Lời mở đầu
Hiện nay, hàng Thủ công mỹ nghệ được xếp vào nhóm 10 mặt hàng có
tiềm năng xuất khẩu lớn của Việt Nam. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ của nước
ta đang có mặt tại 136 quốc gia và vùng lãnh thổ với nhịp độ tăng trưởng kim
ngạch xuất khẩu tăng trên 20% mỗi năm.
Ngành thủ công mỹ nghệ từ lâu là nguồn thu ngọai tệ và tạo công ăn việc
làm cho nhiều người dân trong nước, đặc biệt là thành phần không có nghề
chuyên môn. Tuy vậy, cho đến nay tiềm năng của ngành này vẫn chưa đuợc
khai thác triệt để. Thực trạng của ngành ra sao?
Trước đây từ những năm đầu khi mới thành lập, ARTEXPORT (Công
ty Xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Việt Nam, nay là Công ty Cổ phần XNK
Thủ công mỹ nghệ) được Bộ Ngoại thương giao nhiệm vụ tổ chức sản xuất,
thu mua, tái chế, đóng gói kinh doanh xuất nhập khẩu độc quyền hàng thủ
công mỹ nghệ theo kế hoạch của Bộ giao. Trải qua nhiều thách thức công ty
đã không ngừng nâng cao kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trường tới rất
nhiều nước trên thế giới, mở rộng quy mô sản xuất .Công ty đã đạt được nhiều
bằng khen, huy chương tại các kỳ tham gia triển lãm, hội chợ tại nước ngoài
và luôn là đơn vị chủ trì hoạt động của nhiều hội chợ quan trọng.
Chính vì truyền thống lâu đời của công ty, từ những thành tựu mà công
ty đã đạt được cũng như lĩnh vực hoạt động rộng lớn mà tôi lựa chọn công ty
để thực tập nhằm phục vụ cho công việc học hỏi và thực hành của mình.Trong
quá trình thực tập tại công ty tôi đã đi vào tìm hiểu và nghiên cứu lĩnh vực
hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty và nhận thấy cần phải đi sâu
vào nghiên cứu thị trường kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và
thực trạng của nó tại công ty mà tôi đang thực tập .
1
Từ những lý do trên đây, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Hoạt động kinh doanh
xuất khẩu , thực trạng và các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ tại công ty XNK ARTEXPORT” để làm đề tài chuyên đề thực tập
tốt nghiệp của mình.
Chuyên đề tốt nghiệp này của tôi nhằm đi sâu vào tìm hiểu về hoạt động kinh
lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng. Trước hết thương mại xuất hiện từ
sự đa dạng và điều kiện tự nhiên của sản xuất giữa các nước, nên chuyên môn
hoá sản xuất một số mặt hàng có lợi thế và nhập khẩu các mặt hàng khác từ
nước ngoài mà sản xuất trong nước kém lợi thế thì chắc chắn đem lại lợi
nhuận lớn hơn...Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của thương mại quốc
tế, nhiều lý thuyết ra đời giải thích cho sự ra đời đó nhưng vẫn phải khẳng
3
định là sự ra đời của thương mại quốc tế là một điều tất yếu của sự phát triển
kinh tế thế giới.Xuất khẩu ra đời từ đó.
1.1 Vai trò của xuất khẩu hàng hoá:
-Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu
-Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế
hướng ngoại.
-Xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân.
-Xuất khẩu là cơ sở mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
của nước ta.
1.2 Các phương thức xuất khẩu:
Trên thị trường thế giới đang tồn tại nhiều phương thức giao dịch, mỗi
phương thức giao dịch có đặc điểm và kỹ thuật tiến hành riêng.Căn cứ vào
mặt hàng dự định xuất nhập khẩu (XNK), đối tượng, thời gian giao dịch và
năng lực của người tiến hành giao dịch, mà doanh nghiệp chọn phương thức
xuất khẩu phù hợp.Cũng như thế xuất khẩu có thể được thực hiện theo nhiều
cách thức khác nhau phụ thuộc vào khả năng, điều kiện của từng doanh
nghiệp và hiệu quả kinh doanh mà mỗi cách thức xuất khẩu đem lại.
Ở Việt Nam hiện nay tồn tại nhiều phương thức xuất khẩu nhưng được
áp dụng nhiều nhất vẫn là ba dạng chủ yếu sau: xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu
uỷ thác và liên doanh liên kết xuất khẩu.Cả ba phương thức này đều được áp
dụng rộng rãi vì mỗi phương thức đều có lợi thế riêng thích ứng với mỗi loại
hình doanh nghiệp và mỗi mặt hàng.Tuy nhiên ở chuyên đề này tôi chỉ xin
được nghiên cứu và xem xét hai phương thức là xuất khẩu uỷ thác và xuất
nhiên như họ vẫn kiểm soát được thị trường, liên hệ trực tiếp với thị trường và
hạn chế cạnh tranh từ các đơn vị uỷ thác.
1.2.2 Phương thức xuất khẩu trực tiếp:
Phương thức xuất khẩu trực tiếp là phương thức xuất khẩu mà đơn vị
xuất khẩu hàng hoá cũng là chủ sở hữu của hàng hoá đó.
Một đơn vị ngoại thương muốn tiến hành xuất khẩu trực tiếp thì trước
hết phải sở hữu hàng.Việc sở hữu hàng có thể được thực hiện bằng cách xây
dựng các xưởng sản xuất trực thuộc hoặc tiến hành thu mua hàng xuất
khẩu.Sau khi đơn vị ngoại thương phải đảm nhiệm tất cả các chức năng xuất
khẩu, từ việc tìm kiếm thị trường, khách hàng, kí kết hợp đồng, vận chuyển,
thủ tục, giấy tờ cho đến việc giao nhận và thanh toán.Xuất khẩu trực tiếp đòi
hỏi chi phí cao hơn và ràng buộc nguồn lựclớn hơn để phát triển nguồn hàng,
phát triển thị trường. Để phát triển nguồn hàng, đơn vị phải mở rộng sản xuất
hoặc tăng cường thu mua.Đối với hàng thủ công mỹ nghệ có thể sử dụng biện
pháp bao tiêu, đặt hàng, gia công, đổi hàng.
Chỉ có các đơn vị có đầy đủ điều kiện cần thiết về nguồn hàng, khả
năng tài chính, kinh nghiệm xuất khẩu mới tham gia xuất khẩu trực tiếp.Xuất
khẩu trực tiếp mang lại doanh thu và lợi nhuận cao hơn so với các phương
thức xuất khẩu khác.Đơn vị cũng có thể kiểm soát được có thể kiểm soát được
sản phẩm và giá cả mà các phương thức xuất khẩu khác không cho phép.Tuy
nhiên khi thực hiện xuất khẩu trực tiếp đơn vị cần nguồn tài chính lớn và phải
tự mình chịu mọi rủi ro xảy ra.
6
2) Đặc điểm hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ có những đặc
điểm chung và riêng so với hoạt động xuất khẩu hàng hoá khác.
Đặc điểm chung :
Chủ thể: Là các thương nhân có trụ sở kinh doanh đăng kí ở hai nước khác
nhau, thông thường có quốc tịch khác nhau
Thương nhân : khác nhau về ngôn ngữ, văn hoá, tập quán buôn bán dẫn
tế.
Đặc điểm riêng :
Hiện nay các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam làm từ những
chất liệu như tre, cói, mây, bèo, dừa… Đó là những chất liệu sẵn có mà không
phải nhập khẩu mặt khác do “vòng đời” sản phẩm ngắn. Điều kiện thâm nhập
thị trường thế giới khá thuận lợi, có tiếng là giá hợp lý, có tính riêng biệt và
bản sắc văn hóa. Xuất khẩu mặt hàng này mang lại giá trị gia tăng lớn, bởi so
với mặt hàng gia công tuy trị giá Xuất khẩu cao nhưng tỷ lệ trị giá nguyên liệu
nhập khẩu trong cấu thành sản phẩm khá lớn (có khi tới 70%) thì với hàng thủ
công mỹ nghệ hầu như chỉ dùng nguyên, phụ liệu nội địa.
Ngành thủ công mỹ nghệ từ lâu là nguồn thu ngọai tệ và tạo công ăn việc
làm cho nhiều người dân trong nước, đặc biệt là thành phần không có nghề
chuyên môn.
Hàng thủ công mỹ nghệ là một mặt hàng vừa mang tính sử dụng và vừa
mang tính nghệ thuật mà tính nghệ thuật chiếm ưu thế hơn trong việc đánh giá
sản phẩm. Do vậy, sản phẩm này là một hàng hoá đặc biệt (thông thường chỉ
8
có thể xác định tiêu chuẩn đánh giá sản phẩm thông qua thị hiếu của khách
hàng) trên các mặt của sản phẩm, như sau:
+ Chất lượng sản phẩm: Mặt hàng này mang cả tính nghệ thuật, cả tính
sử dụng do vậy chất liệu để sản xuất ra sản phẩm cũng là một yếu tố để đánh
giá. Chất liệu phải bền chắc, có tính sử dụng tốt phù hợp tính năng và nhu cầu
của khách hàng. Ví dụ hàng sơn mài phải phẳng bền không vênh cong; Hàng
gỗ phải cứng chắc…
+ Mẫu mã: Hàng thủ công mỹ nghệ là một hàng mang tính nghệ thuật
cao mà tính nghệ thuật này chủ yếu thể hiện ở hình dáng mẫu mã sản phẩm.
Hình dáng sản phẩm chủ yếu thể hiện ở các sản phẩm cói, mây, tre, gỗ mỹ
nghệ. Mẫu mã sản phẩm là các đồ gỗ, gốm, thêu, ren, sơn mài mỹ nghệ…
mang đặc tính của văn hoá đời sống con người.
+ Màu sắc chất liệu: Đó chính là nền tảng để tạo nên mẫu mã của sản
xuất hàng thủ công mỹ nghệ cung cấp cho hoạt động xuất khẩu.Các cơ sở này
10
có mặt ở Hà Nội và rải rác ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.Nói chung đây là thời
kỳ công ty hoạt động khá ổn định và có bước phát triển, tuy còn chậm.
Giai đoạn 1991-1994: Đây là giai đoạn đầy biến động và khó khăn
chồng chất của công ty.Thị trường chính của công ty là khối SEV đã giải
thể.Liên Xô và một số nước Đông Âu vốn là bạn hàng lớn đã đơn phương huỷ
bỏ các NĐT đã kí.Nguồn xuất khẩu theo NĐT đã mất trong khi đó công ty
chưa có đủ thời gian để tiếp cận với thị trường mới nên kim ngạch xuất khẩu
của công ty bị giảm đi rất nhiều.Đồng thời lúc đó công ty phải chuyển đổi cơ
chế kinh tế từ tập trung bao cấp sang tự hạch toán kinh doanh nên gặp rất
nhiều khó khăn về vốn.Các đơn vị thành viên của công ty trở thành các cơ sở
độc lập, tách khỏi công ty trả về cho địa phương quản lý làm cho công ty mất
chủ động về nguồn hàng.Trước tình hình đó năm 1993 công ty được thành
lập lại theo quyết định số 334/TM-TCCB ngày 31/3/1993 của Bộ trưởng Bộ
Thương Mại và được trọng tài kinh tế cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh
doanh ngày 14/5/1993.Công ty đặt trụ sở chính tại số 31-33 Ngô Quyền, quận
Hoàn Kiếm, TP Hà Nội.Sau khi được thành lập lại, công ty đã từng bước tổ
chức, sắp xếp lại bộ máy tổ chức, nhân sự, xây dựng các quy chế quản lý tài
chính mới nhằm từng bước thoát ra khỏi tình trạng khó khăn và đi lên vững
chắc.
Giai đoạn từ 1994 đến nay là giai đoạn công ty bước vào thế ổn định và
tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức, phương pháp hoạt động nhằm nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh.
11
Bảng 1: Thông tin chung về Artexport
Tên công ty Công ty Cổ phần XNK Thủ công mỹ nghệ Việt Nam
Tên viết tắt ARTEXPORT
Vốn điều lệ
55.000.000.000 đồng
+ Chế biến hàng nông lâm hải sản, khoáng sản, công nghệ phẩm, may,
da;
+ Đại lý các mặt hàng cho các khách hàng trong và ngoài nước;
+ Tổ chức hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước đối với nhóm hàng
thủ công mỹ nghệ.
1.3 - Kết quả hoạt động kinh doanh của Artexport trong những
năm gần đây.
Trong những năm qua công tác tài chính của công ty đã đảm bảo đầy đủ
kịp thời các nhu cầu về vốn cho các đơn vị kinh doanh, phát huy được hiệu
quả số vốn của công ty và hoạch toán chính xác, quyết toán kịp thời.Nguồn
vốn của công ty không ngừng tăng lên qua các năm.Công ty có thể huy động
vốn dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật như thông qua vay ngân
hàng, tổ chức tín dụng, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.Công ty có
tài khoản tiền Việt và ngoại tệ ở một số ngân hàng như ngân hàng ngoại
thương, ngân hàng công thương thuận lợi cho việc giao dịch với bạn hàng,
đáp ứng được phần nàoyêu cầu về vốn cho hoạt động thu mua sản phẩm, kịp
thời thoả mãn yêu cầu của khách hàng.Tuy nhiên nếu có nguồn vốn lớn hơn sẽ
tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa trong hoạt động kinh doanh của công ty như
có thể huy động nguồn hàng nhanh hơn, chất lượng cao hơn đồng thời có thể
áp dụng biện pháp xuất khẩu trả chậm cho khách hàng nước ngoài nhằm
khuyến khích xuất khÈu.
13
Dưới đây là kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong 3
năm vừa qua.
Bảng 2:Báo cáo kểt qủa hoạt động kinh doanh năm 2005, 2006 và 6 tháng
14
đầu năm 2007.
Đơn vị tính: TriÖu VND
Chi tiêu 2005 2006 6 tháng đầu
năm 2007
thuế
4,250 7,162 4,863
15. Chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp hiện hành
16. Chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp hoãn lại
17. Lợi nhuận sau thuế thu nhập
doanh nghiệp
4,250 7,162 4,863
18. Lãi cơ bản trên cổ phiếu 1.328(VND) 1,981(VND)
(Nguồn:Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2005,2006 Phòng tài chính
tổng hợp)
15
Qua hai bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Artexport qua 3
giai đoạn ta nhận thấy :
Thứ nhất : Về mặt số lượng, doanh thu trong năm 2006 giảm 4,04% so với
năm 2005 cụ thể doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ giảm từ 608,152
triệu VND xuống còn 583,571 triệu VND nguyên nhân là do trong năm 2006
doanh nghiệp phải chịu nhiều vụ kiện của các thị trường xuất khẩu lớn ở nước
ngoài đó là các vụ kiện bán phá giá làm hạn chế lượng xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ vào các thị trường này nhưng doanh thu nửa đầu năm 2007 đã
đạt được 52,02% của năm 2006 như vậy đã có dấu hiệu của sự phục hồi và
phát triển do công ty đã dần giải quyết được các vụ kiện và khai thác được các
thị trường mới. Tỷ suất lợi nhuận năm sau tăng so với năm trước. Lợi nhuận
sau thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2005: 4,250 triệu VND còn Lợi nhuận
sau thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2006 : 7,162 triệu VND, Lợi nhuận sau
thuế thu nhập doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 2007: 4,863 triệu VND, tỷ xuất
lợi nhuận năm 2006 tăng so với năm 2005 là do doanh thu từ hoạt động tài
chính của năm 2006 cao hơn rất nhiều so với năm 2005 và chi phí bán hàng
năm 2005 lại cao hơn so với năm 2006.Năm 2007 dự đoán doanh thu cao sẽ
Chi phí quản lý doanh nghiệp: 7,033 Triệu VND .
Chi phí khác: 5 Triệu VND .
Trong 6 tháng đầu năm 2007 tình hình các loại chi phí không tăng và
doanh thu vẫn đạt giá trị cao trong khi lạm phát đang tăng nhanh như vậy
cũng có thể coi là một thành công trong quản lý của công ty.
17
Nên lợi nhuận sau thuế của năm 2005 chỉ đạt 4,250,514,402 đồng (0,7% tổng
doanh thu), 2006 đạt 7,162,725,003 đồng (1,23% tổng doanh thu), nửa đầu
năm 2007 đạt 4,863,290,667 đồng (1,6% tổng doanh thu).
Thứ ba: Các khoản giảm trừ là không có nên không bị trừ vào doanh thu chiết
khấu, giảm giá, hàng trả lại Thuế TTĐB, thuế xuất khẩu…là công ty không
phải chịu.
Chi phí tăng bởi doanh thu tăng thì chi phí cũng sẽ tăng lên nhưng tỷ suất
phí lại giảm.Điều này cho thấy công ty đã quản lý hiệu quả các chi phí kinh
doanh của mình.
2. Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
2.1 - Mặt hàng xuất khẩu.
2.1.1- Mặt hàng thêu ren, may mặc.
Là mặt hàng có từ lâu đời (cách đây 350 năm) do ông tổ là Trần Quốc
Khải ở Quất Động Thường Tín Hà Tây sáng lập. Qua thời gian phát triển đến
nay mặt hàng này khá phổ bến trên mọi miền đất nước.
Giá trị đích thực của mặt hàng này đã được khẳng định tại nhiều thị
trường lớn như Nhật, Mỹ, Pháp, Italia, Tây Ban Nha…thu hút ngày càng
nhiều lao động có tay nghề, có khả năng sáng tạo, đem lại việc làm cho hàng
nghìn lao động. Mặt hàng thêu ren hứa hẹn sự phát triển không ngừng với
tiềm năng vô tận và đang được Công ty đầu tư để tạo ra một nét riêng cho
Artexport.
2.1.2- Nhóm mặt hàng sơn mài mỹ nghệ, gỗ, sản phẩm gỗ, đá.
18
Hàng sơn mài mỹ nghệ là mặt hàng xuất hiện đầu tiên trong lịch sử hình
Những năm đầu, thị trường tiêu thụ phần lớn là các nước thuộc hệ thống
XNCN. Khi thị trường các nước này bị khủng hoảng và thu hẹp lại, Công ty
đã đẩy mạnh việc chào bán sản phẩm thuộc khối TBCN. Bước đầu có Đức,
Pháp, Anh, Nhật, Đan Mạch, Úc về sau các thị trường ngày ngày càng được
mở rộng và đến nay là hầu khắp các châu lục: Hà Lan, Italia, Thuỵ Sỹ, Bỉ,
Hàn Quốc, Đài Loan, Niu Dilân, Xingapo, Angieri, Nam Phi…
Những năm gần đây, kim ngạch hàng gốm xuát khẩu có phần giảm sút do
chi phí đầu vào tăng cao và suy thoái kinh tế ở một số thị trường trọng điểm.
Nhằm duy trì mức tăng trưởng, Công ty đã đưa ra nhiều sản phẩm mới có
tính thẩm mỹ và cạnh tranh cao. Đó là các sản phẩm kết hợp với các chất liệu
khác: gốm thuỷ tinh, gốm mây tre, gốm sơn mài…Các sản phẩm này đã và
đang mang lại nhiều hợp đồng cho Công ty.
Sản phẩm gốm sứ khá đa dạng, phong phú, gồm:
+ Đồ gia dụng: Đĩa chậu, bát chén khay, ấm bình lọ…
+ Đồ thờ cúng: Chân đèn, chân nến lư hương
+ Đồ trang trí: Tượng nh? các loại…
20
Với đủ loại màu sắc văn hoa: Hoa văn thong, văn chải, văn in, văn vai
đắp nổi, văn chìm kết hợp…
2.1.5- Các mặt hàng khác
Những mặt hàng này gồm nông sản thực phẩm, tôn sắt mỹ nghệ, mùn cưa
xay…Ngoài mặt hàng bột Artesunate của Anh, đây là những mặt hàng có kim
ngạch trung bình hàng năm dưới 9% tổng kim ngạch xuất khẩu, có sự biến
động thất thường.
2.2 - Thị trường xuất khẩu
Có thể nói, công tác thị trường của Artexport trong những năm qua đã
được thành tích to lớn góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty phát triển.Từ chỗ chỉ có một thị trường duy nhất là Liên Xô và Đông
âu, đặc biệt là sau khi mất hẳn thị trường này, công ty không những đã trụ
vững mà còn mở rộng được thị trường ra gần 40 nước trên thế giới.Thị trường
cầu nhập khẩu hàng TCMN của Nhật Bản rất lớn (khoảng 2 tỷ USD/năm) vì
người Nhật có thói quen tặng quà cho nhau vào cá dịp lễ hội. Hàng gỗ và sản
phẩm TCMN xúât khẩu sang Nhật, chưa phát triển mạnh được ở thị trường
này trước sự cạnh tranh của hàng TCMN của Trung Quốc, Thái Lan cùng
nhiều nước ASEAN cả về giá cả và mẫu mã. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản
22
phẩm TCMN xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản không ổn định và chưa đạt
ngưỡng 1 triệu USD.
Thứ trưởng Bộ Công thương Lê Danh Vĩnh cho biết: “Từ trước tới nay,
Nhật Bản luôn là thị trường xuất khẩu chủ lực của mặt hàng thủ công mỹ
nghệ, chiếm tỷ trọng từ 10-29% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ cả nước. Tuy nhiên, con số trên chưa xứng với tiềm năng sẵn có và chưa
đáp ứng hết nhu cầu của người tiêu dùng Nhật Bản”.
Bảng 3: Gía trị và tỉ trọng các nước xuất khẩu trong thị trường Châu Á .
Đơn vị tính: USD
Thị
trường
Châu
Á
2004 2005 2006
Giá trị
Tỷ
trọng
Giá trị
Tỷ
trọng
Giá trị
Tỷ
trọng
Nhật
5,166,72
5
100.00
%
23
(Nguồn : Phòng Tài chính tổng hợp)
Theo bảng trên thì trong thị trường Chẩu Á đang dần trở thành thị trường
mục tiêu của Artexport. Thị trường Nhật bản vẫn đang là thị trường béo bở
nhất với giá trị xuất khẩu các năm đều đạt tỷ lệ cao và vẫn đang là thị trường
có tiềm năng nhất ở khu vực Châu Á giá trị xuất khẩu vào thị trường này luôn
đạt trên 1300000 USD qua các năm .Trong khi đó Ấn Độ và Thái Lan đang là
những thị trường tiềm năng có tốc độ tăng trưởng cao qua các năm , là những
thị trường béo bở nếu công ty tận dụng và khai thác hiệu quả .Hàn Quốc và
Đài Loan vẫn là những thị trường truyền thống cần được khai thác lâu dài của
công ty.Mức tiêu dùng ngày càng nhiều và người dân ngày càng ưa thích
những sản phẩm của công ty là nguyên nhân dẫn đến giá trị xuất khẩu những
mặt hàng này của công ty ngày càng tăng qua các năm.
2.2.2- Thị trường Tây Âu
Đây là thị trường đã phát triển khá cao. Các quốc gia trong khu vực này
hầu hết là các nước phát triển, có nền kinh tế ổn định, thu nhập bình quân đầu
người cao. Kim ngạch xuất của Công ty sang thị trường trong năm 2004 đạt
mức cao nhất (chiếm 59,84% tổng kim ngạch xuất khẩu tất cả các thị trường).
Tuy nhiên, trong năm 2005, 2006 xuất khẩu sang thị trường này cũng đã giảm
xuống tương đối (lần lượt là 48,63% , 42.23% tổng kim ngạch các thị trường).
Đó là do hậu quả của các vụ kiện bán phá giá của liên minh EU đối với một số
mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Những bạn hàng lớn nhất của Công ty
trong khu vực này là Bỉ, Ý , Tây Ban Nha, Hà Lan, Đức, Pháp, Anh. Đây là
những bạn hàng cực kỳ khó tính về chất lượng sản phẩm, độ đồng đều của sản
phẩm và tiến độ thực hiện hợp đồng.
24
Nha
602,586 9.43% 421,733 8.65% 380,654 8.13%
Hà Lan 382,450 5.98% 61,390 1.26% 302,299 6.46%
Đức 501,845 7.85% 308,525 6.33% 465,394 9.94%
Pháp 580,243 9.08% 418,625 8.58% 341,832 7.30%
Anh 157,364 2.46% 289,404 5.93% 217,856 4.65%
Các
nước
khác
184,047 2.88% 872,426 17.89% 46,141 0.99%
Tổng
kim
ngạch
6,390,21
2
100.00
%
4,877,19
7
100.00
%
4,680,19
8
100.00
%
(nguồn: Phòng Tài chính tổng hợp)
Thị trường Tây Âu với các khách hàng truyền thống là Bỉ , Italya, Pháp ,
Đức, Hà Lan và Anh đang đem lại cho công ty nguồn thu mỗi năm vào
khoảng 5 triệu USD tốc độ tăng trưởng ở các thị trường này giai đoạn gần
đây không được khả quan, như đã nói ở trên thì phần lớn nguyên nhân là do