Hoàn thiện công tác đào tạo nhân lực tại công ty TNHH xây dựng đức thành - Pdf 32

Khoa quản trị kinh doanh Trường đại học kinh tế Quốc dân
MỞ ĐẦU

Trong bất kỳ thời đại nào, nguồn nhân lực cũng đóng vai trò hết sức quan
trọng, đặc biệt trong nền kinh tế hiện đại với sự bùng nổ của nền kinh tế thế giới và
sự bùng nổ của khoa học công nghệ thì vai trò của nguồn nhân lực càng đóng vai
trò quan trọng. Nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao vừa là
nguồn lực to lớn, vừa là động lực tăng năng suất lao động, là điều kiện quyết định
để các tổ chức có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh. Do đó trong các tổ
chức, công tác đào tạo và phát triển cần phải được thực hiện một cách có tổ chức
và có kế hoạch.Với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kỹ thuật,
công nghệ và xu hướng phát triển kinh tế tri thức việc cập nhật và trang bị kiến thức
cho người lao động để họ hoàn thành tốt công việc được giao là một yêu cầu tất
yếu. Do đó các nhà quản trị cần phải xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo như
là một bộ phận trong các kế hoạch tổng thể của doanh nghiệp
CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG ĐỨC THÀNH là một doanh nghiệp xây lắp chuyên
thi công các công trình giao thông, thuỷ lợi và công trình dân dụng. Đang không
ngừng lỗ lực phấn đấu tranh thủ thời cơ phát huy thế mạnh để không vươn lên và
đứng vững trên thị trường.
Sau một thời gian thực tập và tìm hiểu thực tế hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty. Cùng với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Thạc Sĩ Nguyễn
Thị Hoài Dung và CBCNV trong Công ty, xuất phát từ những vấn đề thực tế trong
Công ty, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động như hiện nay. Tôi dã
quyết định lựa chọn đề tài " Hoàn thiện công tác đào tạo nhân lực tại Công
ty TNHH xây dựng Đức Thành" là chuyên đề tập tốt nghiệp của mình.
Chuyên đề gồm các chương như sau:
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG ĐỨC THÀNH.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TẠI TY
TNHH XÂY DỰNG ĐỨC THÀNH.
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG ĐỨC THÀNH

5. Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
`
Bước vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường có sự cạnh
tranh gay gắt nhưng Công ty TNHH xây dựng Đức Thành đã khẳng định mình trên
thị trường bằng uy tín và chất lượng công trình trong lĩnh vực xây dựng. Làm được
điều đó một phần là do Công ty có phương pháp, chiến lược kinh doanh, cách tổ
chức quản lý kinh tế và quản lý sản xuất hiệu quả.
5.1. Chức năng nhiệm vụ, nhân sự của các phòng ban, ban Giám đốc
- Cơ cấu lãnh đạo Công ty gồm 01 Giám đốc và 02 Phó giám đốc.
- Giám đốc Công ty là đại diện pháp nhân của Công ty, chịu trách nhiệm về
mọi hoạt động của Công ty trước pháp luật. Phó giám đốc được Giám đốc phân
công và uỷ nhiệm quản lý, điều hành chung trong toàn Công ty.
Lớp: QTKDCN & XDCB K38 3 Sv: Vũ Văn Sáng
Giám đốc
PGĐ Tài chính PGĐ Kỹ thuật
Phòng
Hành chính
Phòng Kế
hoạch
Phòng
Kế toán
Phòng
Kỹ thuật
Đội
Thi công
Phân xưởng
Sản xuất
Cửa hàng
Khoa quản trị kinh doanh Trường đại học kinh tế Quốc dân

tình hình tài chính - tham mưu cho Giám đốc trong các vấn đề tài chính để nâng cao
hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thẩm tra quyết toán của các
đội sản xuất.
- Tổ chức lưu trữ và bảo quản hồ sơ, tài liệu, chứng từ kế toán. Cung cấp
thông tin về các số liệu tài chính kế toán cho các bộ phận có liên quan theo qui định.
- Bảo vệ giá trị quyết toán với chủ đầu tư.
Phòng kỹ thuật: Chịu trách nhiệm về kỹ thuật sản xuất thi công cho các tổ đội,
phân xưởng sản xuất. Tham mưu, giúp việc Giám đốc về công tác kỹ thuật trong
hoạt động sản xuất, thi công…..
- Kiểm tra kỹ thuật, chất lượng sản phẩm nhập kho;
- Kiểm tra, giám sát, nghiệm thu, kiểm tra các giai đoạn thi công công trình.
- Nhiệm vụ chung của các phòng ban chức năng là:
+ Chấp hành và kiểm tra việc chấp hành các chỉ tiêu kế hoạch, các chế độ,
nội qui của Công ty và chỉ thị, mệnh lệnh công tác của Giám đốc Công ty.
+ Phục vụ đắc lực cho sản xuất kinh doanh của công ty.
+ Đề xuất với Giám đốc công ty những chủ trương, biện pháp để giải quyết
khó khăn trong sản xuất kinh doanh và tăng cường công tác quản lý đơn vị.
Đội thi công : hiện nay tại Công ty thành lập 03 đội thi công có nhiệm vụ thực
hiện thi công xây lắp các công trình theo đúng kế hoạch được giao, đảm bảo chất
lượng, kỹ thuật thi công công trình.
Phân xưởng sản xuất : Hiện nay do nhu cầu thực tế của công ty, Phân xưỏng
có 03 phân xưởng sản xuất, có nhiệm vụ khai thác và chế biến các loại sản phẩm
như: cát vàng, các loại đá phục vụ cho xây dựng….
Cửa hàng: có nhiệm vụ giới thiệu và tiêu thụ một phần sản lượng của Công t
Lớp: QTKDCN & XDCB K38 5 Sv: Vũ Văn Sáng
Khoa quản trị kinh doanh Trường đại học kinh tế Quốc dân
5.2 Mô hình tổ chức sản xuất
Do đặc tính riêng có của hoạt động thi công xây lắp công trình, Công ty đã tổ
chức thành lập các đội chuyên thực hiện xây lắp các công trình. Đội xây lắp được
đánh theo số thứ tự từ 1 đến 3 và phân xưởng sản xuất đựơc đánh số thứ tự từ 1

Quy trình thi công các công trình được tiến hành qua các công đoạn:
Bước 1 : Chuẩn bị sản xuất bao gồm: lập dự trù nguyên vật liệu phục vụ cho
thi công công trình, lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch mua sắm NVL, chuẩn bị vốn và
các điều kiện khác để thi công công trình và các trang thiết bị chuyên ngành để phục
phụ cho việc thi công công trình.
Bước 2: Khởi công xây dựng: quá trình thi công được tiến hành theo công
đoạn, điểm dừng kỹ thuật mỗi lần kết thúc một công đoạn lại tiến hành nghiệm thu
chuyển bước thi công.
Bước 3 : Hoàn thiện công trình, tiến hành nghiệm thu bàn giao công trình cho
chủ đầu tư đưa vào sử dụng.
II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
2.1. Quá trình hình thành
Công ty xây dựng Đức Thành đi lên từ một nhóm thợ, chuyên đi nhận xây
dựng công trình nhà ở dân dụng ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc. Từ khi Đảng
nhà nước có chính sách mở cửa nền kinh tế với cơ chế thị trường, mở rộng sản
xuất hàng hoá nhiều thành phần kinh tế có sự quản lý của Nhà nước. Nắm bắt
được tình hình với sự nhạy bén, đây là một cơ hội lớn để phát triển, họ đã có định
hướng và chiến lược đúng khi chuyển đổi hình thức kinh doanh, từ nhận những
công trình nhỏ lẻ, nay chuyển thành là quyết định thành lập Công ty xây dựng Đức
Thành. Theo quyết định 1995/QĐ - UB ngày 25/06/1997 của UBND tỉnh Hoà Bình.
Lớp: QTKDCN & XDCB K38 7 Sv: Vũ Văn Sáng
Khoa quản trị kinh doanh Trường đại học kinh tế Quốc dân
2.2. Quá trình phát triển
Từ khi thành lập đến nay Công ty TNHH xây dựng Đức Thành đã không
ngừng phát triển và trở thành một trong những công ty xây dựng lớn của tỉnh và khu
vực các tỉnh miền núi trung du phía bắc. Hàng năm công ty chuyên nhận xây dựng
các công trình trường học, đường giao thông, trạm điện, trạm y tế, công trình thuỷ
lợi. Đặc biệt là kể từ khi có chương trình quốc gia 135, với uy tín của mình trong
nghành xây dựng công ty đã nhận được những hợp đồng lớn trong trương trình 135
thi công xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã vùng sâu vùng xa đặc biệt khó khăn.

Qua biểu trên ta thấy, tổng doanh thu của Công ty liên tục tăng qua các năm,
đạt mức tăng là 1.199 triệu đồng, tương ứng 127% (năm 2006 so với năm 2005) và
tăng 1.104 triệu đồng, tương ứng 119.5% (năm 2007 so với năm 2006).
Như vậy, tổng doanh thu của Công ty tăng đều trong 03 năm qua cho thấy
Công ty luôn sản xuất kinh doanh vượt mức kế hoạch năm trước.
Qua phân tích ở trên cho ta thấy lợi nhuận gộp của Công ty tăng nhanh và
đều qua các năm. Giá vốn hàng bán năm 2006 so với năm 2005 tăng 1.103 triệu
đồng, tương ứng 26.9%, năm 2007 so với năm 2006 tăng 1.016 triệu đồng, tương
ứng 19.5%. Đồng thời chi phí bán hàng và chi phí quản lý cũng tăng lên. Năm
2006 tăng 60 triệu đồng so với năm 2005 tương ứng với 27%, năm 2007 tăng 55
triệu đồng so với năm 2006, tương ứng với 19.4%. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất
kinh doanh năm 2006 tăng 36 triệu đồng so với năm 2005 tương ứng với 27%, năm
2007 tăng 33 triệu đồng tương ứng với 19.5%.
Qua Bảng số liệu trên ta thấy tuy rằng chi phí (năm 2007 so với năm 2006)
giảm đi (năm 2006 so với năm 2005) nhưng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh
doanh lại tăng chậm hơn. Điều đó chính tỏ sản xuất kinh doanh của Công ty ngày
càng phát triển nhưng hiệu quả chưa cao.
Nhìn chung những kết quả mà Công ty đạt được là khả quan. Đạt được kết
quả như vậy là do tập thể lãnh đạo và cán bộ công nhân viên toàn Công ty đã cố
gắng không mệt mỏi trong việc cải tiến khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất lao
động và kiện toàn bộ máy quản lý.
Lớp: QTKDCN & XDCB K38 9 Sv: Vũ Văn Sáng
Khoa quản trị kinh doanh Trường đại học kinh tế Quốc dân
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TẠI
CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG ĐỨC THÀNH
I- MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG
TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY.
1. Đặc điểm về thị trường.
Lớp: QTKDCN & XDCB K38 10 Sv: Vũ Văn Sáng


Nhà hiệu bộ trường dân tộc nội trú Hoà Bình;

Nhà bộ môn trường dân tộc nội trú Hoà Bình;
Lớp: QTKDCN & XDCB K38 11 Sv: Vũ Văn Sáng
Khoa quản trị kinh doanh Trường đại học kinh tế Quốc dân

Trường THCS Tân Lập...
1.3. Dự báo về thị trường và giá
Qua việc nghiên cứu thị trường và giá, doanh nghiệp sẽ phải đưa ra được
những kết luận quan trọng xây dựng nên bản dự báo về thị trường và giá giúp
doanh nghiệp có một kế hoạch sản xuất, kinh doanh hiệu quả nhất.
Dự báo thị trường: trên cơ sở nghiên cứu, nắm bắt thị trường để có những
giải pháp thích hợp đối với việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Việc dự báo
đúng đắn thị trường giúp cho doanh nghiệp vạch ra hướng chiến lược và triển vọng
của mình tham gia vào thị trường, từ đó có những quyết định đúng đắn đối với việc
tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Về mặt thời gian dự báo thị trường, doanh nghiệp
có thể dự báo dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Nội dung chính của dự báo thị
trường là dự báo khả năng và triển vọng về cung - cầu sản phẩm doanh nghiệp
đang sản xuât và những loại sản phẩm mới mà doanh nghiệp có thể sản xuất. Dự
báo về khách hàng để lựa chọn những khách hàng chủ lực, thường xuyên của
doanh nghiệp, có thể xuất hiện những loại khách hàng mới. Dự báo về số lượng và
cơ cấu, chủng loại sản phẩm có triển vọng. Dự báo về xu thế biến động của thị
trường...
Dự báo về giá cả: Từ kết quả của qúa trình nghiên cứu giá cả, doanh nghiệp
sẽ phải xây dựng bản dự báo giá cụ thể. Việc dự báo đúng đắn và chính xác về giá
cả của các loại sản phẩm mà mình định cung cấp sẽ giúp cho doanh nghiệp đảm
bảo được kế hoạch tiêu thụ sản phẩm cũng như kế hoạch lợi nhuận. Nhưng do tính
chất biến động của thị trường nên các bản dự báo về giá của doanh nghiệp thường
trong giai đoạn ngắn hạn và luôn được điều chỉnh một cách kịp thời nhằm tiêu thụ

từ 83% đến 85%. Tuy rằng qua các năm có một số lao động đến tuổi về hưu nhưng
số lao động trẻ lại tăng thêm nên cơ cấu không thay đổi là mấy.
Bảng 2: CƠ CẤU LAO ĐỘNG Ở CÔNG TY
Đơn vị: Người
Lớp: QTKDCN & XDCB K38 13 Sv: Vũ Văn Sáng
Khoa quản trị kinh doanh Trường đại học kinh tế Quốc dân
CHỈ TIÊU
2005 2006 2007
Số
lượng
Tỷ trọng
(%)
Số
lượng
Tỷ trọng
(%)
Số
lượng
Tỷ trọng
(%)
Tổng số cán bộ CNV 180 100 200 100 220 100
1 - Khối sản xuất 150 83,3 170 85 185 84.1
- Khối phòng ban 30 16,7 30 15 35 15.9
2 - Lao động hợp đồng 180 100 200 100 220 100
3 - Giới tính: - Nữ 30 16.7 30 15 35 15.9
- Nam 150 83.3 170 85 185 84.1
4 - Độ tuổi: + < 30 50 27.7 65 32.5 70 31.8
+ 31 - 45 70 39 75 37.5 85 38.6
+ 46 - 55 50 27.7 52 26 57 26
+ Trên 56 10 5.6 8 4 8 3.6

- Thời điểm cuối năm nguyên giá TSCĐHH của Công ty là 660.000.000đ giảm
so với năm 2006 là 110.000.000đ tương ứng với tỷ lệ tăng là 14.28% trong đó giảm
do khấu hao sử dụng.
Bảng 3: Tình hình tài sản của Công ty
Khoản mục Nhà cửa
Máy móc thiết
bị
Dụng cụ
quản lý Tổng cộng
1. Nguyên giá TSCĐHH
SD đầu năm 330.000.000 784.000.000 14.000.000 1.100.000.000
Mua trong năm
Lớp: QTKDCN & XDCB K38 15 Sv: Vũ Văn Sáng
Khoa quản trị kinh doanh Trường đại học kinh tế Quốc dân
SD cuối năm 330.000.000 756.000.000 14.000.000 1.100.000.000
2. Giá trị hao mòn luỹ kế
SD đầu năm (66.000.000) (151.200.000) (2.800.000) (220.000.000)
KH trong năm
(33.
000.000)
(75.600.00
0)
(1.40
0.000)
(110.00
0.000)
SD cuối năm
(99.0
00.000)
(226.800.0

Tổng TSCĐ 80% 70%
(Nguồn: Phòng Kế toán-Tài chính)
Lớp: QTKDCN & XDCB K38 16 Sv: Vũ Văn Sáng
Khoa quản trị kinh doanh Trường đại học kinh tế Quốc dân
Giá trị còn lại của TSCĐ của Công ty ở thời điểm 31/12/2007 là 660.000.000đ
còn 70% trên nguyên giá TSCĐ.
Như vậy có thể nói giá trị còn lại của TSCĐ vẫn có khả năng sử dụng tốt,. Tuy
nhiên Công ty vẫn nên chú ý đầu tư đổi mới TSCĐ để đảm bảo chất lượng của sản
phẩm và duy trì sự ổn định lâu dài.
Qua sự tìm hiểu về tình trạng kỹ thuật của TSCĐ cộng với việc phân tích ở
Bảng 02 đã cho ta thấy cái nhìn tổng quát hơn về tình hình sử dụng TSCĐ của
Công ty. Với tình hình đầu tư vào TSCĐ của Công ty như trên thì yêu cầu đặt ra là
làm sao trong những năm tới đây Công ty phải khai thác tối đa năng lực sản xuất
của TSCĐ nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng VCĐ của Công ty. Để làm
được điều này thì chúng ta phải đi nghiên cứu hiệu quả sử dụng VCĐ của Công ty
trong năm 2007 được đánh giá qua một số chỉ tiêu trên cơ sở so sánh với năm
2006.
5. Đặc điểm về nguồn vốn của Công ty
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt
hiệu quả tốt thì ngoài việc phải phát huy được lượng vốn nhất định để tiến hành
hoạt động thì còn phải biết sử dụng nguồn vốn đó sao cho hợp lý nhất, sinh nhiều
lợi nhuận nhất.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu sẽ giúp lãnh đạo doanh nghiệp biết được tình
hình sử dụng vốn của mình, từ đó sẽ có những điều chỉnh cho phù hợp với tình hình
sử dụng vốn của mình và đề ra kế hoạch sử dụng vốn cho tương lai.
Để nghiên cứu tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty cũng như để hiểu
rõ hơn về tình hình huy động và sử dụng vốn của Công ty, thể hiện qua bảng sau:
Bảng 5: Tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty qua các năm
Chỉ tiêu
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 So sánh

Qua bảng số liệu trên cho ta thấy tình hình của nguồn vốn của Công ty cũng
thay đổi qua các năm. Điều đó cũng có thể nhận thấy là hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty có xu hướng thay đổi.
Cụ thể, năm 2006 so với năm 2005:
Tổng giá trị nguồn vốn tăng 51 triệu đồng ứng với 1.5%, trong đó nguồn vốn
chủ sở hữu tăng 44 triệu đồng tương ứng với 1.8%, nợ phải trả cũng tăng 7 triệu
đồng 0.6%. Ta thấy nguồn vốn lớn hơn hoặc bằng nợ phải trả, như vậy qua đó ta
thấy được tình hình tài chính của Công ty khá tốt.
Năm 2007 so với năm 2006: nguồn vốn chủ sở hữu tăng 384 triệu đồng tức
là tăng 15.6%, nợ phải trả giảm 301 triệu đồng tương ứng với 28%.
Như vậy xét về tổng thể thì nguồn vốn chủ sở hữu lớn hơn nợ phải trả cho
nên tình hình tài chính của Công ty là khá tốt.
Qua phân tích ở trên ta thấy được nguồn vốn chủ sở hữu tăng chứng tỏ tiềm
lực tài chính của Công ty khá tốt. Nói chung tình hình về nguồn của Công ty có
những chuyển biến tốt, Công ty đã chủ động được nguồn vốn và sử dụng khá hợp
lý, góp phần nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.
II- TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY
2.1. Thực trạng xác định nhu cầu đào tạo.
Lớp: QTKDCN & XDCB K38 18 Sv: Vũ Văn Sáng
Khoa quản trị kinh doanh Trường đại học kinh tế Quốc dân
Phân tích doanh nghiệp: Căn cứ quan trọng nhất để Công ty xây dựng kế
hoạch đào tạo phát triển chính là mục tiêu, phương hướng hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty đã vạch ra trong những năm đó. Nhưng phần lớn Công ty chỉ
gắn xây dựng kế hoạch đào tạo khi có nhu cầu cấp thiết, hay là gắn với mục tiêu
ngắn hạn chứ chưa gắn đào tạo với chiến lược lâu dài của mình.
Công ty đã mở các lớp đào tạo ngắn hạn cho những người lao động trong
công ty. Bên cạnh đó cũng chú ý đến việc bồi dưỡng cho các cán bộ quản lí cho phù
hợp với sự thay đổi hình thức sở hữu thay vì là một cơ quan nhà nước như: lớp tập
huấn đấu thầu, quản lí dự án, lớp tư vấn giám sát công trình, lớp quản trị doanh
nghiệp…Các lớp đào tạo ngắn hạn này đã giúp cho người lao động nắm bắt và làm

tổng thời gian hao phí lao động cho từng công trình, từng sản phẩm xây dựng của
Công ty.
 Đào tạo mới, đào tạo thêm nghề: Áp dụng với những lao động mới tuyển
dụng do nhu cầu nhân lực thiếu hoặc những người từ bộ phận khác chuyển sang
chưa làm quen với công việc. Nhu cầu đào tạo mới được xác định thông qua việc
cân đối số lao động hàng năm:
Số lao động cần tuyển = Nhu cầu lao động cần có năm sau đó – Số lao động
hiện có trong năm trước.
Với những nhân viên mới tuyển, công ty đặc biệt chú ý đến công tác đào tạo
với hình thức hướng dẫn trực tiếp do những người có kinh nghiệm dày dặn trong
công việc dẫn dắt, cũng có thể căn cứ vào mục tiêu sắp tới của công ty mà cho
nhân viên mới tham gia những khoá đào tạo khác. Hàng năm số lao động cần tuyển
mới của công ty là vào khoảng 25 người, trong đó 70% là công nhân kỹ thuật xây
dựng và 30% là cán bộ công nhân viên quản lý.
Căn cứ vào số lao động làm việc trong các phòng ban để phát hiện ra số lao
động thừa thiếu và có biện pháp sử dụng lao động hợp lý nhất. Công ty cân đối
nhân lực trong các phòng ban bằng cách chuyển lao động từ các phòng thừa sang
các phòng thiếu, kết hợp với việc tiến hành đào tạo cho số lao động này. Hàng năm
công ty cũng thuyên chuyển lao động giữa các phòng, ban quản lý để tận dụng hết
nguồn nhân lực trong công ty.
Lớp: QTKDCN & XDCB K38 20 Sv: Vũ Văn Sáng
Khoa quản trị kinh doanh Trường đại học kinh tế Quốc dân
Các phương pháp sử dụng trong việc đánh giá nhu cầu đào tạo bằng phương
pháp bảng hỏi, phỏng vấn và sử dụng các kết quả trong biểu đánh giá công việc
hầu như không được áp dụng mà thường là sử dụng phương pháp quan sát và
thông qua ý kiến tập thể.
2.2. Thực trạng về lập kế hoạch và chuẩn bị đào tạo
Dựa vào nhu cầu đào tạo, phòng Hành chính nhân sự kết hợp các bộ phận
lập kế hoạch đào tạo trình lên Giám đốc để phê duyệt. Kế hoạch đào tạo của Công
ty có hai loại chính đó là kế hoạch định kỳ và kế hoạch đột xuất.

gia các khoá đào tạo này bao gồm: cán bộ phải là Đảng viên, có trình độ bậc Đại
học trở lên (chính quy hoặc tại chức), có kinh nghiệm công tác, độ tuổi trên 35. Dựa
vào những tiêu chuẩn đó mà hàng năm công ty xác định số lượng người tham gia
các khóa đào tạo (thường là 8 -10 người).
 Đối với kỹ sư, cử nhân, nhân viên thì công ty cũng có những chính sách
quan tâm đến việc đào tạo phát triển những đối tượng này. Công ty thường cử họ đi
đào tạo các lớp ngắn hạn hoặc do những người có trình độ cao trong công ty trực
tiếp chỉ bảo, kèm cặp. Hàng năm công ty cũng tổ chức mở các lớp học ngắn hạn
3lần/năm để tại điều kiện cho người lao động học tập và nâng cao trình độ được
liên tục.
 Đối với đối tượng đào tạo là công nhân kĩ thuật: Vì công ty hoạt động trong
lĩnh vực xây dựng nên đặc biệt phải chú ý tới việc đào tạo công nhân. Công tác đào
tạo diễn ra chủ yếu với công nhân là đào tạo lại nghề và nâng cao tay nghề cho
người lao động. Trước khi tiến hành công tác đào tạo thì công ty cũng phải tổ chức
kì thi giữ bậc, công nhân phải đạt tiêu chuẩn về tiêu chuẩn thời gian giữ bậc và tiêu
chuẩn thi nâng bậc, nếu qua phần thi này thì mới được tham gia cuộc thi nâng bậc.
Hình thức chủ yếu của các cuộc thi này gồm hai phần: lí thuyết và thực hành. Với
bất kì người lao động tham gia thì đều phải tuân thủ nguyên tắc, quy định của cuộc
thi đề ra.
 Công tác đào tạo lại nghề: Công ty tiến hành đào tạo lại nghề đối với
những lao động đang làm những việc không đúng với trình độ hoặc làm những công
Lớp: QTKDCN & XDCB K38 22 Sv: Vũ Văn Sáng
Khoa quản trị kinh doanh Trường đại học kinh tế Quốc dân
việc không đúng với ngành học và đối với những công nhân đã tham gia các lớp
đào tạo dài hạn, hiện nay do yêu cầu công việc đòi hỏi cần phải đào tạo lại.
Những năm gần đây Công ty đặc biệt quan tâm đến đào tạo công nhân. So
với năm 2005 thì năm 2006 tăng lên 5 người, chiếm 1,02%. Trong quá trình đào tạo
đối tượng này Công ty chú trọng tới hình thức thi nâng bậc và đào tạo nâng cao tay
nghề. Năm 2007 số lượng công nhân thi nâng bậc tăng 80 người (tăng 75,13%), số
lượng công nhân dự thi nâng bậc nâng cao tay nghề tăng 10 người tương ứng tăng

Nguồn: phòng Hành chính tổng hợp
Lớp: QTKDCN & XDCB K38 23 Sv: Vũ Văn Sáng
Khoa quản trị kinh doanh Trường đại học kinh tế Quốc dân
Biểu đồ 1: Biểu đồ về đối tượng tham gia đào tạo qua các năm 2005 - 2007
0
50
100
150
200
250
300
350
400
450
2005 2006 2007
Đào tạo cán bộ QL, Kĩ
thuật
Đào tạo công nhân
Tổng số LĐ được đào tạo
Số lượng lao động được đào tạo tăng lên hàng năm có thể cho thấy rằng
công tác đào tạo được công ty rất quan tâm. Theo tổng hợp của phòng hành chính
– nhân sự trong công ty thì hơn 80% số lao động trong công ty thường xuyên tham
gia các khoá đào tạo và nhiều nhất là 5 năm một lần họ có tham gia đào tạo. Đối
tượng được được đào tạo chủ yếu là những người đang làm việc ở công ty chiếm
80% và 20% là lao động tuyển mới.
Nhìn chung, công tác lựa chọn đối tượng lao động khá rõ ràng, xác định tiêu
chuẩn cụ thể cho từng đối tượng đào tạo. Tuỳ theo từng giai đoạn, tuỳ tình hình sản
xuất kinh doanh, số công trình mới được kí kết mà công ty tiến hành lựa chọn đối
tượng đào tạo cho phù hợp để có thể cân đối nguồn nhân lực trong công ty.
2.2.3. Xây dựng chương trình đào tạo và lựa chọn phương pháp đào tạo.

yêu cầu về cập nhật được kiến thức mới còn thiếu và những kiến thức không còn
được áp dụng trong thực tiễn công việc.
Lựa chọn phương pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:
Công ty áp dụng phương pháp đào tạo chủ yếu là đào tạo nghề, kèm cặp chỉ
bảo và cử đi học ở các trung tâm. Tỷ lệ số người được đào tạo bằng tất cả các
phương pháp do Công ty áp dụng so với tổng số công nhân được đào tạo chiếm
Lớp: QTKDCN & XDCB K38 25 Sv: Vũ Văn Sáng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status