Chuyên đề tốt nghiệp Lê Mạnh Hiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Bước vào kinh doanh vấn đề đầu tiên doanh nghiệp phải nghĩ đến đó
là có thị trường để tiêu thụ sản phẩm làm ra hay không và khả năng mở
rộng thị trường đó trong tương lai là như thế nào? Đối với doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu thì vấn đề mở rộng thị trường lại càng quan
trọng hơn, doanh nghiệp phải tìm mọi cách để đa dạng hóa thị trường xuất
khẩu của mình nhằm giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh xuất nhập khẩu.
Xong để thành công thực sự thì điều đó không đơn giản chút nào, nhất là
đối với một công ty kinh doanh xuất nhập khẩu chưa có nhiều kinh nghiệm
kinh doanh trên thương trường quốc tế như công ty may xnk Sông Đà.
Quá trình thực tập tại công ty may xnk Sông Đà đã cho em cái nhìn
tổng quan về vấn đề xnk hàng may mặc hiện nay và những hiểu biết rõ hơn
các nghiệp vụ trong xnk hàng hoá. Em nhận thấy công ty hoàn toàn có khả
năng tìm kiếm và phát triển khách hàng của mình với nguồn lực tài chính
hiện nay. Vì thế em đã chọn đề tài ”Giải pháp marketing nhằm phát
triển khách hàng của Mỹ cho mặt hàng may mặc sẵn của công ty cổ
phần may xnk Sông Đà” làm chuyên đề tốt nghiệp.
* Mục đích nghiên cứu: Với mục đích đem lí thuyết ứng dụng với
thực tế chỉ ra những mặt được và chưa được trong hoạt động phát triển
khách hàng của công ty. Trên cơ sở về nguồn lực của công ty đưa ra những
giải pháp marketing nhằm phát triển khách hàng xuất khẩu của công ty
trong thời gian tới.
* Đối tượng nghiên cứu: là thực trạng sản xuất, xuất khẩu hàng may
mặc tại công ty, các thế mạnh và điểm yếu của công ty. Quan trọng hơn đó
là việc nghiên cứu thị trường xuất khẩu và các nhân tố ảnh hưởng đến việc
phát triển khách hang của công ty.
* Phạm vi nghiên cứu: là các vấn đề chính đặt ra trong thực tế sản
xuất kinh doanh của công ty để phát triển khách hàng xuất khẩu.
1
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Mạnh Hiệp
người bán đưa ra các sản phẩm khác nhau với các cách thức khác nhau để
thoả mãn nhu cầu đó”. Như vậy khái niệm khách hàng cũng gần giống với
khái niệm thị trường nhưng khái niệm thị trường có nghĩa rộng hơn.
1.1.1.2 Khái niệm về phát triển khách hàng:
Phát triển khách hàng xuất khẩu hay chính là mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Đứng trên các giác độ
khác nhau có thể hiểu mở rộng thị trường theo các khái niệm sau:
- Xét thị trường theo tiêu thức sản phẩm:
Mở rộng thị trường là việc đưa thêm ngày càng nhiều sản phẩm vào
tiêu thụ ở thị trường hiện tại cũng như thị trường mới của doanh nghiệp.
- Xét thị trường theo tiêu thức địa lý:
Mở rộng thị trường là việc gia tăng khối lượng sản phẩm hiện tại của
doanh nghiệp trên các địa bàn mới trong cùng một khoảng thời gian.
- Xét thị trường theo tiêu thức khách hàng:
Mở rộng thị trường là doanh nghiệp tìm kiếm và chinh phục các
nhóm khách hàng mới, phát triển khách hàng cả về số lượng và chất lượng.
khai thác và thoả mãn tốt hơn nhu cầu đa dạng của họ.
Như vậy hoạt động phát triển khách hàng xuất khẩu là tổng hợp các
phương thức, biện pháp của doanh nghiệp nhằm tăng số lượng khácầnhng
cũng như khối lượng sản phẩm tiêu thụ ra thị trường ngoài nước, làm thu
hẹp thị phần của đối thủ cạnh tranh.
1.1.2 Vai trò của khách hàng:
Có thể khẳng định khách hàng có vai trò quan trọng đối với sản xuất
hàng hoá. Bất kì một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh
đều phải xác định cho được khách hàng của mình là gì? họ muốn gì? Và
muốn như thế nào? để qua đó có những phương án sản xuất hợp lí.
Khách hàng là người tiêu thụ sản phẩm, là người trả lương cho
doanh nghiệp. Vì vậy, luôn đặt lợi ích của khách hàng lên trên hết chính là
3
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Mạnh Hiệp
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Mạnh Hiệp
Phát triển khách hàng được thể hiện trên hai khía cạnh:
- Đứng về mặt địa lí: nó mở ra cho những doanh nghiệp những
hướng kinh doanh mới, luồn lách vào mọi nơi miễn là ở đó khách hàng có
nhu cầu.
- Đứng về mặt sản phẩm: Cũng vẫn ở thị trường đó doanh nghiệp có
thể mở rộng nghành hàng của mình đang sản xuất kinh doanh hay bằng
cách làm cho sản phẩm của mình đa dạng phong phú hơn đáp ứng tốt hơn
thị hiếu của khách hàng.
Tóm lại việc ổn định và phát triển khách hàng xuất khẩu của công ty
là một đòi hỏi khách quan quyết định sự tồn tại của các công ty quốc tế.
1.2 Các giải pháp Marketing nhằm phát triển khách hàng xuất
khẩu của công ty kinh doanh quốc tế:
1.2.1 Hoàn thiện hoạt động Marketing nghiên cứu và lựa chọn
thị trường mục tiêu của công ty kinh doanh quốc tế:
1.2.1.1 Nghiên cứu thị trường:
Trong lĩnh vực Marketing,việc nghiên cứu thị trường có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng. Thị trường là đối tượng chủ yếu của hoạt động Marketing,
là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến hiệu quả của các hoạt động
Marketing. Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất đặc trưng cho nhu cầu
thị trường là tổng sản phẩm tiêu thụ, doanh số, lợi nhuận đạt được. Khi
nghiên cứu thị trường cần phân biệt sự khác nhau giữa nhu cầu thị trường
và nhu cầu có khả năng đáp ứng, nhu cầu thị trường rộng hơn nhu cầu có
khả năng đáp ứng, để doanh nghiệp đánh giá được thị trường qua đó đưa ra
được những quyết định kinh doanh phù hợp. Nội dung của nghiên cứu thị
trường gồm:
* Nghiên cứu cơ cấu thị trường: mỗi thị trường nước ngoài không
bao giờ thuần nhất, nó bao gồm những nhóm khách hàng khác nhau về
5
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Mạnh Hiệp
Sau khi lựa chọn thị trường, vấn đề đặt ra với công ty kinh doanh là
quyết định các phương thức thâm nhập thị trường. Các phương thức thâm
nhập thị trường quốc tế bao gồm: Xuất khẩu, hợp đồng xuất khẩu, thành
lập chi nhánh sở hữu hoàn toàn của Công ty ở nước ngoài… Về mặt
nguyên tắc, lựa chọn thị trường và phương pháp xâm nhập là những quyết
định độc lập. Tuy nhiên, chúng có mối quan hệ chặt chẽ lẫn nhau. Lựa chọn
phương thức xâm nhập dựa vào nhiều yếu tố như đặc điểm của nước lựa
chọn, đặc điểm của sản phẩm, mục tiêu của Công ty, những yếu tố ảnh
hưởng đến phương thức xâm nhập… Như vậy, trước khi quyết định
phương thức nào Công ty cần xem xét đánh giá các yếu tố trên.
1.2.3 Đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu
của thị trường xuất khẩu:
Trong kinh doanh hiện nay, hiếm có công ty nào có một sản phẩm
duy nhất, điều đó rất nguy hiểm cho Công ty trong điều kiện thị trường
biến động và nhu cầu của người tiêu dùng luôn thay đổi theo thời gian. Với
một loại sản phẩm Công ty sẽ khó tránh khỏi những rủi ro, không thực hiện
được mục tiêu an toàn. Vì ít có khách hàng nào trung thành với một nhãn
hiệu. Vì vậy Công ty cần làm tốt các chiến lược về sản phẩm của mình như:
- Thiết lập chủng loại.
- Hoàn thiện và nâng cao đặc tính sử dụng của các sản phẩm trong sự
thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng.
- Phát triển sản phẩm mới.
1.2.4 Định giá xuất khẩu hợp lý:
Một doanh nghiệp định giá bán không trang trải được chi phí của
mình hoặc định một mức giá mà không một khách hàng nào chấp nhận
được thì sớm muộn cũng sẽ sớm bị loại ra khỏi thị trường. Chi phí (giá
thành) sản phẩm quy định mức giá bán tối thiểu còn quan niệm của khách
hàng về giá trị của hàng hoá sẽ quy định mức giá bán tối đa. Các doanh
nghiệp cũng cần phải biết các đối thủ cạnh tranh của mình đang định giá
7
1.2.5.3 Các hệ thống phân phối kế vị:
Công ty có hai lựa chọn cơ bản khi xâm nhập vào một thị trường:
Phân phối trực tiếp qua lực lượng bán và các cửa hàng bán lẻ của Công ty
và gián tiếp qua các trung gian phân phối. Phân phối trở lên phức tạp hơn
khi hoạt động của nó đan chéo bởi biên giới các quốc gia, cho dù hệ thống
trực tiếp hay gián tiếp được thiết lập.
1.2.5.4 Đánh giá kênh quốc tế:
Do không có một tổ chức nào có thể đáp ứng được tất cả các nhu cầu
chỉ tiêu của Công ty, các nhà quản trị Marketing có thể phải cân nhắc sự bù
trừ giữa các đặc điểm của các thành viên phân phối khác nhau dựa vào 2
chỉ tiêu cơ bản là: Chi phí và khoảng cách để lựa chọn trung gian phân
phối.
1.2.5.5 Lựa chọn các thành viên kênh:
Việc lựa chọn các nhà phân phối và đại lý ở thị trường trọng điểm là
một việc đặc biệt quan trọng. Để tìm được một nhà phân phối phù hợp,
Công ty cần phải hình thành một bản liệt kê các nhà phân phối ở các quốc
gia mà Công ty định xuất khẩu sang đó. Để thực hiện được công việc này,
Công ty cần phải đến quốc gia đó và tiếp xúc với người tiêu dùng cuối
cùng để tìm ra những nhà phân phối mà họ ưa chuộng.
1.2.5.6 Quản trị các mối quan hệ kênh:
Công ty phải thiết lập một cấu trúc tổ chức phù hợp để quản trị các
mối quan hệ kênh. Thông thường các mối quan hệ kênh rất phức tạp, các
mối giao tiếp cá nhân giữa các nhân sự của nhà cung cấp và trung gian có
thể bao hàm vài bậc quản trị trong tổ chức và liên quan đến nhân viên trong
các bộ phận bán hàng, thiết kế sản xuất, quản lí chất lượng sản phẩm của
Công ty. Do vậy, các mối quan hệ kênh là một đầu tư đáng kể: Nguồn nhân
lực, các thong tin, thương lượng, chuyển giao tri thức, công nghệ và cam
kết xã hội Công ty cần đầu tư nguồn lực vào các mối quan hệ kênh với
những trung gian có khoảng cách xa hơn.
9
10
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Mạnh Hiệp
phương tiện xúc tiến có thể thay đổi, nhằm tiếp cận với thị trường mục tiêu
mong muốn. Nguyên nhân là có sự khác biệt về mức độ sẵn có và tầm bao
phủ của các phương tiện.
Khi lựa chọn công cụ xúc tiến, các doanh nghiệp cần quan tâm đến
một số điểm sau:
- Quy định của chính phủ về quảng cáo và xúc tiến.
- Nội dung của hoạt động xúc tiến.
- Mức sẵn có và tầm bao phủ của công cụ xúc tiến.
- Chi phí và tính khả thi của công cụ.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển khách hàng
của Công ty kinh doanh quốc tế:
Thuật ngữ “phát triển khách hàng” khá gần nghĩa với thuật ngữ “phát
triển thị trường” vì khách hàng cũng là một nhân tố làm nên thị trường. Vì
vậy, những gì tác động đến thị trường thì cũng gián tiếp tác động đến hoạt
động phát triển khách hàng của các công ty. Có rất nhiều các nhân tố ảnh
hưởng đến thị trường cũng như là ảnh hưởng đến hoạt động phát triển
khách hàng của công ty kinh doanh quốc tế.
1.3.1 Các yếu tố bên ngoài:
Là các yếu tố khách quan bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động phát
triển khách hang và là các yếu tố mà doanh nghiệp không kiểm soát được,
doanh nghiệp nào cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố này, mỗi doanh
nghiệp đều phải điều chỉnh đáp ứng các yếu tố đó.
* Các yếu tố kinh tế:
Các yếu tố kinh tế bao gồm các nhân tố tác động đến sức mua của
khách hang và cách thức tiêu dùng hàng hoá, quy định cách thức doanh
nghiệp sử dụng nguồn vốn kinh doanh của mình bao gồm các yếu tố như:
sự tăng trưởng kinh tế, sự thay đổi về cơ cấu sản xuất và phân phối, tiềm
năng kinh tế, tình hình đầu tư, các chính sách tiền tệ tín dụng, lạm phát, thất
chính sách của Nhà nước, các chiến lược phát triển kinh tế, sự điều tiết và
khuynh hướng can thiệp của Nhà nước vào đời sống kinh tế, các chính sách
12
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Mạnh Hiệp
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hệ thống luật pháp… có ảnh hưởng lớn
đến công tác phát triển khách hàng của doanh nghiệp.
* Yếu tố văn hoá xã hội:
Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi mua sắm của người
tiêu dùng. Đó là cơ cấu dân số và xu hướng vận động của thu nhập, thị hiếu
lối sống và các giá trị văn hoá khác. Và các yếu tố này càng phức tạp bao
nhiêu thì hoạt động phát triển khách hàng của doanh nghiệp càng trở nên
khó khăn bấy nhiêu, và cần phải tốn nhiều thời gian, công sức và tiền bạc
hơn cho hoạt động này.
1.3.2 Các yếu tố bên trong:
Các yếu tố bên trong là các yếu tố thuộc về chính doanh nghiệp.
* Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Đây là yếu tố tác động mạnh đến chi phí sản xuất, năng suất lao động
và chất lượng hàng hoá, dịch vụ. Từ đó ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh
của doanh nghiệp. Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp càng ở trình
độ cao bao nhiêu thì doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội cạnh tranh chiếm
lĩnh thị trường và thu được lợi nhuận.
* Yếu tố con người:
Con người luôn là yếu tố quan trọng và cần được quan tâm nhất ở
thời kì phát triển của doanh nghiệp. Con người là yếu tố cốt lõi, liên quan
trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả các quyết định sản xuất kinh doanh và
ảnh hưởng đến sự thành bại trong cạnh tranh trên thị trường của doanh
nghiệp. Cũng như ảnh hưởng một loạt đến các quyết hoạt động khác của
công ty trong đó có hoạt động phát triển khách hàng.
* Yếu tố tài chính:
Tài chính là một yếu tố ảnh hưởng thuận chiều tới khả năng cạnh
trực tiếp một số loại sản phẩm may mặc.
2.1.2.3 Đặc điểm nghành kinh doanh:
- Sản xuất các mặt hàng: Quần áo, thêu, may mặc len dạ phục vụ nhu
cầu trong nước và xuất khẩu, may hàng bảo hộ lao động: Quần áo, găng
tay, khẩu trang.
- Kinh doanh xuất nhập khẩu các mặt hàng: Thiết bị, vật tư, nguyên
phụ liệu về dệt may và trang bị bảo hộ lao động.
- Dịch vụ nhà ăn, nhà nghỉ.
- Kinh doanh, xuất nhập khẩu vật tư, phụ tùng xây dựng, phụ tùng
dệt may.
Trong đó, hoạt động chủ yếu là sản xuất hàng may mặc để xuất khẩu.
2.1.3 Cơ cấu bộ máy tổ chức của công ty:
15
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Mạnh Hiệp
Sơ đồ: Bộ máy tổ chức của Công ty cổ phần may xnk Sông Đà
Mô hình của Công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến - chức
năng.Giám đốc là người duy nhất có quyền quyết định mọi kế hoạch sản
xuất kinh doanh của công ty và có sự trợ giúp từ các phòng ban bên dưới,
phó giám đốc công ty và các phân xưởng sản xuất. Khi giám đốc ra quyết
định thì những quyết định này xuống trực tiếp các phòng ban bên dưới:
Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu, phòng tài chính kế toán, phòng kĩ thuật.
16
Giám đốc
Phòng
kinh
doanh
XNK
Phòng
Tài
chính-
* Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu:
- Chức năng:
+ Tham mưu, giúp đỡ giám đốc trong việc thăm dò thị trường mới
+ Thu thập các thông tin có liên quan về nhóm khách hàng mục
tiêu này
+ Xây dựng các kế hoạch sản xuất và xuất khẩu theo các đơn hàng
của khách quốc tế.
+ Quản lí việc nhận nguyên phụ liệu nhập vào và thành phẩm xuất
ra.
- Nhiệm vụ:
+ Nhận các mẫu thiết kế do các bạn hàng nước ngoài giao cho.
+ Soạn thảo các hợp đồng và thanh toán các hợp đồng kinh tế.
+ Cung ứng nguyên vật liệu cho công nhân sản xuất.
+ Làm các thủ tục hải quan để xuất hàng ra nước ngoài.
+ Tổ chức chào hàng quảng cáo và tham gia các hội chợ thương
mại quốc tế, các hội trợ triển lãm chuyên nghành.
2.1.4 Đặc điểm và cơ cấu nguồn nhân lực của Công ty:
STT Đơn vị Lao động
định biên
Lãnh đạo,
quản lý…
Nhân
viên
Công
nhân
1 Ban giám đốc 2 2
2 Đảng ủy công đoàn 3 3
4 Phòng TCKT 10 1 9
5 Phòng kĩ thuật 12 2 10
6 Phòng kinh doanh 10 2 8
Một số chỉ tiêu tài chính về hoạt động kinh doanh của Công ty
Các chỉ tiêu Đơn vị Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Kế hoạch năm 2007
1. Giá trị tổng sản lợng Tr.đ 420.674 432.191 498.376 585.000 660.500 665.000
2. Tổng doanh thu Tr.đ 379.898 432.048 437.318 558.981 640.700 22.150.000
3. Nộp ngân sách Tr.đ 8.698 17.194 20.161 14.228 36.000.000
4. Kim ngạch xuất khẩu USD 13.667.296 14.134.877 15.100.000 17.021.075 20.700.000
5. Kim ngạch nhập khẩu USD 119.013 12.613.305 23.996.000 10.623.162 16.148.000
6. Sản lợng sản phẩm chính
- Sợi
- Sản phẩm dệt
- Vải thành phẩm
Tấn
SP
Kg
9.178
5.200.000
1.475.540
10.097
4.688.901
1.595.096
12.350
4.141.000
2.500.000
13.714
5.275.090
3.014.233
14.690
5.628.000
6.500.000
16.000
trường và lựa chọn thị trường mục tiêu của Công ty:
2.2.1.1 Phân tích và đánh giá hoạt động nghiên cứu của thị
trường xuất khẩu:
Các hoạt động nghiên cứu Marketing chỉ thực sự có hiểu quả khi
Công ty lựa chọn cho mình một thị trường xuất khẩu phù hợp với khả năng
và chất lượng kinh doanh của mình.
Trong quá trình lựa chọn Công ty sử dụng những nhóm căn cứ:
20
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Mạnh Hiệp
- Nhóm căn cứ chung:
+ Hệ thống chính trị-pháp luật: Chính trị có ổn định? Có điều gì cần
lưu ý trong hoạt động xuất khẩu…
+ Kinh tế kĩ thuật và dân số: Trình độ phát triển công nghệ, kỹ thuật
và khả năng ứng dụng công nghệ đó như thế nào đối với Công ty.
- Nhóm căn cứ về quy chế tiền tệ: Các hình thức bảo hộ mậu dịch,
quy chế tiền tệ, lạm phát,sự thay đổi của tỷ giá hối đoái.
- Nhóm căn cứ thương mại: Quy mô tính năng động của thị trường,
sự hiện diện hàng hoá của doanh nghiệp trên thị trường nước ngoài, cạnh
tranh quốc tế trên thị trường.
Mục tiêu của việc phân tích và lựa chọn thị trường xuất khẩu của
Công ty là:
- Hướng ra thị trường xuất khẩu nước ngoài nhằm thu ngoại tệ.
- Đảm bảo cân đối trả nợ và tái sản xuất mở rộng thị trường.
- Thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước và ngoài nước về số lượng,
chất lượng, giá.
- Góp phần tăng trưởng kinh tế.
2.2.1.2 Lựa chọn thị trường xuất khẩu:
Khi lựa chọn thị trường xuất khẩu Công ty cần phải chú trọng nghiên
cứu đặc điểm của từng nhóm khách hàng khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu
một cách tốt nhất. Khách hàng Nhật với văn hoá truyền thống của người Á
Sông Đà nói riêng còn tình trạng loay hoay mãi trong gia công nhưng xuất
khẩu hàng may mua nguyên vật liệu và bán thành phẩm (gọi là hàng FOB)
thật sự là rất khó. Vì trình độ của ta còn quá yếu kém, trang thiết bị máy
móc lạc hậu, nguồn nguyên liệu chủ yếu nhập từ nước ngoài, nên chi phí
xuất khẩu cao kéo theo giá sản phẩm cao. Do đó các công ty dệt may chưa
thoát khỏi gia công được, và tình trạng này sẽ kéo dài trong nhiều năm nữa.
Bởi muốn bán được hàng FOB, doanh nghiệp phải có khả năng Marketing
tốt, tài chính mạnh và nguyên phụ liệu trong nước dồi dào. Cả 3 yếu tố này
22
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Mạnh Hiệp
đều là điểm yếu của các doanh nghiệp may mặc của Việt Nam nói chung và
của công ty may xnk Sông Đà nói riêng.
2.2.2.2 Xuất khẩu trực tiếp:
Hình thức xuất khẩu trực tiếp ở công ty gọi là hàng FOB hay bán đứt
đang là hoạt động xuất khẩu được quan tâm, thực chất hoạt động xuất khẩu
hàng trực tiếp của công ty là việc mua nguyên vật liệu tổ chức sản xuất ra
sản phẩm tiêu thụ ra thị trường nước ngoài, xuất khẩu trực tiếp có những
ưu điểm nổi bật: Công ty có thể tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, chủ động trong việc thực hiện các kế hoạch của công ty. Ngoài ra,
nó cũng có nhược điểm: đòi hỏi công ty phải mạnh mẽ về năng lực sản
xuất,có uy tín và vốn lớn, phải có kinh nghiệm nghiên cứu và khai thác thị
trường, rủi ro trong kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp là rất lớn.
2.2.2.3 Xuất khẩu gián tiếp:
Một cách tiếp cận xuất khẩu là sử dụng đại lý xuất khẩu hoặc các
công ty thương mại hoặc bán hàng cho các tổ chức nước ngoài các nhà
phân phối ở các nước khác. Tổ chức vận chuyển hàng hoá bảo hiểm, cung
cấp tài chính, cung cấp chứng từ, tài liệu làm thủ tục hải quan được chuyển
cho các tổ chức khác. Đặc biệt trong các trường hợp ở đó tổ chức xuất khẩu
nắm quyền sở hữu về hàng hoá, công ty không gặp phải rủi ro đối với hoạt
động xuất khẩu và không mất nhiều thời gian cho nó. Xuất khẩu với hình
mặt hàng của công ty tăng lên, khách hàng có thêm nhiều sự lựa chọn hơn.
Góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu trong thời gian tới.
* Nhãn hiệu sản phẩm trong xuất khẩu của công ty:
Công ty xuất khẩu chủ yếu các sản phẩm sau:
- Sản phẩm sợi các loại.
- Khăn các loại.
- Lều vải du lịch.
- Quần áo bảo hộ lao động, găng tay, khẩu trang.
- Vải dệt kim, dệt thoi.
24
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Mạnh Hiệp
- Sản phẩm bò như: mũ, vải bò, quần áo bò.
- Sản phẩm dệt may: áo polo shirt, áo T-shirt, hàng thể thao, gia
công..
2.2.4 Xác lập và vận hành định giá xuất khẩu hợp lí:
Mức giá cạnh tranh nhất của dệt may Việt Nam so với các nước
trong khu vực là hàng dệt kim còn hàng dệt thoi của ta lại không thể cạnh
tranh với Trung Quốc, Indonesia… còn đối với Thái Lan, Hàn Quốc thì họ
dường như đang có sự dịch chuyển tới các loại hàng cao cấp cho nên doanh
nghiệp Việt Nam không thể sánh được.
Vì vậy, khi quyết định giá xuất khẩu, công ty phải xác định giá hoặc
mức giá cho một loại sản phẩm xuất khẩu trong điều kiện thương mại nhất
định. Khi quyết định giá xuất khẩu, Công ty phải xem xét đến 2 yếu tố
quyết định đến giá:
- Yếu tố chi phí: Cần phải tính toán xem tổng chi phí thay đổi như thế
nào (khấu hao tài sản, chi phí điều hành, tiếp thị…).
- Yếu tố hàng hoá: phản ánh mức độ nhạy cảm của cầu khi giá thay
đổi. Nhu cầu hàng co giãn thì giá cả do công ty xác định có thể càng cao.
* Các yếu tố liên quan đến xuất khẩu định giá bao gồm:
- Chất lượng, uy tín sản phẩm, uy tín của công ty.