TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHẬN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2010-2014
ĐỀ TÀI:
BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT TRONG
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
ThS. KIM OANH NA
Bộ môn: Luật Thƣơng Mại
Sinh viên thực hiện:
TÊN: TRẦN BẢO SƠN
MSSV: 5106089
LỚP: Thƣơng Mại 2 – K36
Cần Thơ, tháng 11/2013
LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ,
giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong suốt thời gian từ
khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan
tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô Khoa Luật – Trường
Đại học Cần Thơ đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức
quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường.
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
1.2. Đặc điểm của quyền con ngƣời và quyền của ngƣời khuyết tật……………….....7
1.2.1. Đặc điểm của người khuyết tật……………………………………………..7
1.2.2. Đặc điểm quyền con người………………………………………………..10
1.3. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật của ngƣời khuyết tật và sự nhìn
nhận của xã hội…………………………………………………………………………12
1.3.1. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật……………………………...12
1.3.2. Nhìn nhận của xã hội về người khuyết tật……………………………….13
1.4. Mục đích và ý nghĩa vấn đề nghiên cứu ngƣời khuyết tật………………………16
1.4.1. Mục đích ra đời của Luật người khuyết tật Việt Nam…………………...16
1.4.2. Ý nghĩa khi Luật người khuyết tật ra đời………………………………...16
1.5. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế về quyền con ngƣời….17
Chƣơng 2: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ
QUYỀN CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT……………………………………………….19
2.1. Pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền của ngƣời khuyết tật………………………..19
2.1.1. Pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền của người khuyết tật theo Công ước
quyền của người khuyết tật năm 2007…………………………………………….……19
2.1.1.1. Nhóm quyền được sống và được đối xử bình đẳng…………........19
2.1.1.2. Nhóm quyền được đảm bảo tự do cơ bản………………………...21
2.1.1.3. Nhóm quyền được bảo vệ……………………………………..…..24
2.1.1.4. Nhóm quyền được tham gia…………………………………..…..26
2.1.1.5. Nhóm quyền được hỗ trợ đặc biệt, có cơ hội và được phát bằng
chính công việc do bản than tự do lực chọn……………………………………...28
2.1.2. Những văn bản luật quốc tế liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền của người
khuyết tật ………………………………………………………………………………..32
2.2. Quyền của ngƣời khuyết tật trong pháp luật Việt Nam…………………………35
2.2.1. Quyền của người khuyết tật theo Luật người khuyết tật Việt Nam năm
2010………………………………………………………………………………………35
2.2.2. Hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người khuyết tật…....39
Tôn trọng, bảo vệ quyền con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi
chính sách quốc gia, từ lâu đã trở thành giá trị thiêng liêng và là mục tiêu tốt đẹp mà mỗi
quốc gia, dân tộc và nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới luôn hướng tới. Nói đến con
người thì phải kể đến một trong những nhóm người yếu thế dễ bị tổn thương đặc biệt cần
được bảo vệ đó là người khuyết tật, bảo vệ quyền của người khuyết tật cũng là một nghĩa
cử cao đẹp.
Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hay
nhiều chức năng nào đó của bộ phận cơ thể bị suy giảm. Do khuyết tật nên họ gặp nhiều
khó khăn trong sinh hoạt, học tập, lao động và tham gia các hoạt động xã hội. Do đó, đảm
bảo sự bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật là một vấn
đề được các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng quan tâm từ rất sớm.
Bởi vậy, vào ngày 13 tháng 12 năm 2006 Đại hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã thông
qua Công ước về quyền của người khuyết tật và đến ngày 30 tháng 03 năm 2007 Công
ước đã mở ra cho các nước tham gia ký kết. Đây là bản Công ước về nhân quyền đầu tiên
của thế kỷ XXI - một công cụ pháp luật hữu hiệu đầu tiên bảo vệ quyền của người khuyết
tật và cũng được xem là hành động cụ thể mà quốc tế đặc biệt quan tâm đối với người
khuyết tật.
Theo đó Công ước đã làm sáng tỏ rằng các quốc gia không được phân biệt đối xử
với người khuyết tật, cần tạo một môi trường để người khuyết tật có thể hưởng thụ sự
bình đẵng trong xã hội.
Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 điều khẳng định người khuyết tật là
công dân, thành viên của xã hội, được chung hưởng thành quả của xã hội. Hiến pháp
1992 cũng khẳng định rằng: “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật
được học văn hóa và học nghề phù hợp”. Thể chế hóa các quan điểm của Đảng, căn cứ
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
1
SVTH: Trần Bảo Sơn
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
2
SVTH: Trần Bảo Sơn
Bảo vệ quyền của ngƣời khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
Nam thì quyền của người khuyết tật được bảo vệ thông qua Luật người khuyết tật năm
2010 và các văn bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề quyền của
người khuyết tật.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu là bảo vệ quyền của người khuyết tật
trong pháp luật lao động mà ở đây đối tượng chủ yếu là người khuyết tật bẩm sinh với
các vấn đề về thực thi quyền của người khuyết tật và thực trạng bảo vệ quyền của người
khuyết tật.
3. Mục đích nghiên cứu
Để làm sáng tỏ các vấn đề về bảo vệ quyền của người khuyết tật trong pháp luật
quốc tế nói chung cũng như pháp luật Việt Nam nói riêng, người viết chọn đề tài này làm
luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn tìm hiểu, phân tích, đánh giá quá trình bảo
vệ người khuyết tật.
Bên cạnh đó người viết mong muốn góp phần vào việc nhìn nhận vấn đề bảo vệ
quyền của người khuyết tật sau đó đưa ra những giải pháp để bảo vệ quyền của người
khuyết tật tốt hơn và trên hết là vấn đề việc làm trong lĩnh vực lao động của người khuyết
tật trong quá trình phát triển của xã hội.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tác giả có kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như:
phân tích, so sánh, đánh giá, diễn dịch, tổng hợp…đồng thời có sử dụng phương pháp liệt
kê các văn bản pháp luật có liên quan đến việc bảo vệ quyền của người khuyết tật.
5. Bố cục luận văn
Ngoài phần lời nói đầu, lời cảm ơn, nhận xét của giáo viên, danh mục tài liệu tham
nghĩa các quyền con người có sự khác nhau giữa các quốc gia, các dân tộc. Có quan điểm
cho rằng, quyền con người là đặc quyền tự nhiên “thiên phú” hoặc quyền con người là
món quà do các thế lực siêu nhiên như thượng đế ban thưởng hoặc quyền con người là
sản phẩm lịch sử; quyền con người là quyền đạo đức thuộc về mọi người một cách ngang
nhau...Các quan điểm trên chỉ phản ánh được một mặt, một trạng thái hoặc một cách tiếp
cận nào đó về quyền con người.
Bên cạnh đó còn có quan điểm coi quyền con người là quyền hiển nhiên xuất hiện
một cách bẩm sinh cá thể là con người cho nên nó phụ thuộc vào bất cứ điều kiện truyền
thống, văn hóa, cộng đồng, nhà nước nào. Quan điểm khác coi quyền con người là quyền
pháp lý vì cho rằng quyền con người phải do các nhà nước xác định và cụ thể hóa trong
các quy phạp pháp luật.
1
2
Điều 5, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948.
United Nations: Human Rights: Question and Answers, Geneva, 1994.
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
4
SVTH: Trần Bảo Sơn
Bảo vệ quyền của ngƣời khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
Chính vì vậy, không thể đưa ra một khái niệm khoa học hoàn chỉnh về quyền con
người được cộng đồng quốc tế ủng hộ tuyệt đối. Tuy nhiên, những quan điểm trên đều có
nội dung chung không thể phủ nhận đó là quyền con người là giá trị chung của nhân loại,
vừa có tính phổ biến, vừa có tính đặc thù, quyền con người vừa bao hàm cả quyền của
năm 1996, Tr.7.
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
5
SVTH: Trần Bảo Sơn
Bảo vệ quyền của ngƣời khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
sở bình đẳng với những thành viên khác, cũng như nhận diện và gạt bỏ được mọi trở ngại
và rào cản đối với khả năng tiếp cận.
Như vậy theo Công ước quyền của người khuyết tật ta có thể đưa ra khái niệm bảo
vệ quyền của người khuyết tật là việc tạo ra cơ hội để tập trung, thúc đẩy khả năng tiếp
cận và gạt bỏ tất cả các loại rào cản trong xã hội đối với người khuyết tật, đồng thời gắn
kết người khuyết tật tạo cơ hội cho người khuyết tật phát triển và hòa nhập vào cộng
đồng.
1.1.3. Khái niệm người khuyết tật
Khi luật pháp được xây dựng nhằm loại bỏ những bất công mà người khuyết tật
đang phải gánh chịu, xóa bỏ các cơ chế khiến người khuyết tật bị tách biệt ra ngoài xã
hội, đồng thời tăng cường các cơ hội việc làm bình đẳng cho họ, thì một vấn đề được đặt
ra là làm thế nào để xác định ai là người được hưởng những quyền mà luật pháp đem lại.
Nói một cách khác: ai được xem là người khuyết tật.
Như vậy, thì cần phân biệt hai luận điểm trái ngược nhau. Một bên quan niệm vấn
đề khuyết tật là ở tại chính con người đó và chú trọng rất ít hoặc không để ý gì đến các
yếu tố về môi trường xã hội và môi trường vật thể xung quanh người đó. Quan điểm này
được gọi là quan điểm mô hình khuyết tật cá nhân hay mô hình khuyết tật dưới góc độ y
tế. Một cách nhìn khác lại cho rằng khuyết tật là một sản phẩm của xã hội: vấn đề khuyết
tật bắt nguồn từ việc môi trường vật thể và môi trường xã hội không đáp ứng được những
nhu cầu của từng cá nhân hoặc các nhóm đối tượng cụ thể. Theo mô hình xã hội về
tật Việt Nam đã đưa ra khái niệm người khuyết tật dựa vào mô hình xã hội, tuy nhiên còn
chung chung so với khái niệm trong Công ước về quyền của người khuyết tật.
Thông qua quy định của các hệ thống pháp luật khác nhau cho thấy để đưa ra một
khái niệm thuyết phục và thống nhất về người khuyết tật là không dễ dàng. Việc nghiên
cứu để đưa ra một định nghĩa quốc tế về người khuyết tật là một thách thức do những mô
hình khuyết tật chịu ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa, điều kiện kinh tế – xã hội và các tiêu
chí xác định khuyết tật. Với cách tiếp cận đó, có thể khái niệm người khuyết tật như
sau:“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị
suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của
người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác”.
Vì thế nói về khái niệm người khuyết tật, dù dùng một hay nhiều định nghĩa, điều
nhất thiết phải phản ánh một thực tế là người khuyết tật có thể gặp các rào cản do yếu tố
môi trường hoặc con người trong khi tham gia vào thị trường việc làm mở.
Bên cạnh đó, cần thận trọng lựa chọn các thuật ngữ để tránh sử dụng ngôn từ
khiến người khuyết tật cảm thấy bị xúc phạm và họ phải được đảm bảo rằng, họ có quyền
và trách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sống như bất cứ công dân nào với tư
cách là các quyền của con người.
1.2. Đặc điểm của quyền con ngƣời và quyền của ngƣời khuyết tật
1.2.1. Đặc điểm của người khuyết tật
Người khuyết tật trước hết là những con người nên họ mang những đặc điểm
chung về mặt kinh tế – xã hội, đặc điểm tâm sinh lý như mọi người khác trong xã hội.5
4
“Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007”, Văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt
Nam (NCCD), Nxb Lao động-Xã hội, năm 2008.
5
“Quản lý giáo dục hòa nhập”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Phụ nữ, năm 2010, tr28-39.
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
khó khăn cho người khuyết tật trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày,
trong giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, kết hôn, sinh con và tham gia các hoạt
động xã hội. Để khắc phục những khó khăn này, người khuyết tật chủ yếu dựa vào gia
đình, nguồn giúp đỡ chính đối với họ. Những khó khăn càng trở nên trầm trọng hơn do
thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với người khuyết tật.
6
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam, trình độ học vấn của người khuyết tật ở Việt Nam rất thấp: 41% số
người khuyết tật chỉ biết đọc biết viết; 19,5% học hết cấp một; 2,75% có trình độ trung học chuyên nghiệp hay
chứng chỉ học nghề, và ít hơn 0.1% có bằng đại học hoặc cao đẳng. Nhìn chung, chỉ có khoảng 3% được đào tạo
nghề chuyên môn, và chỉ hơn 4% người có việc làm ổn định. Hiện có hơn 40% người khuyết tật sống dưới
chuẩn nghèo (Bộ LĐTBXH, 2005).
7
Ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO-International Labour Organization) có khoảng 386 triệu người trên
thế giới trong độ tuổi lao động bị khuyết tật.
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
8
SVTH: Trần Bảo Sơn
Bảo vệ quyền của ngƣời khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật:
Khuyết tật được phân loại dựa theo các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên
cứu nhưng nói chung thường dựa trên tiêu chí của sự “Khiếm khuyết bộ phận cơ thể hoặc
suy giảm chức năng”. Ở Việt Nam, việc phân loại người khuyết tật dựa trên quy định về
dạng tật và mức độ khuyết tật8. Theo đó các dạng tật bao gồm: Khuyết tật vận động;
khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ;
“Quản lý giáo dục hòa nhập”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Phụ nữ, năm 2010, tr. 32-33
9
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
9
SVTH: Trần Bảo Sơn
Bảo vệ quyền của ngƣời khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
giác bị phá hủy. Ngôn ngữ, tư duy, hành vi, cách ứng xử của những người này cũng
giống người bình thường.
Khuyết tật trí tuệ: Xét về mức độ, đây là nhóm khuyết tật thường chịu nhiều
sự thiệt thòi và khó khăn trong cuộc sống. Khuyết tật về trí tuệ được xác định khi11: chức
năng trí tuệ dưới mức trung bình khi chỉ số thông minh đạt gần 70 hoặc thấp hơn 70 trên
một lần thực hiện trắc nghiệm cá nhân; bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết các chức năng
như giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kỹ năng xã hội, cá nhân, sử dụng các tiện
ích trong cộng đồng, tự định hướng, kỹ năng học đường, làm việc, giải trí, sức khỏe và an
toàn; tật xuất hiện trước 18 tuổi. Người khuyết tật về trí tuệ có nhiều hạn chế làm ảnh
hưởng đến cuộc sống bình thường của họ và người thân cả về trí tuệ. Về trí nhớ gặp khó
khăn về trí nhớ cả ngắn hạn và dài hạn, dễ quên những gì gần gũi với cuộc sống và không
gắn với nhu cầu bản thân; về chú ý phần đông người khuyết tật có khó khăn khi phải tập
trung và duy trì sự chú ý vào một công việc nào đó, đặc biệt là chú ý đến lời nói.
Trên đây là những nhóm người khuyết tật chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng số người
khuyết tật. Xét ở góc độ đặc điểm về tâm, sinh lý cho thấy tính đa dạng của khuyết tật và
rõ ràng việc đảm bảo các quyền của họ dưới phương diện pháp lý cũng cần tính đến yếu
tố đặc thù của các dạng khuyết tật khác nhau.
Ngoài các nhóm trên còn có những nhóm người khuyết tật như: người bị rối loạn
hành vi cảm xúc, người mắc hội chứng tự kỉ, người bị rối loạn ngôn ngữ, người đa tật…
tội ác thì có thể bị tước quyền tự do.13
Tính không thể chuyển nhượng của quyền con người mang nguồn gốc tự nhiên.
Quyền con người là những quyền không thể ban phát, chuyển nhượng. Nó không phụ
thuộc vào phong tục, tập quán hay ý chí của cá nhân, tổ chức nào, không thể bị tước đoạt
hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất kỳ chủ thể nào, kể cả nhà nước. Con người với tư
cách là một cá nhân trong xã hội, họ có khả năng tư duy và hành động độc lập, nhờ đó mà
có khả năng tự quyết định việc thực hiện quyền của mình, thực hiện những điều tốt nhất
cho mình mà không xâm phạm đến quyền của người khác.
Tính không thể phân chia: đặc điểm này có nghĩa là các quyền con người điều có
tầm quan trọng như nhau, về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao
hơn quyền nào, vì tất cả quyền con người điều có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo
đảm nhân phẩm và giá trị con người.14
Quyền con người không phải chỉ một quyền mà nó bao gồm tất cả các quyền như:
quyền sống, ăn, mặc, cư trú, học tập,… Nếu như một quyền nào của người bị hạn chế hay
bị mất đi sẽ ảnh hưởng đến các quyền khác.
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: thể hiện ở chổ việc đảm bảo các quyền con
người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự
vi phạm một quyền sẽ trực tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc đảm bảo các quyền khác
và ngược lại, tiến bộ trong việc đảm bảo một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động
tích cực đến việc đảm bảo các quyền khác.15
Thực tế cho thấy, trong hầu hết các trường hợp, rất khó thậm chí là không thể thực
sự thành công trong việc bảo đảm riêng một quyền con người nào đó mà bỏ qua các
quyền khác.
Tóm lại, việc đảm bảo các quyền con người không chỉ là mối quan tâm ở một
quốc gia, một khu vực mà là sự quan tâm của mỗi con người và toàn thể nhân loại. Để
quyền con người được phát huy, cần phải tạo ra những điều kiện và biện pháp tốt để con
13
Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, “Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người”, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2009, tr. 22.
dinh dưỡng.
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm khuyết tật bẩm sinh:
Khuyết tật bẩm sinh hay còn gọi là dị tật bẩm sinh là các bất thường thai nhi khi
sinh ra về cấu trúc, chức năng hay chuyển hóa. Một trẻ sơ sinh có thể mắc một hay nhiều
khuyết tật. Khuyết tật bẩm sinh có thể gây ra thay đổi bề ngoài của trẻ như sứt môi, hở
hàm ếch hay ảnh hưởng đến các cơ quan chức năng như tim, thận, gan, não, ống tủy
sống, xương, cơ, hệ nội tiết hay tiêu hóa.17
Bên cạnh đó còn có khái niệm: Khuyết tật bẩm sinh hay dị tật bẩm sinh là tên gọi
chung chỉ các bất thường của thai nhi . Một trẻ sơ sinh có thể mắc một hay nhiều khuyết
tật. Khuyết tật bẩm sinh có thể được phát hiện sớm trong khi mang thai, hay lúc sinh,
hoặc thậm chí nhiều năm sau sinh. Khuyết tật bẩm sinh có thể gây ra thay đổi bề ngoài
của trẻ, hay ảnh hưởng đến các cơ quan chức năng. Các khuyết tật được phát sinh bởi
một lỗi trong quá trình hình thành và phát triển của các cơ quan chức năng. Phần lớn các
khuyết tật bẩm sinh xảy ra trong thời kỳ 3 tháng đầu thai nghén.18
16
Mỹ Linh, />Thư viện sức khỏe khuyết tật bẩm sinh, [truy cập ngày 06/10/2013].
18
Bác sỹ Nguyễn Công Nghĩa, />/456/dnnprintmode/true/Default.aspx?SkinSrc=%5BG%5DSkins%2F_default%2FNo+Skin&ContainerSrc=%5BG
%5DContainers%2F_default%2FNo+Container, [truy cập ngày 06/10/2013].
17
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
12
SVTH: Trần Bảo Sơn
Bảo vệ quyền của ngƣời khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
1.3.2. Nhìn nhận của xã hội về người khuyết tật
Để thay đổi cuộc sống người khuyết tật trước tiên cần bắt đầu từ thay đổi trong
nhận thức của xã hội mà phải kể đến đầu tiên đó là sự kỳ thị, sự kỳ thị của xã hội là rào
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
13
SVTH: Trần Bảo Sơn
Bảo vệ quyền của ngƣời khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
cản vô hình nhưng tàn nhẫn đẩy người khuyết tật ra bên lề của cuộc sống. Điều đáng nói,
kỳ thị không phải là vấn đề thuộc vật chất, của khoa học kỹ thuật mà nó là vấn đề thuộc
tâm lý và sự ý thức sâu xa giá trị sống của con người.19
Trong một thời gian dài người khuyết tật mới chỉ được coi là đối tượng của tình
thương, việc bảo vệ, hỗ trợ họ chủ yếu dựa trên cách tiếp cận của lòng nhân đạo chứ
không bắt nguồn từ nhận thức rằng họ cũng là những chủ thể của quyền, còn Nhà nước,
xã hội và các cá nhân khác là những chủ thể có nghĩa vụ phải tôn trọng và đảm bảo thực
hiện các quyền ấy và họ đang phải hứng chịu một cái nhìn không mấy đẹp đẽ của những
người bình thường. Họ bị kì thị từ trong gia đình đến ra ngoài xã hội. Bản thân người
khuyết tật đã thiệt thòi rất nhiều về tư chất lẫn sức khoẻ nên tâm tưởng rất tự ti và nhạy
cảm. Một hình hài không nguyên vẹn đáng lẽ phải được đón nhận sự yêu thương, chia sẻ.
Sự bất hạnh của người khuyết tật không chỉ dừng lại ở mặc cảm tủi thân mà còn
do đánh giá không khách quan của mọi người xung quanh. Trong gia đình, tiếng nói của
họ không có sức nặng. Khi đến tuổi đi học, nhiều trường hợp người khuyết tật bị từ chối.
Và trong lao động, họ bị xem thường về khả năng. Phần lớn trong số họ không được đào
tạo hay nhận vào một công ty nào đó. Bước ra đường phố, chúng ta dễ dàng bắt gặp hình
ảnh những người khuyết tật hàng ngày vẫn dãi nắng, dầm mưa. Họ chỉ có thể buôn bán
rong những món đồ vặt vãnh, từ cây chổi đến tờ vé số; thậm chí họ phải đi xin từng đồng
Đại học Quốc gia Hà nội (2011), “Luật quốc tế về quyền của người dễ bị tổn thương”, Tr. 98
Trinh – Tuấn, “khuyết tật không phải là hột giống lép”,
/>[truy cập ngày 16/06/2013].
22
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
15
SVTH: Trần Bảo Sơn
Bảo vệ quyền của ngƣời khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
1.4. Mục đích và ý nghĩa vấn đề nghiên cứu Luật ngƣời khuyết tật
1.4.1. Mục đích ra đời của Luật người khuyết tật Việt Nam
Thể chế hóa đầy đủ và toàn diện chủ trương, chính sách của Đảng ta, sự quan tâm
của toàn xã hội đối với việc bảo vệ, chăm sóc người khuyết tật.
Tạo giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện tốt nhất giúp người khuyết tật tiếp cận các
chương trình an sinh xã hội và các biện pháp giảm nghèo, đồng thời hỗ trợ mạnh về xây
dựng cơ sở vật chất, giúp họ có cơ hội tiếp cận việc làm, bảo đảm cuộc sống và hòa nhập
cộng đồng.
Là cơ sở pháp lý vững chắc để người khuyết tật vương lên ổn định cuộc sống,
đồng thời tạo cho người khuyết tật lòng tin vững chắc vào Đảng và Nhà nước.
Pháp điển hóa các quy định của pháp luật hiện hành về người khuyết tật theo
hướng kế thừa và phát triển, đồng thời đảm bảo sự phù hợp với Công ước quốc tế về
quyền của người khuyết tật năm 2007.
Tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các quyền của người khuyết
tật, đem lại các quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo điều kiện tốt
nhất cho người khuyết tật hòa nhập cộng đồng. Đồng thời, xóa bỏ mọi phân biệt đối xử
với người khuyết tật, đồng thời cũng đảm bảo sự công bằng giữa những người khuyết tật
các xã hội. Hiểu biết về quyền con người là nền tảng để mỗi người để phát triển nhân
cách, năng lực của mình và cũng là nền tảng của sự phát triển và tiến bộ của một xã hội
cũng từ đó quyền con người là cái mà con người nhận thức rõ hơn so với ý thức.
Thời kỳ cổ đại, từ thời Hy lạp và La mã cổ đại cho đến nay, mặc dù có rất
nhiều quan điểm khác nhau về quyền con người nhưng quyền con người luôn được coi là
giá trị tự nhiên, vốn có và không thể tách rời của mỗi con người và không phân biệt họ là
ai, sinh ra ở đâu, thuộc chủng tộc, tôn giáo, giới tính hay địa vị xã hội như thế nào.
Về phương diện pháp luật, Bộ luật Hammurabi (Babylon) khoảng năm 1780 trước
Công Nguyên đã có những quy tắc để: “ …ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức kẻ yếu,
…làm cho người cô quả có nơi nương tựa ở thành Babylon, …đem lại hạnh phúc chân
chính và đặt nền thống trị nhân từ cho mọi thần dân trên vương quốc”.23 Bộ luật
Hammurabi có thể coi là văn bản pháp luật thành văn đầu tiên của nhân loại có quy định
những tư tưởng liên quan đến quyền con người.
Tuy nhiên, trong lịch sử phát triển của nhân loại, các tư tưởng về quyền con người
không chỉ được thể hiện trong các đạo luật, mà còn được phản ánh trong các tư tưởng,
các học thuyết tôn giáo của hấu hết các tôn giáo trên thế giới mà điển hình là: Bộ Văn
tuyển Nho giáo (Luận ngữ), Kinh Vệ Đà của đạo Hinđu, Kinh Phật của đạo Phật, Kinh
Thánh của đạo Thiên Chúa và Kinh Kôran của đạo Hồi.
Thời kỳ trung đại, ngay trong thời kỳ Đêm trường trung cổ ở châu Âu, nhà
Vua nước Anh là John đã ban hành Đại Hiến chương Magna Carta năm 1215 thừa nhận
một số quyền cơ bản của con người như, thừa kế tài sản, quyền tự do buôn bán, quyền sở
hữu, quyền tái hôn của phụ nữ góa chồng…và đây được xem là văn bản pháp luật đầu
tiên xác lập ý tưởng giới hạn quyền lực nhà nước để bảo vệ quyền công dân…
Thời kỳ Phục hưng ở Châu Âu là giai đoạn phát triển rực rỡ của các quan điểm,
học thuyết về quyền con người. Trong đó, những tư tưởng triết học về quyền con người ở
Châu Âu thời kỳ Phục hưng đã có ảnh hưởng quan trọng đến sự ra đời của những văn bản
pháp luật về quyền con người ở một số quốc gia của châu lục này.
23
Bộ Luật Hammurabi, Điều 226
Năm 1993 đã đánh dấu bước ngoặc khi Hội nghị quyền con người được tổ chức nó
nổ lực thúc đẩy quyền con người trên thế giới sau trì truệ ở thời kỳ chiến tranh. Hội nghị
đã thiết lập “Một khuôn khổ mới cho việc đối thoại, hợp tác và phối hợp của cộng đồng
quốc tế trong lĩnh vực quyền con người”.24
Chƣơng 2
24
Diễn văn bế mạc của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, OHCHR (chr).
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
18
SVTH: Trần Bảo Sơn