở luật ULB 1930. Chính vì vậy, bài
khóa luận này chủ yếu tập trung vào việc phân tích hối phiếu trên cơ sở ULB
1930.

1.3.1. Hình thức của hối phiếu:
Hình thức của hối phiếu được quy định như sau:
- Hối phiếu làm thành văn bản. Hối phiếu nói, điện tín, điện thoại đều
không có giá trị pháp lý. Theo luật của các nước nói chung, hối phiếu có thể viết
tay, đánh máy, in sẵn vẫn có giá trị như nhau.
- Nhìn chung, các mẫu hối phiếu của các nước được in sẵn, có để trống
những đoạn nhất định để người ký phát hối phiếu điền chữ vào. Hình mẫu hối
phiếu của nước ta trước kia do Ngân hàng Nhà nước thống nhất in sẵn và phát
hành. Đối với các nước khác, hình mẫu hối phiếu thương mại là do tư nhân tự
định ra và tự phát hành. Hình mẫu hối phiếu không quyết định giá trị pháp lý
của hối phiếu.
- Ngôn ngữ sử dụng để điền vào các đoạn để trống phải thống nhất với
ngôn ngữ đã in sẵn trên hối phiếu, trừ tên các đương sự và tên các địa điểm nếu
như không thể phiên âm, phiên dịch được. Tiếng Anh là tiếng thông dụng của
ngôn ngữ tạo lập hối phiếu. Một hối phiếu sẽ không có giá trị pháp lý, nếu nó
được lập bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Những hối phiếu viết bằng bút chì,
bằng thứ mực dễ phai mầu như mực đỏ đều trở thành vô giá trị.
Theo pháp lệnh thương phiếu Việt Nam, ngôn ngữ sử dụng có quy định
hơi khác. Cụ thể, hối phiếu phát hành để sử dụng nội địa thì sử dụng ngôn ngữ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nguyễn Hồng Hà - Lớp A1 -
K37

11

trên hối phiếu thiếu cả địa chỉ của người phát hành thì hối phiếu đó là vô giá trị.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nguyễn Hồng Hà - Lớp A1 -
K37

12

Địa điểm phát hành là một yếu tố rất quan trọng vì nó là cơ sở để chọn luật áp
dụng.
- Ngày tháng ký phát: ngày tháng ký phát hối phiếu là một yếu tố có tính
bắt buộc, quan trọng bởi nó gắn liền với một số mốc pháp lý sau:
+ Thứ nhất, nó xác định khả năng thanh toán hối phiếu hay năng
lực chủ thể tham gia hối phiếu. Ví dụ, nếu ngày ký phát hối phiếu xảy ra sau
ngày người có nghĩa vụ trả tiền hối phiếu mất khả năng thanh toán như bị phá
sản , bị đưa ra toà, bị chết, thì khả năng thanh toán hối phiếu đó không còn nữa.
+ Thứ hai, ngày tháng ký phát xác định thời hạn thanh toán hối
phiếu đối với hối phiếu có kỳ hạn (trên hối phiếu có ghi rằng: “Sau X ngày kể từ
ngày ký phát hối phiếu này”)
+ Thứ ba, ngày tháng ký phát xác định thời hạn của việc xuất trình
theo luật. Ví dụ, theo luật ULB thì thời hạn xuất trình là 1 năm.
+ Thứ tư, ngày tháng ký phát là cơ sở để Ngân hàng kiểm tra sự
đồng nhất về mặt thời gian giữa các chứng từ thanh toán theo L/C. Ví dụ, ngày
ký phát hối phiếu trước ngày phát hành vận đơn thì Ngân hàng sẽ từ chối thanh
toán hối phiếu này.
Thông thường, theo luật các nước thì tháng phát hành phải ghi bằng chữ.
Ví dụ, tháng mười hai - December.
 Thời hạn trả tiền hối phiếu (4): Thời hạn này gồm có hai dạng sau:
- Thời hạn trả tiền ngay: khi đó cách ghi trên hối phiếu sẽ là “Ngay sau
khi nhìn thấy bản thứ nhất (hai) của hối phiếu này” hoặc “sau khi nhìn thấy bản
thứ nhất (hai) của hối phiếu này” ( “at sight of this FIRST (SECOND) of
exchange”)

tiền của hối phiếu.
 Số tiền và loại tiền (5) : Số tiền của hối phiếu là một số tiền nhất
định. Số tiền nhất định này được ghi một cách rõ ràng, đơn giản, người ta có thể
nhìn qua để biết được số tiền phải trả là bao nhiêu, không cần phải qua nghiệp
vụ tính toán nào, dù là đơn giản. Số tiền được ghi có thể vừa bằng chữ, vừa bằng
số hoặc là hoàn toàn bằng chữ hay hoàn toàn bằng số. Số tiền của hối phiếu phải
nhất trí với nhau trong cách ghi. Trong trường hợp có sự chênh lệch giữa số tiền
bằng chữ và số tiền bằng số thì thường căn cứ vào số tiền ghi bằng chữ. Trường
hợp có sự chênh lệch giữa số tiền toàn ghi bằng số hay toàn bằng chữ thì căn cứ
vào số tiền nhỏ hơn. Cũng cần chú ý rằng số tiền trên hối phiếu không được
vượt quá số tiền ghi trên hóa đơn và số tiền ghi trong thư tín dụng (L/C).
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nguyễn Hồng Hà - Lớp A1 -
K37

14

Với loại hối phiếu thanh toán ngay hoặc hối phiếu thanh toán chậm (quy
định thời điểm thanh toán cụ thể sau khi hối phiếu được xuất trình) thì người
phát hành có thể quyết định số tiền đó có được tính lãi hay không. Nếu có thì lãi
suất phải được ghi rõ bên cạnh số tiền trên hối phiếu. Số tiền trên hối phiếu có
thể là ngoại tệ.
 Người hưởng lợi hối phiếu (6): Tên và họ của người hưởng lợi phải
ghi đầy đủ và rõ ràng. Người hưởng lợi là người ký phát hối phiếu, đối với hối
phiếu thương mại, đó là người xuất khẩu và có thể là một người khác do người
hưởng lợi chỉ định. Theo luật quản chế ngoại hối ở nước ta thì người hưởng lợi
hối phiếu là các Ngân hàng kinh doanh ngoại hối được Ngân hàng Nhà nước cấp
giấy phép.
- Nếu người phát hành là người thụ hưởng hối phiếu: trên hối phiếu sẽ
ghi: Quý ông (bà) thanh toán vào ngày tháng năm cho tôi số tiền
- Nếu người hưởng lợi là người thứ hai: Hối phiếu sẽ ghi: Quý ông (bà)

đều không có giá trị pháp lý. Nhìn chung, theo luật ULB 1930, việc ký hối phiếu
không loại trừ việc uỷ quyền. Người được uỷ quyền ký phát hối phiếu phải thể
hiện được sự uỷ quyền ngay bên cạnh chữ ký của mình. Ngôn ngữ thể hiện sự
uỷ quyền phải trùng với ngôn ngữ của hối phiếu, điều quy định này tạo điều kiện
dễ dàng cho những người có liên quan đến hối phiếu thấy có sự uỷ quyền về
việc thành lập hối phiếu đó.

Mẫu hối phiếu nhờ thu
BILL OF EXCHANGE (2)
No__(1)______
For__(5)______
_____________ ____(3)__________20_______
_____________

At ___(4)_____Sight of This FIRST BILL OF EXCHANGE
(Second of the same tenor and date being unpaid) pay to the
order of _________(6)______________________________
________________________________________the sum of

(5)

To______(7)___ Sign
______________
______________ (8)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nguyễn Hồng Hà - Lớp A1 -
K37

16


toán, đặc biệt nó được sử dụng phổ biến nhất trong các phương thức thanh toán
nhờ thu và tín dụng chứng từ:
- Trong phương thức nhờ thu phiếu trơn, hối phiếu sẽ được chuyển cho
ngân hàng nhờ thu còn bộ chứng từ nhận hàng sẽ được chuyển cho người mua
để nhận hàng. Việc thanh toán hối phiếu này phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí
của người mua và tốc độ thanh toán thường chậm.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nguyễn Hồng Hà - Lớp A1 -
K37

17

- Trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ: hối phiếu cùng các chứng từ
khác trong bộ chứng từ sẽ được đưa cho ngân hàng để nhờ thu hộ. Tuy phương
thức này giúp người bán khống chế được quyền định đoạt hàng hoá nhưng lại
không thể khống chế người người mua trả tiền đúng hạn hoặc thậm chí việc
người mua có trả tiền hay không.
- Trong phương thức tín dụng chứng từ: hối phiếu phải hoàn toàn phù hợp
với yêu cầu của L/C và các chứng từ khác trong bộ chứng từ. Hơn nữa chúng ta
cần chú ý một số điểm sau khi lập hối phiếu theo L/C:
*. Nếu hối phiếu ký phát đòi tiền Ngân hàng mở L/C thì hối phiếu phải
gửi cho Ngân hàng này: “to the Issuing Bank”. Nếu quy định “Drafts drawn on
applicant bearing the issuing bank’s name” thì cũng là hối phiếu gửi cho Ngân
hàng mở L/C.
*. Nếu hối phiếu ký phát đòi tiền Ngân hàng trả tiền (do L/C quy định
Ngân hàng nào là Ngân hàng trả tiền) thì hối phiếu ghi gửi cho ngân hàng này:
“to Drawee Bank”
*. Nếu hối phiếu ký phát đòi tiền người nhập khẩu thì ngân hàng sẽ coi
hối phiếu như chứng từ bởi người có trách nhiệm trả tiền cho người bán trong
thời hạn hiệu lực của L/C là ngân hàng mở L/C chứ không phải là người mua.


Ngoài hoá đơn thương mại, trong thực tế ta còn thường gặp các loại hoá
đơn sau:
 Hoá đơn tạm thời (Provisional Invoice):
Là hoá đơn dùng để thanh toán sơ bộ tiền hàng trong các trường hợp :
- Giá hàng mới là giá tạm tính
- Thanh toán từng phần hàng hoá (trong trường hợp giao hàng từng phần).
Ngoài tác dụng dùng để thanh toán như trên, hoá đơn tạm thời còn được
dùng như là một tài liệu ghi nhớ khi thương lượng mua bán hoặc dùng để làm
thủ tục xin giấy phép nhập khẩu, nếu cần. Trong những trường hợp này, trên hóa
đơn tạm phải luôn ghi một mệnh đề: “không dùng cho mục đích thuế quan” (not
for custom purposes).
 Hoá đơn chính thức (Final Invoice):
Là hóa đơn dùng để thanh toán tiền hàng khi thực hiện toàn bộ hợp đồng.
 Hoá đơn chi tiết (Detailed Invoice):
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nguyễn Hồng Hà - Lớp A1 -
K37

19

Là hoá đơn có tác dụng nêu chi tiết các bộ phận và đơn giá hàng từng loại.
(như phụ tùng máy nhiều loại)
 Hoá đơn chiếu lệ (Proforma Invoice):
Là loại chứng từ có hình thức giống như hoá đơn, không có tác dụng
thanh toán vì nó không phải là một yêu cầu đòi tiền, được lập trước khi bán
hàng. Nó được sử dụng làm:
- Đơn chào hàng
- Khai giá trị hàng đem đi hội chợ triển lãm tại nước ngoài, bán đấu giá,
gửi kho,
- Chứng từ phục vụ khai báo hải quan để xin giấy phép xuất nhập khẩu.
 Hoá đơn trung lập (Neutral Invoice):


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status