An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ trong pháp luật lao động Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28


1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ PHƢƠNG THÚY AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ
TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS. TS. Phạm Công Trứ
3 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của
TÔI. Những kết luận của luận văn đưa ra là kết quả nghiên
cứu của tôi sau quá trình nghiên cứu và tham khảo các tài
liệu cần thiết.
Tất cả nguồn tài liệu sử dụng của các công trình nghiên
cứu khác tôi đều có trích dẫn cụ thể và chính xác.



5
MỤC LỤC Trang
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài ……………………………………………………
1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề …………………………………………
3
3. Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu …………………………
3
3.1. Mục đích nghiên cứu …………………………………………
3
3.2. Nhiệm vụ của nghiên cứu ……………………………………
4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu …………………………………
4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ……………………………………………

CHƢƠNG 2: PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG
ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM

2.1. Các quy định hiện hành về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ
……………………………………………………………

30
2.1.1. Các quy định chung về bảo đảm an toàn,vệ sinh lao động đối với lao động nữ
…………………………………………………….

30
2.1.2. Các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ 6
…………………………………………………………
33
2.1.3. Các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý để bảo vệ sức
khoẻ của lao động nữ…………………………………

38
2.1.4. Các quy định về chế độ thai sản đối với lao động nữ ………
40
2.1.5. Giải quyết quyền lợi cho lao động nữ bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề
nghiệp …………………………………………….……

41
2.1.6. Quy định về thanh tra và xử lý các trƣờng hợp vi phạm quy định về an toàn,
vệ sinh đối với lao động nữ ………………………


74
2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân
77
CHƢƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI
VỚI LAO ĐỘNG NỮ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

3.1. Sự cần thiết khác quan của việc hoàn thiện pháp luật về về an toàn, vệ sinh lao động
đối với lao động nữ

84
3.2. Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối
với lao động nữ

89
3.1.1 Về mặt chủ quan
92
3.1.2 Về mặt khách quan
93
3.3. Sửa đổi, bổ sung một số quy định an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động
nữ

93

7
3.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
đối với lao động nữ

95
KẾT LUẬN
102

của quốc gia. Vì vậy, việc tạo ra một môi trƣờng làm việc tốt cho ngƣời lao động
là yêu cầu ngày càng cấp thiết của xã hội.
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề đảm bảo an toàn,
vệ sinh lao động (ATVSLĐ) ngày càng liên quan chặt chẽ đến sự thành đạt của
mỗi doanh nghiệp, góp phần quyết định đến sự phát triển kinh tế bền vững của
mỗi quốc gia. Xây dựng một nền sản xuất an toàn với những sản phẩm có tính
cạnh tranh cao gắn liền với việc bảo vệ sức khỏe ngƣời lao động là yêu cầu tất
yếu của sự phát triển kinh tế bền vững vµ đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế
toàn cầu hóa.
Cùng với những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, thời gian qua
công tác ATVSLĐ ở nƣớc ta đã có những chuyển biến đáng kể về hệ thống văn
bản pháp luật và bộ máy tổ chức. Chỉ thị số 132CT/TƯ của Ban Bí thƣ Trung
ƣơng Đảng nhấn mạnh: Ở đâu, khi nào có hoạt động lao động sản xuất, thì ở đó,
khi đó phải tổ chức công tác bảo hộ lao động theo đúng phƣơng châm: Bảo đảm
an toàn để sản xuất - Sản xuất phải bảo đảm an toàn lao động [27] .
Thể chế hoá đƣờng lối của Đảng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bé Luật Lao động n¨m 2002 đã dành chƣơng IX quy định về ATVSLĐ. Trên
thực tế, rất nhiều ngành, nhiều địa phƣơng, doanh nghiệp và ngƣời sử dụng lao
động đã có những biện pháp, sáng kiến cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an
toàn vệ sinh lao động và môi trƣờng sản xuất kinh doanh.

9
Tuy vậy, công tác BHLĐ nói chung và công tác ATVSLĐ nãi riªng
ở nƣớc ta còn quá nhiều khó khăn và tồn tại cần giải quyết. Nhiều doanh nghiệp,
đặc biệt các doanh nghiệp khu vực phi chính thức mới chỉ quan tâm đầu tƣ phát
triển sản xuất, thu lợi nhuận, thiếu sự đầu tƣ tƣơng xứng để cải thiện điều kiện
làm việc an toàn cho ngƣời lao động. Vì vậy, Việt Nam đã xảy ra nhiều vụ tai
nạn lao động làm chết và bị thƣơng nhiều ngƣời, thiệt hại tài sản của Nhà nƣớc
và doanh nghiệp. Theo Cục An toàn lao động (Bộ Lao động - Thƣơng binh và
Xã hội), trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2004, mặc dù chỉ có 10% tổng số

Với mong muốn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng
pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ nhằm góp phần bảo vệ
sự an toàn của lao động nữ trong bối cảnh nền kinh tế thị trƣờng, học viờn chọn
đề tài nghiờn cứu “An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ trong pháp
luật lao động Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ của mình .

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Qua thực tế tìm hiểu, học viên thấy đã xuất hiện một số bài báo, công
trình nghiên cứu có đề cập tới một số khía cạnh của vấn đề an toàn, vệ sinh lao
động đối với ngƣời lao động nói chung, với một số lƣợng hạn chế.
Tuy nhiên, chƣa có một công trình khoa học nào trực tiếp đi sâu vào tìm
hiểu vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ cũng nhƣ để từ đó có
những kiến nghị xác đáng nhằm nâng cao việc bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền
lợi của đối tƣợng lao động này.
Luận văn đi vào tìm hiểu, tổng hợp một vấn đề mới với hi vọng đóng góp
một góc nhìn khái quát hơn cho việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành pháp
luật liên quan tới lao động nữ trong chế định an toàn, vệ sinh lao động.

11
3. Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn muốn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn,
vệ sinh lao động cũng nhƣ sự cần thiết của việc ban hành các quy định về an
toàn, vệ sinh đối với lao động nữ. Trên cơ sở đó, luận văn đi sâu phân tích các
quy định về an toàn, vệ sinh lao động và thực tế thực hiện đối với lao động nữ
trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm điều chỉnh pháp
luật quốc tế của các nƣớc trong lĩnh vực này.

của chủ nghĩa Mác – Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Ngoài ra, luận văn sử dung các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể khác nhƣ:
phƣơng pháp lịch sử, tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu, tài liệu, thống kê,
phƣơng pháp chuyên gia, phƣơng pháp liên ngành, …

6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng:

Chương 1:
Những vấn đề chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
đối với lao động nữ ở Việt Nam
Chương 2:
Pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ và
thực tế thực hiện ở Việt Nam
Chương 3:
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam.
13
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ
SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM

1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
1.1.1 Khái niệm pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
An toàn, vệ sinh lao động là tổng hợp các biện pháp được tiến hành
nhằm thiết lập điều kiện làm việc tốt nhất cho người lao động, hạn chế đến mức

2. Các quy định nhằm hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm, độc
hại đến sức khoẻ của người lao động
3. Các quy định về chế độ bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao
động hoặc bệnh nghề nghiệp
4. Các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với những
nhóm lao động đặc thù như lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao
động là người cao tuổi, lao động là người tàn tật
5. Các quy định quy định về quyền và nghĩa vụ của người lao động,
người sử dụng lao động và trách nhiệm của Nhà nước trong công tác
an toàn, vệ sinh lao động.
Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ sức khỏe của
ngƣời lao động nên việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có
tính bắt buộc cao đối với các đơn vị sử dụng lao động, với các chủ thể tham gia
quan hệ lao động. Ngoài ra, những quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong
nội bộ công ty nhƣ quy định trong nội quy, quy chế an toàn vệ sinh lao động hay
trong thoả ƣớc của công ty đƣợc đặt ra đều nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn, thông
số kỹ thuật cần thiết đƣợc tính toán trên cơ sở khoa học. Do đó, việc thực hiện
các quy định này có tính chất bắt buộc chặt chẽ nhằm giảm thiểu đến mức thấp
nhất những nguy cơ rủi ro xảy ra, gây ảnh hƣởng đến tính mạng và sức khoẻ của
ngƣời lao động

15
Nhƣ vậy, có thể thấy pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động là một chế
định trong hệ thống pháp luật lao động. Với những nội dung và mục tiêu điều
chỉnh nhƣ đã đề cập ở trên, chế định này có tầm quan trọng đặc biệt trong việc
bảo vệ ngƣời lao động và đƣợc coi là một bộ phận không thể thiếu trong hệ
thống pháp luật lao động ở mọi quốc gia.

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
Trong thực tế, hoạt động an toàn, vệ sinh lao động thực chất là tổng hợp

riêng biệt của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động so với các chế định pháp luật
lao động khác.
Một trong những khía cạnh quan trọng của công tác quản lý Nhà nƣớc
trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động là việc ban hành và quản lý thống nhất
hệ thống quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn, vệ sinh lao động. Theo quy
định hiện hành, các bộ ngành chức năng có trách nhiệm phối hợp ban hành và
quản lý thống nhất hệ thống tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn, vệ sinh lao động
cấp ngành.
Về hình thức, tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động mang đầy đủ những
yếu tố của một quy phạm pháp luật (nhƣ có tính chất bắt buộc áp dụng). Về nội
dung, nó chứa đựng những yêu cầu mặt kỹ thuật nghiêm ngặt dựa trên cơ sở
nghiên cứu khoa học về an toàn, vệ sinh lao động. Những quy chuẩn này (gồm
150 loại) có thể đƣợc áp dụng ở cấp Nhà nƣớc hoặc cấp ngành nhằm mục đích
hạn chế, ngăn ngừa các tai nạn lao động, sự cố có thể xảy ra đối với con ngƣời,
môi trƣờng hoặc thiết bị; phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp trong quá trình lao
động.
Đối tƣợng quản lý về an toàn, lao động của Bộ LĐ -TB & XH là các loại
máy, thiết bị, vật tƣ và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao
động trong cả nƣớc. Trƣớc đây các thiết bị, máy móc trên đƣợc quản lý theo tiêu

17
chuẩn do Nhà nƣớc ban hành, hiện nay những quy phạm an toàn thƣờng mang
tên gọi chung là Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) quy định tại Khoản 1 điều 3
Nghị định 06/ CP. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc ban hành các TCVN
nhƣng do điều kiện về kinh phí hạn chế (chỉ có từ 3 - 5 triệu đồng/ 1 TCVN),
chịu ảnh hƣởng của hệ thống tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao đồng của Liên Xô
cũ Một số tiêu chuẩn đã cũ, nội dung đã lạc hậu, không phù hợp so với khu
vực và quốc tế nhƣ các quy phạm về an toàn lao động trong hầm lo than, điện
lạnh, nồi hơi và các thiết bị nâng cần đƣợc xem xét lại tiêu chuẩn và ban hành
tiêu chuẩn mới cho phù hợp.

động của mọi chủ thể tham gia quan hệ lao động. Họ là ngƣời thực hiện, giám
sát việc thực hiện các quy định và cũng là ngƣời phát hiện các yếu tố nguy hiểm,
có hại từ đó yêu cầu, đề xuất biện pháp giải quyết nhằm góp phần đảm bảo điều
kiện lao động ngày một tốt hơn.
Do vậy, công tác an toàn, vệ sinh lao động chỉ có hiệu quả khi mọi ngành,
mọi tổ chức, cá nhân tự giác thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn, vệ
sinh lao động. Hiển nhiên, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động thƣờng
mang tính xã hội rộng rãi và có liên quan đến nhiều đối tƣợng trong xã hội.
1.1.2.4. Pháp luật về an toàn vệ sinh lao động đóng vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của ngƣời lao động.
Đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động là yêu cầu tất yếu, khách quan của hoạt
động sản xuất. Hoạt động sản xuất là quá trình tác động tới môi trƣờng xung
quanh, đồng thời cũng là quá trình ngƣời lao động chịu các tác động ngƣợc trở
lại của môi trƣờng lao động. Ngay từ thời sơ khai, con ngƣời đã biết cải tiến
công cụ, điều kiện lao động để tự bảo vệ mình. Do hoạt động sản xuất là một
trong những nguyên nhân gây tác hại tới môi trƣờng sống, cùng với sự phát triển
của văn minh nhân loại, những tiến bộ của trình độ, công nghệ sản xuất cũng

19
tăng lên đóng góp cho sự tiến bộ của xã hội. Mặt khác, những yếu tố đó lại làm
cho môi trƣờng sống, trong đó có môi trƣờng lao động ngày càng xấu đi do
những tác động ngày càng nhiều với các yếu tố nguy hiểm độc hại nhƣ phóng xạ,
tia tử ngoại… Môi trường lao động ngày càng đa dạng, phức tạp, nguy hiểm đòi
hỏi công tác an toàn, vệ sinh lao động phải được phát triển tương xứng.
Công tác an toàn, vệ sinh lao động đƣợc thực hiện tốt sẽ giảm thiểu các
chi phí về y tế và bảo hiểm xã hội không cần thiết cho đối tƣợng bị tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, cũng nhƣ góp phần bảo vệ môi trƣờng sống của con
ngƣời. Thực hiện hiệu quả công tác này là góp phần giảm tới mức thấp nhất sự
tiêu hao lao động và những tổn thất tới vật chất, con ngƣời và môi trƣờng.
An toàn lao động, vệ sinh lao động là chính sách kinh tế xã hội lớn, có ý

“Chính phủ lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn
lao động, vệ sinh lao động, đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và
ngân sách Nhà nước. đầu tư nghiên cứu khoa học, hỗ trợ phát triển các cơ
sở sản xuất dụng cụ, trang thiết bị an toàn lao động, vệ sinh lao động,
phương tiện bảo vệ cá nhân; ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy trình, quy
phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động” (Điều khoản 2 điều 95) [25].
Việc quản lý của nhà nƣớc về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất
tập trung dân chủ. Đây là trách nhiệm của các ngành chức năng và là nghĩa vụ
của những đối tƣợng tham gia quan hệ lao động. Quyền quản lý cao nhất thuộc
về Chính phủ, bên cạnh đó có sự phân công, phân cấp quản lý cụ thể nhằm tạo
cơ chế cho các ngành chức năng đƣợc phát huy tính chủ động trong việc thực
hiện chức năng quản lý của mình nhằm mang lại hiệu quả quản lý cao nhất.
Quản lý Nhà nƣớc về an toàn, vệ sinh lao động là hoạt động tạo cơ sở
pháp lý và thiết lập điều kiện vật chất cho việc thực thi pháp luật an toàn, vệ sinh

21
lao động trên thực tế. Việc thiết lập môi trƣờng lao động phải phụ thuộc vào điều
kiện kinh tế – xã hội cụ thể. Nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều khó
khăn, thách thức và không đồng đều, do vậy, chúng ta chƣa thể tạo dựng đƣợc
một môi trƣờng lao động lý tƣởng với việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động ở
mức cao nhất hoặc theo các tiêu chuẩn quốc tế.
Nhà nƣớc đã và đang cố gắng từng bƣớc đảm bảo cho ngƣời lao động
đƣợc làm việc trong môi trƣờng lao động an toàn và vệ sinh theo điều kiện hiện
có của đất nƣớc, mục đích quan trọng nhất là đảm bảo an toàn về tính mạng và
sức khoẻ ngƣời lao động nhằm xây dựng một nền kinh tế xã hội phát triển, bền
vững.

1.1.3.2. Nguyên tắc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động là nghĩa vụ bắt
buộc đối với các bên trong quan hệ lao động.
Thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động, các bên tham gia quan

Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có ý nghĩa bắt buộc đối với các
cơ quan nhà nƣớc có liên quan, các tổ chức và ngƣời sử dụng lao động, đồng
thời, thực hiện nó là trách nhiệm của ngƣời lao động. Để các quy định của pháp
luật lao động đƣợc thực hiện nghiêm túc và triệt để, bản thân ngƣời lao động
phải có nghĩa vụ biết và chấp hành các nội quy đó, có ý thức trong việc tự bảo vệ
tính mạng, sức khoẻ trong quá trình lao động.
Bộ luật lao động sửa đổi quy định: “… Người lao động phải tuân thủ các
quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và nội quy lao động của doanh
nghiệp” (Khoản 1 điều 95) [25]. Các quy định đối với ngƣời lao động thƣờng
đƣợc quy định trong nội quy doanh nghiệp, thoả ƣớc lao động tập thể (nếu có) và
điều khoản về điều kiện an toàn, vệ sinh lao động trong hợp đồng lao động.
Với các quy định này, nếu ngƣời lao động không có ý thức trách nhiệm
bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của bản thân bởi việc không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng thì dù có đƣợc làm việc trong môi trƣờng an toàn, vệ sinh tuyệt

23
đối thì tai nạn lao động vẫn có thể xảy ra. Các quy định về an toàn, vệ sinh lao
động đối với ngƣời lao động thƣờng gồm các việc nhƣ: giữ gìn và sử dụng đúng
quy trình các thiết bị bảo vệ an toàn, vệ sinh chung (thiết bị phòng cháy chữa
cháy, quạt thông gió…); bảo quản và sử dụng các phƣơng tiện bảo vệ cá nhân,
chấp hành các quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong nội quy doanh
nghiệp…
Việc thực hiện các quy định này phụ thuộc rất lớn vào khả năng nhận thức,
ý thức của bản thân ngƣời lao động, công tác tuyên truyền về công tác an toàn,
vệ sinh lao động của các đơn vị, tổ chức có liên quan, đặc biệt là tổ chức Công
đoàn. Đồng thời, việc áp dụng nghiêm minh các biện pháp xử lý ngƣời lao động
nếu không tuân thủ các quy định về an toàn, vệ sinh lao động là hoạt động đặc
biệt quan trọng. Nhƣ vậy, việc thực hiện các quy định về an toàn vệ sinh lao
động không chỉ đảm bảo sức khoẻ, tính mạng cho chính bản thân ngƣời lao động
mà còn là nghĩa vụ bắt buộc đối với họ.

Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định rất cụ thể về nội dung hoạt động
của công đoàn trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp
gồm các hoạt động củng cố tổ chức, bộ máy bảo hộ lao động, xây dựng kế hoạch
bảo vệ an toàn, vệ sinh lao động cho ngƣời lao động; tự kiểm tra công tác an
toàn, vệ sinh lao động nhƣ rà soát máy móc, kẻ vẽ biển báo hiệu nguy hiểm; mua
mới và sửa chữa máy móc; khám sức khoẻ định kỳ cho ngƣời lao động nhằm
sớm phát hiện bệnh nghề nghiệp, đo đạc yếu tố vệ sinh tại nơi làm việc; tổ chức
tuyên truyền vận động về an toàn, vệ sinh lao động cho ngƣời lao động.
Ngoài ra, các tổ chức công đoàn còn tham gia các hoạt động lớn của quốc
gia về an toàn, vệ sinh lao động của quốc gia nhƣ tham gia xây dựng Chƣơng
trình Quốc gia về an toàn,vệ sinh lao động; Tuần lễ quốc gia về an toàn,vệ sinh
lao động và phòng chống cháy nổ hàng năm; và tham gia Mạng thông tin an toàn,
vệ sinh lao động đã nói lên vị trí, vai trò của tổ chức công đoàn trong hoạt động

25
đảm bảo thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Bộ luật lao động sửa
đổi quy định:
“TLĐ LĐVN tham gia với Chính phủ trong việc xây dựng chương
trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, xây
dựng chương trình nghiên cứu khoa học, xây dựng pháp luật về bảo hộ
lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động” (Khoản 3 điều 95) [25].
Đối với ngƣời lao động, trong hoạt động bảo đảm việc thực hiện pháp luật
an toàn, vệ sinh lao động cho họ, tổ chức công đoàn có vai trò quan trọng và cốt
yếu trong việc tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của ngƣời lao động
trong việc yêu cầu và thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động; trong việc
yêu cầu ngƣời sử dụng lao động xây dựng và đảm bảo điều kiện lao động đƣợc
an toàn, vệ sinh.

1.1.3.4. Tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn, vệ sinh lao động
trong các Công ƣớc có liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động mà Việt Nam đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status