Nguyễn Thị Thanh Mã số:
VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC VÀ VĂN HÓA NGHỀ NGHIỆP
CỦA LUẬT SƯ VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
I. Vấn đề đạo đức và văn hóa nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam.
1. Vấn đề đạo đức của Luật sư Việt Nam:
Đạo đức là hình thái đặc biệt về nhận thức của con người về các phạm trù như:
chính - tà, thiện - ác, tốt - xấu, phải - trái, cao thượng - hèn hạ trong ứng xử của mình
và là một trong những phương thức chủ yếu để điều chỉnh hành vi của con người
trong xã hội với sự trợ giúp của hệ thống các quy phạm - chuẩn mực.
Đạo đức nghề nghiệp của Luật sư bao gồm những quy định chung về đạo đức
của bản thân Luật sư trong các mối quan hệ với khách hàng, cơ quan nhà nước, và
đồng nghiệp của Luật sư.
Dù làm bất cứ nghề nghiệp gì, ai trong số những con người trong xã hội cũng
nên giữ cho mình cái tâm trong sáng, gìn giữ phẩm hạnh của mình, đó chính là đạo
đức. Cùng với quy định về Nhận thức được sự cần thiết phải chuẩn hóa về mặt đạo
đức của Luật sư, ngày 5 tháng 8 năm 2002 Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết
định số 356/2002/QĐ-BTP cho ra đời bản Quy tắc mẫu về đạo đức nghề nghiệp luật
sư, được thông qua ngày 29 tháng 5 năm 2004 tại Hội Nghị đoàn Luật sư Thành phố
Hà Nội. Là luật sư cần phải tuân theo những quy tắc về đạo đức nghề nghiệp của
người Luật sư:
- Mỗi Luật sư phải ý thức được sứ mệnh của mình, biết giữ gìn phẩm
giá và danh dự nghề nghiệp. Tạo niềm tin và sự kính trọng trước tiên từ khách hàng,
từ đó tôn vinh nghề Luật sư.
- Trước khi là một Luật sư thì chính bản thân con người đó phải rèn
luyện cho bản thân đức tính độc lập, trung thực, khách quan, nhiệt tình trong công
việc. Không ngại khó, ngại khổ, không dồn trách nhiệm cho đồng nghiệp, cho người
khác.
- Là người thừa hành pháp luật, am tường các quy định của pháp luật,
Luật sư phải là người tuân thủ pháp luật, không được trực tiếp hoặc gián tiếp làm bất
Trang 1
- Đạo đức của mỗi Luật sư thể hiện nhiều trong mối quan hệ giữa Luật
sư với những đồng nghiệp của mình. Đây là mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau
giữa các Luật sư nhằm nâng cao hoạt động nghiệp vụ và phục vụ khách hàng được tốt
hơn. Từ những lý do đó, rất cần sự đoàn kết giữa các Luật sư. Vì vậy, Luật sư không
được làm mất uy tín của nhau bằng việc tự đề cao mình và phải thận trọng trong việc
phê phán hoặc chỉ trích Luật sư khác. Quan hệ đồng nghiệp là lĩnh vực được điều
chỉnh bởi quy tắc đạo đức nghề nghiệp của Luật sư và nó thể hiện được tính tự quản
trong hoạt động nghề nghiệp của Luật sư.
- Nghề luật sư là một nghề đặc thù đòi hỏi người hành nghề phải có
trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm và những hiểu biết xã hội. Luật sư phải tự ý
thức được việc học hỏi kinh nghiệm và trau dồi kiến thức là điều cần thiết. Phải dùng
Trang 2
Nguyễn Thị Thanh Mã số:
những hiểu biết của mình để tư vấn và phục vụ khách hàng. Có như vậy thì đội ngũ
Luật sư mới được xã hội đánh giá cao. Khi chúng ta có nhiều đoàn luật sư có nhiều
luật sư kinh nghiệm và uy tín, hẳn nhiên sẽ được xã hội nhìn nhận và tôn trọng.
- Luật sư là người hoạt động khoa học pháp lý ở vị trí người hướng dẫn
pháp luật và đạo lý cho người khác, luôn luôn lấy việc bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải
và công bằng xã hội làm mục tiêu cao quý.
- Cùng với vai trò là người hướng dẫn pháp luật, vai trò của Luật sư
cũng không thể thiếu trong hoạt động phản biện. Sức mạnh của Luật sư là những lý
luận mang tính phản biện. Hoạt động của luật sư cần bảo đảm sao cho tính chất phản
biện của mình có khoảng cách rõ nét không để lẫn lộn với ngụy biện. Đó cũng là nền
tảng của đạo đức nghề nghiệp luật sư.
Cùng với những quy định về nghĩa vụ của Luật sư được quy định tại điều 9 của
Luật Luật sư 2006, bản Quy tắc mẫu về đạo đức nghề nghiệp luật sư đã tạo ra những
chuẩn mực quy định rõ điều Luật sư được làm và điều Luật sư không được làm.
2. Vấn đề văn hóa nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam:
- Nghề Luật sư là nghề cao quý, để duy trì và khẳng định điều này, mỗi
con người trong nghề Luật sư cần phải phát huy lối sống có văn hóa, thể hiện trong
mình tiếp xúc, nên tỏ thái độ lịch sự trước mọi người. Nét văn hóa trong nghề nghiệp
của Luật sư thể hiện trong kỹ năng giao tiếp khéo léo của Luật sư. Việc tiếp xúc với
khách hàng không chỉ đòi hỏi kỹ năng giao tiếp của Luật sư, mà qua đối thoại, Luật
sư có thể hiểu rõ thêm hoàn cảnh nhân thân của khách hàng, tạo điều kiện để khách
hàng hiểu thêm khả năng và phẩm chất của Luật sư và nghề Luật sư.
- Theo từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1997 của Viện ngôn ngữ học,
thù lao được hiểu là: “Thù lao là việc trả công để bù đắp vào lao động đã bỏ ra, căn
cứ vào khối lượng công việc hoặc theo thời gian lao động, có chế độ thù lao thích
đáng”. Khi tiếp xúc với khách hàng, trao đổi về yêu cầu của khách hàng, vấn đề thù
lao của Luật sư, Luật sư nên nói tế nhị, minh bạch với khách hàng, không nên thể hiện
thô thiển, làm mất thiện cảm của khách hàng đối với Luật sư và nghề Luật. Vấn đề
thù lao Luật sư nên trao đổi với khách hàng trên tinh thần thỏa thuận, trao đổi thống
nhất, tự nguyện giữa Luật sư và khách hàng.
- Khi đi liên hệ công việc giải quyết cho khách hàng, Luật sư phải tiếp
xúc với Cơ quan Nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng; Luật sư phải nghiêm chỉnh
chấp hành nội quy, quy chế làm việc của cơ quan Luật sư đến liên hệ. Phải có thái độ
lịch sư, tôn trọng cán bộ, công chức Nhà nước khi làm nhiệm vụ của mình. Đặc biệt,
đối với Thẩm phán, khi tiếp xúc Luật sư nên tỏ thái độ kính trọng, lịch sự, không nên
quá thân mật, tránh gây những hiểu lầm cho mọi người.
- Nét văn hóa của nghề nghiệp Luật sư thể hiện nhiều trong quan hệ của
Luật sư với đồng nghiệp. Luật sư phải luôn luôn duy trì quan hệ tốt với đối tác, nếu
điều đó không ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng và có thể tạo thiện chí của
đối tác trong những vụ việc sau này. Không nên có ý kiến mang tính chất xúc phạm
đến một Luật sư khác, phải có thái độ thân ái và tôn trọng đồng nghiệp. Trong quan
hệ của mình các Luật sư nên phát huy tính đoàn kết, từ đó cùng nhau bổ trợ kiến thức
nâng cao khả năng của mỗi người. Đây là nét văn hóa rất cần thiết trong nghề Luật sư.
- Trang phục là vẻ mỹ quan bên ngoài khi tiếp xúc giữa con người với
con người. Trang phục của Luật sư rất quan trọng khi tiếp xúc với khách hàng, với cơ
quan Nhà nước, và đặc biệt quan trọng trong vai trò của người phản biện. Do đó, Luật
sư phải lựa chọn trang phục sao cho phù hợp với từng ngữ cảnh xuất hiện, phù hợp
có sự khác nhau, không ai có thể đánh đồng được.
Người làm nghề luật sư cũng giống như mọi người làm nghề khác ở chỗ:
có học, được đào tạo thành người có đủ phẩm chất. Chân, Thiện, Mỹ, cũng đòi hỏi có
khối óc thông minh và tấm lòng ngay thẳng, nhân hậu. Nhưng nghề luật sư lại có đặc
thù riêng, đó là phải gắn liền với mọi lĩnh vực pháp luật của Nhà nước. Các ngành
nghề khác chỉ quan hệ đến một vài lĩnh vực pháp luật có liên quan mà thôi.
Ở Việt Nam hiện nay nghề Luật sư đang dần khẳng định được vai trò
quan trọng, tuy nhiên trong các văn bản pháp lý, cũng như quan niệm của cơ quan nhà
nước, cơ quan tiến hành tố tụng và quan niệm của Doanh nghiệp, của người dân thì
vai trò Luật sư chưa được coi trọng xứng với tầm thực tế của Luật sư. Đó cũng là một
trong những lý do ảnh hưởng đến đạo đức và văn hóa nghề nghiệp của Luật sư Việt
Nam.
Trang 5
Nguyễn Thị Thanh Mã số:
- Theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Tố tụng Hình sự của nước Cộng
Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì người bào chữa có thể là:
+ Luật sư;
+ Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
+ Bào chữa viên nhân dân.
Trong số những người tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa nói
trên, có thể nói Luật sư là người tham gia có hiệu quả nhất. Song, trên thực tế, Luật sư
muốn hoàn thành công việc bào chữa cho khách hàng của mình, tham gia đầy đủ
trong các giai đoạn tố tụng đã gặp rất nhiều khó khăn từ phía các cơ quan tiến hành tố
tụng tạo ra. Do đó, có nhiều Luật sư phải chọn “con đường phụ” chỉ để được gặp
khách hàng của mình. Điều này, đã vi phạm “Những việc luật sư không được làm
trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan Nhà nước khác” theo
Quy tắc đạo đức nghề nghiệp Luật sư.
Trên thực tế, ở nơi này, nơi khác vẫn còn có những cái nhìn không mấy
thiện cảm và tôn trọng đối với luật sư. Khách quan mà nói, sở dĩ có việc nhìn nhận
không đúng mực đối với luật sư, xuất phát từ hai nguyên nhân cơ bản sau đây:
giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.
Điều quy định này là cơ sở pháp lý bảo đảm tính chất phản biện của luật
sư trong hoạt động tham gia tố tụng hình sự. Tiếc rằng trong xã hội có một số ít nhà
báo chưa hiểu rõ tính chất phản biện của luật sư là nghĩa vụ phải làm. Do đó, khi thấy
luật sư đưa ra những biện luận nhằm phản bác lại những gì không đúng quy định của
pháp luật thì họ công kích luật sư. Có tình trạng này
là do sụ lẫn lộn giữa việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo với việc
bao che hành vi phạm tội của họ.
- Quan điểm của người Việt Nam rất ngại đụng chạm tới quy trình tố
tụng, do đó số lượng người dân tự đi thưa kiện còn ít so với những sự việc xảy ra
trong thực tế. Điều này dẫn đến việc Luật sư cũng ít khách hàng, nên khi có khách
hàng, giữa các Luật sư thường có tâm lý tranh giành khách hàng của nhau. Đây là một
thực tế đáng buồn, làm cho tính đoàn kết của Luật sư và đồng nghiệp bị ảnh hưởng rất
lớn.
- Có nhiều Luật sư vì muốn gỡ tội cho thân chủ của mình, khi phản
biện tại phiên tòa luôn khẳng định thân chủ của mình không có tội, dù thân chủ đã
phạm những tội nghiêm trọng. Rõ ràng, trong những trường hợp này có thể do trình
độ, năng lực yếu kém của Luật sư nên Luật sư đã không nhận thấy thân chủ của mình
có tội. Hoặc có nhận thấy rõ thân chủ có tội nhưng vì muốn bảo vệ thân chủ nên phản
biện thân chủ không có tội. Trong trường hợp này nếu biết rõ thân chủ phạm tội, là vị
trí của người Luật sư nên phản biện sao cho thân chủ của mình được giảm nhẹ tội,
chứ không nên khẳng định thân chủ không có tội. Do đó, không phải Luật sư nào
cũng “bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng”.
- Vì muốn thắng kiện, không ít Luật sư bất chấp đạo đức nghề nghiệp,
đã cùng khách hàng thực hiện hành vi bao che tội phạm. Tuy nhiên vấn đề này cũng
cần nhìn nhận ở hai góc độ:
+ Một là: Tại quy tắc 9 (Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của Luật
sư) quy định: “Luật sư không được tiết lộ những điều liên quan đến vụ việc mà không
được khách hàng đồng ý”. Theo đó, Luật sư phải có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin cho
khách hàng.
những người trong nghề Luật sư phải thực sự yêu nghề nghiệp mình đã chọn lựa. Khi
lòng yêu nghề và kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp đan xen, hòa quyện sẽ tạo nên
nét văn hóa của nghề Luật sư. Mỗi Luật sư ai cũng phải có trách nhiệm phát huy và
duy trì những điểm sáng của nghề, phải có ý thức giữ gìn đạo đức, phẩm giá của
mình, giữ mối quan hệ tốt với mọi người, với đồng nghiệp.
Đối với các cơ quan nhà nước, với những con người trong xã hội, điều quan
trọng nhất là vai trò của các luật sư phải được nhìn nhận đúng đắn bởi nhà nước. Nếu
từ cơ chế, chính sách của Nhà nước không có cái nhìn đúng đắn về vị thế của Luật sư
thì ở xã hội Luật sư cũng không được coi trọng.
Nên Luật hóa văn hóa tư pháp nói chung và văn hóa nghề nghiệp Luật sư để
Luật sư là nghề được khẳng định vị thế của mình.
Cũng cần phải có “Ngày Luật sư” để kỷ niệm và tạo cơ hội cho giới Luật sư
được tăng thêm điều kiện gặp gỡ và trao đổi kinh nghiệm. Nghề luật sư cũng cần có
đồng phục cho riêng mình để tạo thế trang nghiêm khi hành nghề, điều này cũng rất
cần thiết và các nước trên thế giới cũng đã có quy định về đồng phục Luật sư.
Trang 8
Nguyễn Thị Thanh Mã số:
Việc đào tạo nghề luật sư là một trong những giải pháp hoàn thiện lực lượng
bổ trợ tư pháp. Nên bổ sung thêm thời gian và những buổi ngoại khóa để học thêm về
đạo đức Luật sư và văn hóa nghề nghiệp Luật sư. Thông qua đó, góp phần đảm bảo
việc luật sư thực hiện tốt nhiệm vụ đối với xã hội.
Với tư cách là một bên tham gia trong quá trình tranh tụng, nên mỗi luật sư
đều phải không ngừng rèn luyện, học hỏi để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ tranh tụng
của mình. Mặt khác, luật sư muốn nâng cao uy tín của mình, nâng cao chất lượng
tranh tụng, thì không thể không ngừng học hỏi, cập nhật kiến thức. Chỉ có như vậy,
thì luật sư mới có thể bắt kịp được với đòi hỏi ngày càng cao của xã hội.
Nghề luật sư là “nghề nói”, “khôn ngoan ra cửa quan mới biết” do đó, cho
dù tham gia tranh tụng hay tư vấn pháp luật thì việc trình bày của luật sư là “tối quan
trọng”. Phải xem việc rèn luyện kỹ năng nói “hùng biện” là một nội dung quan trọng
trong công tác đào tạo nghề luật sư. Điều này, không chỉ có ý nghĩa khi luật sư nói
của nghề, vừa giữ được phẩm giá của mình. Nếu Luật sư ý thức được thì khi đó mới
thực sự có nét văn hóa trong nghề Luật sư.
Trang 10