Bảo vệ quyền lợi lao động nữ trong pháp luật lao động Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28

1
MỤC LỤC
Danh mục viết tắt 3
Danh mục bảng biểu 5
Lời mở đầu………………………………………………………………… 6
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về cạnh
tranh quốc gia 9
1.1 Khái niệm cạnh tranh và các yếu tố quyết định năng lực cạnh
tranh quốc gia 9
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh 9
1.1.2 Phân loại 10
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia 13
1.2 Kinh nghiệm quốc tế 15
1.2.1 Kinh nghiệm mở cửa, hội nhập và nâng cao sức cạnh tranh của một số
nước trong khu vực 15
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 19
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam và
những vấn đề đặt ra 24
2.1 Tổng quan về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam 24
2.2 Năng lực cạnh tranh của Việt Nam dựa vào các tiêu chí đánh giá
của WEF 29
2.2.1 Về thể chế Nhà nước và vai trò điều hành của Chính phủ 29
2.2.2 Về Tài chính - Ngân hàng 37
2.2.3 Về mức độ mở cửa và hội nhập 46
2

CIEM Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
CIF Giá bao gồm bảo hiểm và cước vận chuyển
EU Liên minh châu Âu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GATT Hiệp định chung về thuế quan
GCI Chỉ số cạnh tranh tăng trưởng
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GNP Tổng sản phẩm quốc dân
ICOR Chỉ số giá trị sản phẩm gia tăng
ILO Tổ chức lao động quốc tế
IMD Viện quản lý phát triển
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
JETRO Tổ chức ngoại thương Nhật Bản
MIS Hệ thống quản lý thông tin
MITI Bộ công nghiệp và thương mại quốc tế Nhật Bản
NIEs Các nền kinh tế mới công nghiệp hoá
ODA Quỹ hỗ trợ phát triển chính thức
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
R&D Nghiên cứu và phát triển
SIBOR Lãi suất liên ngân hàng Singagore
TNCs Công ty Xuyên quốc gia
UBND Uỷ ban nhân dân
UBQGVHN Uỷ ban Quốc gia về hợp tác Kinh tế Quốc tế
UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc
USD Đô la Mỹ
VND Việt Nam đồng 4
WB Ngân hàng Thế giới

doanh nghiệp cũng như giữa các quốc gia trong nền kinh tế thị trường bởi
cạnh tranh là nguồn gốc thúc đẩy sự phát triển của một nền kinh tế.
Nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao sẽ đạt được tốc độ
tăng trưởng cao, tạo việc làm và thu nhập, trình độ khoa học công nghệ được
nâng cao, đời sống người dân được cải thiện. Ngược lại, nền kinh tế chậm
hoặc không nâng cao được năng lực cạnh tranh sẽ dẫn đến ít thu hút được đầu
tư trong nước và nước ngoài, mất thị phần của thị trường trong nước và thế
giới. Các doanh nghiệp không cạnh tranh được sẽ phải chuyển hướng sản
xuất, thậm chí có thể phải giải thể, phá sản dẫn đến lao động mất việc làm,
gây khó khăn về kinh tế, xã hội.
Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) trong báo cáo Năng
lực cạnh tranh toàn cầu hàng năm thì Việt Nam hiện đang nằm trong nhóm có
khả năng cạnh tranh thấp. Cụ thể: Năm 2003 Việt Nam xếp hạng 60 trong 102
nước; Năm 2004 xếp hạng 77 trong 104 nước; Năm 2005 xếp hạng 81 trong
117 nước. Với năng lực như vậy, khi tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế chúng ta sẽ dễ dàng bị tổn thương và thua thiệt. Để tránh nguy cơ trên
và khỏi bị gạt ra ngoài quỹ đạo phát triển chung, Việt Nam cần phải nỗ lực,
chủ động hội nhập vào xu thế chung đồng thời phải nâng cao năng lực cạnh
tranh kinh tế vì sự tồn tại và phát triển của mình.
Với yêu cầu trên, việc chỉ rõ các hạn chế và những yếu kém về năng
lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam so với các nền kinh tế khác từ đó đề
ra các chính sách nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt
Nam trong quá trình hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế quốc tế đang 7
là vấn đề được các cơ quan, các bộ, ban ngành, các doanh nghiệp và toàn xã
hội quan tâm.
Do sự cần thiết của vấn đề như vậy nên em lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong tiến trình

- Làm rõ thực trạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như tham gia AFTA và khi Việt Nam
gia nhập WTO.
7. Bố cục của luận văn:
Bố cục của luận văn ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục viết
tắt, danh mục bảng biểu và tài liệu tham khảo, phần nội dung bao gồm có 3
chương:
 Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế
về năng lực cạnh tranh quốc gia
 Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh kinh tế của Việt Nam
và những vấn đề đặt ra
 Chương 3: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế
của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 9
Chương 1:
Mét sè vÊn ®Ò lý luËn chung vµ kinh nghiÖm quèc tÕ
vÒ N¨ng lùc c¹nh tranh quèc gia
1.1. Khái niệm cạnh tranh và các yếu tố quyết định năng lực cạnh
tranh quốc gia
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh:
Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác
nhau. Trong kinh tế, khái niệm cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua
giữa các quốc gia, các doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất
hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường. Cạnh tranh
có thể đưa lại lợi ích cho tổ chức này và thiệt hại cho tổ chức khác, song xét
dưới góc độ lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực (Ví dụ:
chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn )

cải thiện công cụ của tư bản. Mọi cá nhân không ngừng tìm kiếm thêm lợi
nhuận của họ. Do đó nhà nước không không cần can thiệp vào đời sống kinh
tế. Ngoài ra theo Smith, cạnh tranh có thể điều tiết cân bằng cung cầu. Bởi vì
trong môi trường cạnh tranh sẽ có người tham gia. Do đó, họ phải chú ý tới
điều kiện thị trường, áp lực cạnh tranh. Từ đó thích ứng với quá trình thay đổi
cung cầu.
Cạnh tranh còn có tác dụng nâng cao năng lực của lao động, điều tiết
phân phối các yếu tố sản xuất một cách hợp lý. Cạnh tranh thôi thúc người lao
động nâng cao kỹ năng, hợp lý hoá sản xuất để nâng cao lợi nhuận.
b) Quan điểm cạnh tranh của John Stuart Mill 11
John Stuart Mill đã bổ sung lý luận cạnh tranh của Smith. Theo ông
cạnh tranh không phải là yếu tố kích thích dựa vào mong muốn, nhưng trong
thời đại mà ông đang sống thì cạnh tranh là cần thiết. Quan điểm của Mill về
tự do không chỉ bó hẹp trong chính trị học và đạo đức học mà là vấn đề cốt lõi
trong toàn bộ lý luận về công lợi mà ông nêu ra.
Mill phân biệt rõ tự do kinh tế và tự do cá nhân, ông cho rằng trao đổi
mua bán có thể làm cho hàng hoá được sản xuất ra nhiều hơn, tốt hơn và rẻ
hơn. Mill thừa nhận phải có các biện pháp kiểm soát gian lận thương mại, tuy
nhiên không được kiểm soát hành vi cạnh tranh trong hợp đồng kinh tế. Nếu
cuộc chơi là công bằng thì kẻ thất bại phải chấp nhận thực tế. Lý luận cạnh
tranh của Mill được coi là tiến bộ vì nó chống lại chế độ phong kiến, khuyến
khích tự do cá nhân, gợi mở tư tưởng cho con người mở mang trí tuệ, phát
triển khoa học công nghệ thúc đẩy tiến bộ xã hội.
c) Quan điểm cạnh tranh của C.Mác
C.Mác không có lý luận cạnh tranh riêng, mà lý luận cạnh tranh của
ông nằm trong học thuyết giá trị thặng dư. Theo Mác, sự ra đời và tồn tại của
cạnh tranh trước hết phải dựa vào hai điều kiện cơ bản: phân công xã hội và

Lý luận cạnh tranh của Porter đã đáp ứng được các đòi hỏi của thời đại,
vào lúc các quốc gia đều hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tham gia cạnh
tranh. Lý luận đó giúp các nước đưa ra chiến lược cạnh tranh phù hợp với
điều kiện của mình. Đồng thời chỉ ra các giải pháp chính sách của chính phủ
hỗ trợ cho các doanh nghiệp phát huy lợi thế so sánh để nâng cao năng lực
cạnh tranh của mình.
1.1.2.3 Sự thay đổi quan điểm cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hoá 13
Sự thay đổi các quan điểm về cạnh tranh kinh tế xuất phát từ ba tiền đề
cơ bản. Thứ nhất, thế giới đã chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền
kinh tế tri thức, và toàn cầu hoá kinh tế thì cần phải tìm hiểu các quy định và
luật chơi về cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức. Thứ hai, xét từ góc nhìn
thương mại quốc tế, cân tìm hiểu cơ sở lý luận cạnh tranh trong từng quốc gia,
đặc biệt là các nước công nghiệp trong hoạt động thương mại. Thực tế cho
thấy, các nước công nghiệp phát triển không căn cứ vào nguyên tắc lợi thế so
sánh như trước đây để hoạch định chính sách thương mại quốc tế mà xuất
phát từ nhu cầu tăng khả năng cạnh tranh cảu họ để chuyển sang cạnh tranh
nhờ vào các quy chế. Thứ ba, trong phần này cũng chú ý tới tính tất yếu của
hợp tác kinh tế để đổi mới quan điểm từ cạnh tranh đối kháng sang cạnh tranh
có tính hợp tác.
1.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia:
1.1.3.1 Cơ sở chung
Hiện tại đang có hai phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh quốc
gia được áp dụng rộng rãi. Phương pháp thứ nhất do Diễn đàn kinh tế thế giới
(WEF) thiết lập trong bản Báo cáo cạnh tranh toàn cầu. Phương pháp thứ hai
do Viện quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đưa ra trong cuốn Niên giám
cạnh tranh thế giới. Cả hai phương pháp đều do một số giáo sư Đại học Tổng
hợp Havard như Michael E. Porter, Jeffrey D. Sachs, Andrew M.Warner và

2 - Vai trò của chính phủ;
3 - Năng lực tài chính - tiền tệ;
4 - Mức độ mở cửa nền kinh tế, bao gồm mở cửa thương mại và đầu tư; 15
5 - Kết cấu hạ tầng;
6 - Trình độ công nghệ;
7 - Lực lượng lao động;
8 - Trình độ quản lý doanh nghiệp;
8 nhóm chỉ tiêu quan trọng trên bao gồm nhiều tiêu chí được định
lượng hoá và so sánh với nhau. Tuỳ theo tầm quan trọng ở từng giai đoạn phát
triển mỗi nhóm có một trọng số nhất định. Trong Chương 2 của Luận văn sẽ
đi sâu vào phân tích cụ thể hơn từng chỉ tiêu năng lực cạnh tranh, những mặt
mạnh cần phát huy và những mặt yếu cần khắc phục của các chỉ tiêu trong
nền kinh tế Việt Nam.
1.2. Kinh nghiệm quốc tế trong việc phát hiện và tận dụng các lợi thế
cạnh tranh quốc gia
1.2.1. Kinh nghiệm mở cửa, hội nhập và nâng cao sức cạnh tranh của nền
kinh tế một số nước trong khu vực:
1.2.1.1 Kinh nghiệm mở cửa, hội nhập và nâng cao sức cạnh tranh
của một số ngành công nghiệp Nhật Bản
Chúng ta đều biết rằng nền kinh tế Nhật Bản phát triển qua nhiều thời
kỳ với nhiều mô hình tăng trưởng khác nhau. Trong hơn 100 năm của quá
trình phát triển tại Nhật Bản, giai đoạn 1955 - 1973 là một thời kỳ rất đặc biệt.
Kinh tế mỗi năm tăng trưởng bình quân 10% và thành quả này kéo dài trong
khoảng thời gian gần 20 năm. Các nhà nghiên cứu gọi đó là giai đoạn “thần
kỳ” hoặc là “thời đại phát triển cao độ”. Chính vì vậy, vào thời kỳ những năm
70, Nhật Bản được gọi là “siêu cường về kinh tế” và trở thành một trong
những trung tâm kinh tế lớn.


17
nước ngoài trong khi trình độ phát triển kinh tế của Nhật Bản còn non yếu so
với các nước Âu - Mỹ. Chính phủ Nhật Bản thấy rằng không có con đường
nào khác, chỉ có cách là chấp nhận hội nhập và đặt kế hoạch giảm bớt thách
thức, đồng thời đưa ra chiến lược phát triển các ngành công nghiệp Nhật Bản
có tiềm năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Chiến lược mở cửa, hội nhập,
nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Nhật Bản gồm ba bộ phận không thể
tách rời là:
Thứ nhất, việc mở cửa phải đảm bảo để hàng nhập không cản trở sự
phát triển của các ngành công nghiệp trong nước.
Thứ hai, việc mở cửa phải kết hợp với chiến lược, chính sách làm sao
cho các ngành công nghiệp ngày càng có sức cạnh tranh trên thị trường trong
nước và thế giới.
Thứ ba, để hội nhập có hiệu quả, tranh thủ được nhiều cơ hội của thị
trường thế giới phải có chiến lược và tổ chức đẩy mạnh xuất khẩu.
Sự phát triển kinh tế “thần kỳ” và sự tăng cường sức cạnh tranh quốc tế
của một số ngành công nghiệp chủ yếu của Nhật Bản trong thời kỳ này chứng
minh sự thành công của chiến lược mở cửa, hội nhập nêu trên.
1.2.1.2 Kinh nghiệm phát triển thị trường cho xuất khẩu hàng hoá
của Trung Quốc:
Để thực hiện công nghiệp hoá theo hướng mở cửa trong điều kiện của
nền kinh tế chuyển đổi, bên cạnh việc có một thị trường nội địa khổng lồ (với
dân số đông nhất thế giới, diện tích lãnh thổ lớn thứ hai thế giới, qui mô sản
lượng sản xuất của nhiều sản phẩm đứng hàng đầu thế giới), Trung Quốc
cũng rất quan tâm đến việc khai thác và mở rộng thị trường quốc tế để đẩy
mạnh xuất khẩu. 18

quả hơn. Ngay từ khi mới mở cửa, Trung Quốc đã chủ trương tăng cường
quan hệ buôn bán với các nước và vùng lãnh thổ có trình độ phát triển cao về
công nghiệp do các thị trường này có nhiều cơ hội và điều kiện mậu dịch tốt.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn đầu mở cửa, các thị trường Hồng Kông và Ma
Cao là những cơ sở tái xuất khẩu chủ yếu của Trung Quốc sang Đài Loan và
sang các thị trường Hoa Kỳ và Châu Âu. Sau giai đoạn này, các thị trường
Hoa Kỳ và Tây Âu đã trở thành những thị trường xuất khẩu trực tiếp chủ yếu
của Trung Quốc.
Bên cạnh các chiến lược khai thác thị trường cơ bản, xuất phát từ hoàn
cảnh kinh tế thị trường được triển khai muộn, cuộc tranh giành thị trường thế
giới đã bước sang giai đoạn “bổ khuyết cuối cùng”, Trung Quốc còn thực hiện
các chiến lược “bổ khuyết’ để tìm cho mình một phương hướng thị trường
thích hợp. Chiến lược này dựa trên luận điểm cơ bản là ở kỳ thị trường nào
cũng đều có những “mảng trắng”, ở đó thị trường chưa được khai thác, hoặc
chưa được chiếm lĩnh một cách có hiệu quả. Từ đó, theo thuyết “bổ khuyết”,
Trung Quốc phát triển thị trường mặt hàng mới cho xuất khẩu hàng hoá của
mình theo cả hai hướng: mở rộng thị trường xuất khẩu hiện tại trên cơ sở
những hàng hoá có sức cạnh tranh cao của Trung Quốc và những hàng hoá
mới do Trung Quốc sản xuất ra.
Song song với việc thực hiện chiến lược phát triển thị trường đúng đắn
như trên, Trung Quốc còn đặc biệt chú trọng đến các chính sách và chiến lược
như: chiến lược phát triển sản phẩm xuất khẩu; áp dụng chính sách khuyến
khích các doanh nghiệp FDI tăng cường xuất khẩu; áp dụng chính sách tỷ giá
và kiểm soát ngoại hối hợp lý. Ngoài ra, các chính sách phát triển khác của
Trung Quốc cũng được xem là yếu tố quan trọng trong việc phát triển thị 20
trường xuất khẩu mới, như: Thả nổi giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu. Giá thu
mua hàng xuất khẩu được bên mua và bên bán thoả thuận theo giá thị trường.

phát triển kinh tế. Ở Nhật Bản trong mấy chục năm qua nền kinh tế thành
công hầu hết là nhờ sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp hướng
vào xuất khẩu. Cùng với chính sách đẩy mạnh xuất khẩu của chính phủ là sự
tồn tại và lớn mạnh của các Tổng công ty thương mại đã góp phần rất lớn vào
việc đẩy mạnh xuất khẩu của Nhật Bản.
Cuối cùng, sự thành công trong phát triển kinh tế nâng cao sức cạnh
tranh của các ngành công nghiệp Nhật Bản là do việc thực hiện các chiến lược
trên có hiệu quả cao nhờ huy động được sức mạnh tổng hợp, thể hiện ở năng
lực, phẩm chất của công chức nhà nước, của lãnh đạo doanh nghiệp, ở sự phối
hợp chặt chẽ giữa chính phủ với doanh nghiệp và trí thức trong việc định ra
chiến lược, ở sức mạnh của các tập đoan kinh tế.
1.2.2.2 Kinh nghiệm từ Trung Quốc:
Một là, Trung Quốc đã lựa chọn và thực hiện một chiến lược khai thác
thị trường toàn cầu một cách hợp lý theo hai hướng: tìm kiếm thị trường xuất
khẩu và tăng mức xuất khẩu trên các thị trường hiện có. Trong chiến lược
khai thác thị trường toàn cầu, Trung Quốc phân chia thị trường thế giới theo
các tiêu thức khác nhau, như: Theo trình độ phát triển; Theo dung lượng thị
trường; Theo vị trí địa lý. Trung Quốc còn thực hiện các chiến lược “thị
trường bổ khuyết’ để tìm cho mình một phương hướng thị trường thích hợp.
Hai là, kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc khuyến khích các
doanh nghiệp FDI tăng cường xuất khẩu cho thấy cần thực hiện chính sách
thu hút mạnh đầu tư nước ngoài cùng với chính sách khuyến khích các doanh 22
nghiệp FDI đẩy mạnh xuất khẩu. Các doanh nghiệp FDI thường là các công ty
đa quốc gia, họ có mạng lưới sản xuất và phân phối tiêu thụ khắp toàn cầu.
Do đó, các doanh nghiệp FDI có khả năng xuất khẩu hàng hoá đến cả những
thị trường mà Chính phủ của nước nhận đầu tư chưa thực hiện những đàm
phán về mở cửa thị trường, hay khó có khả năng thâm nhập do những qui

tự do thương mại, hay tự do hoá nhập khẩu cần phải có lịch trình cụ thể phù
hợp với các giai đoạn chuyển dịch về cơ cấu kinh tế, cơ cấu các ngành công
nghiệp trong nước.
Các nền kinh tế trong giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá, các
sản phẩm xuất khẩu chủ yếu thường là các sản phẩm nguyên liệu thô và sản
phẩm sử dụng nhiều lao động, trong khi các nước này lại có nhu cầu nhập
khẩu cao về máy móc, thiết bị và công nghệ tiên tiến để phục vụ cho quá trình
công nghiệp hoá. Xét về lợi thế so sánh trong xuất khẩu và hiệu quả nhập
khẩu cũng như tính hiệu quả trong quan hệ thương mại (theo nguyên tắc “có
đi, có lại”) thì thị trường của các nước công nghiệp phát triển có vị trí hết sức
quan trọng đối với cả xuất khẩu và nhập khẩu của các nước đang thực hiện
công nghiệp hoá. Sau đó, khi trình độ phát triển công nghiệp ở các nước công
nghiệp muộn đã được nâng lên, thì sản phẩm xuất khẩu cũng sẽ thay đổi
chuyển dần sang các sản phẩm sử dụng nhiều vốn và công nghệ. Kinh nghiệm
của Trung Quốc về thực hiện chiến lược khai thác thị trường toàn cầu và
chiến lược phát triển sản phẩm là bài học quý đối với nền kinh tế Việt Nam
trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hướng về xuất khẩu hiện nay. 24
Chương 2:
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ
VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1 . Tổng quan về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thể hiện cụ thể ở khả năng cạnh
tranh của hàng hoá và dịch vụ trên thị trường. Khả năng cạnh tranh của hàng
hoá và dịch vụ phụ thuộc vào sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp tạo ra hàng hoá đó. Đến lượt mình, hoạt động của doanh nghiệp lại
phụ thuộc vào luật lệ, thể chế và điều hành của Chính phủ, vào môi trường
kinh tế vĩ mô, tức là phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh quốc gia. Mục tiêu

39/53
48/53
60/75
65/80
60/102
77/104
81/117
Khoảng
cách đến
nước thấp
nhât
4
14
5
15
15
42
27
36
Nguồn: Diễn đàn Kinh tế Thế giới 2005
Vị trí xếp hạng không trực tiếp cho thông tin chính xác về cao hay thấp
vì còn phụ thuộc vào số nền kinh tế được xếp hạng, nói Việt Nam được xếp
hạng 39 mà không nói trên 53 nước dễ gây hiểu lầm rằng vị trí đó cao hơn
hiện nay. Vì vậy, hàng 3 nêu khoảng cách giữa Việt Nam và cuối cùng là
thước đo chính xác hơn. Năm 1997 Việt Nam chỉ cách nước cuối có 4 bậc,
đến năm 1998 do nhiều nước châu Á lâm vào khủng hoảng tài chính trầm
trọng bị xếp tụt hạng mạnh nên vị trí của Việt Nam được nâng lên, đạt 39/53,
khoảng cách là 14. Đến năm 1999, các nước trải qua khủng hoảng đã bình ổn
nhanh chóng, vị trí Việt Nam lại trở về 48/53, khoảng cách lại còn 5 bậc.
Trong hai năm sau vị trí là 60/75 và 65/80 vẫn ổn định tương đối do có thêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status