Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và
pháp luật Việt Nam về an toàn
vệ sinh lao động Bùi Thị Chuyên Khoa Luật. Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 07
Người hướng dẫn : TS. Lê Văn Bính
Năm bảo vệ: 2013
118 tr .
Abstract. Làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức cách mạng, chủ yếu là đạo đức của đội ngũ cán bộ y tế. Chỉ ra và phân tích một số
những vấn đề cơ bản, góp phần phát hiện những yếu tố, điều kiện tác động, chi phối
thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ y tế ở Việt Nam trong những năm gần đây. Đề
xuất một số quan điểm cơ bản và luận chứng một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục
xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ y tế ở Việt Nam hiện nay.
Keywords.Luật Quốc tế; Pháp luật nước ngoài; Pháp luật Việt Nam; An toàn vệ sinh
lao động; Vệ sinh lao động
Content.
1. Tính cấp thiết của Đề tài nghiên cứu
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt
Nam đã đạt được những thành tự to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, tạo
ra những tiền đề vững chắc đưa đất nước chuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhờ sự phát triển đó và với những đổi mới trong công tác
quản lý Nhà nước về lao động, công tác an toàn vệ sinh lao động (sau đây viết tắt là
ATVSLĐ) được quan tâm đầy đủ hơn, điều kiện làm việc, sức khỏe NLĐ từng bước
được cải thiện. Thực tiễn đó thể hiện chính sách, chiến lược vì con người của Đảng và
nói riêng, đáp ứng yêu cầu của quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam và quá trình hội
nhập. Đồng thời, thực hiện Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26/11/2011 về Chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 207/QĐ-TTg về việc phân công cơ quan chủ trì soạn thảo
các dự án Luật, Pháp lệnh thuộc chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ
Quốc hội khóa XIII, giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì xây dựng
Dự án Luật ATVSLĐ.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ nói trên, đòi hỏi các tổ chức, cơ quan, cũng như
các cán bộ được giao nghiên cứu xây dựng Luật ATVSLĐ trên cơ sở quán triệt các
quan điểm của Đảng, tình hình của đất nước, học tập kinh nghiệm quốc tế và kế
thừa thành quả và kinh nghiệm thực tiễn trong thời gian qua, theo đó từng bước cải
thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về ATVSLĐ, thực hiện việc ngăn chặn
TNLĐ và bệnh tật liên quan đến lao động.
Đề tài nghiên cứu “Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt
Nam về ATVSLĐ” nhằm nghiên cứu và làm rõ những quy định của pháp luật quốc tế,
pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ, qua đó tìm ra những thiếu
hụt, những bất cập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tìm hiểu sự chuyển hóa pháp
luật quốc tế vào pháp luật Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng pháp
luật về ATVSLĐ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam phù hợp với xu thế
hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
ATVSLĐ là vấn đề được quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều độc giả,
những sản phẩm nghiên cứu được biết đến như: “Danh mục trang bị phương tiện bảo
vệ cá nhân”, NXB Lao động - Xã hội, 2004; “Công tác BHLĐ trong nông nghiệp,
nông thôn”, NXB Lao động – Xã hội, 2010; “Hồ sơ quốc gia về ATVSLĐ”, NXB Lao
động – Xã hội; “Chiến lược toàn cầu về ATVSLĐ”, kết luận của Hội nghị Lao động
quốc tế, kỳ họp thứ 91 của năm 2003, Văn phòng ILO, 2003; “Hệ thống quốc gia về
ghi chép và thông báo về BNN”, Văn phòng ILO, 2013.
Một số Báo, Tạp chí có những bài viết sâu sắc đánh giá về vấn đề ATVSLĐ
như “Đánh giá rủi ro trong sản xuất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm” TS. Triệu Quốc
những quy định đã hoặc chưa phù hợp để đưa ra đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban
hành văn bản mới phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, có tính đến việc học
tập kinh nghiệm quốc tế về xây dựng pháp luật ATVSLĐ.
4. Tính mới và những đóng góp của Đề tài
Nội dung về ATVSLĐ là một đề tài quan tâm của nhiều độc giả, nhiều nhà
nghiên cứu, nên những công trình liên quan đến nghiên cứu vấn đề ATVSLĐ đã được
quan tâm nhiều, tuy nhiên nghiên cứu về pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về
ATVSLĐ thì chưa có nhiều. Đề tài nghiên cứu mang tính xây dựng, trên cơ sở tham
khảo bài viết của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học về vấn đề này đưa ra một số giải
pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật trong nước về vấn đề này.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài chủ yếu hướng vào các đối tượng là NLĐ Việt
Nam, người học nghề, tập nghề và một số đối tượng là lao động đặc thù, người sử
dụng lao động (sau đây viết tắt là NSDLĐ), người lao động (sau đây viết tắt là NLĐ)
nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của Đề tài tập trung vào hệ thống pháp luật quốc tế (Công
ước quốc tế về nhân quyền và một số Công ước quốc tế của ILO), trong quá trình
nghiên cứu có đề cập đến pháp luật về ATVSLĐ của một số quốc gia (Nhật Bản, Hàn
Quốc, Philipin, Singapore) và nghiên cứu hệ thống pháp luật của Việt Nam về an toàn
vệ sinh lao động.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu Đề tài, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp
nghiên cứu khác nhau, trong đó có phương pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, phương pháp thống kê, thông qua thống kê các số liệu về TNLĐ và
quá trình áp dụng các quy định về ATLĐ trong các doanh nghiệp nhà nước, công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư nước ngoài, công ty liên doanh, công ty cổ
phần.v.v
Thứ hai, phương pháp phân tích, học viên đưa ra những quy định của pháp luật
Việt Nam trên cơ đó phân tích những điểm phù hợp, những điểm chưa phù hợp với
những quy định của Công ước.
pháp luật về an toàn vệ sinh lao động và định hướng triển khai đến năm 2020,
NXB Lao động Xã hội, Hà Nội.
9. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2013), Thông báo 543/TB-LĐTBXH ngày
25/2/2013 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về tình hình tai nạn lao
động năm 2012, Hà Nội.
10. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Lao động Hoa Kỳ (2013), Thoả
thuận hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động giữa Bộ Lao
động – Thương binh và Xã hội và Bộ Lao động Hoa Kỳ giai đoạn 2013-2015,
Hà Nội.
11. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ (2008), Thông tư số
10/2008/TTLT- BLĐTBXH-BNV ngày 10/7/2008 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp
tỉnh, cấp huyện và nhiệm vụ quản lý nhà nước của ủy ban nhân dân cấp xã về lao
động, người có công và xã hội, Hà Nội.
12. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Cơ quan an toàn vệ sinh lao động của
Hàn Quốc (KOSHA) (2012), Thỏa thuận hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực ATVSLĐ
giữa Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Cơ quan ATVSLĐ Hàn Quốc
(KOSHA) giai đoạn 2012 – 2015, Hà Nội.
13. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2000), Ghi chép, khai báo về TNLĐ và BNN
của Tổ chức Lao động quốc tế, NXB Lao động xã hội, Hà Nội.
14. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Tổng liên đoàn Lao động Việt
Nam (1976), Thông tư Liên bộ số 08-TTLB ngày 19/5/1976 quy định một số bệnh
nghề nghiệp và chế độ đãi ngộ công nhân viên chức Nhà nước mắc bệnh nghề
nghiệp, Hà Nội.
15. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Tổng liên đoàn Lao động Việt
Nam (1997), Thông tư Liên bộ số 29-TTLB ngày 25/12/1991 bổ sung một số bệnh
nghề nghiệp, Hà Nội.
16. Bộ Y tế (1997), Quyết định số 167/BYT ngày 4/2/1997 bổ sung 5 bệnh nghề nghiệp
vào danh mục các loại bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm, Hà Nội.
17. Bộ Y tế (2001), Quyết định số 27/QĐ-BYT ngày 21/9/2006 bổ sung 04 bệnh nghề
29. Cục An toàn lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2006), Báo cáo về
phòng chống tai nạn thương tích toàn quốc, Hà Nội.
30. Cục An toàn lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2012), Báo cáo sơ
bộ về các vấn đề nghiên cứu xây dựng Luật an toàn vệ sinh lao động, tr.6, Hà
Nội.
31. Cục An toàn lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2012), Niên giám
thống kê lao động người có công và xã hội 5 năm 2006-2010, NXB Lao động –
Xã hội, Hà Nội.
32. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Khoa Luật – ĐHQGHN
(2009), Giáo trình Lý luận và Pháp luật về Quyền con người, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội, tr. 272 – 277, Hà Nội.
33. Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc (1966), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã
hội và văn hóa, Điểm b Điều 7.
34. Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc (1966), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã
hội và văn hóa, Điều 12.
35. Bùi Thị Lâm Hà, Ban Chi, Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2012), “Chế độ tai nạn ở Việt
Nam - nhìn từ cơ sở lý luận”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, ngày 23/5.
36. Bùi Thị Lâm Hà, Ban Chi, Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2012), “Chế độ tai nạn ở
Việt Nam - những khó khăn, vướng mắc”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, ngày 18/6.
37. Hoàng Phước Hiệp (2007), “Nội luật hoá các Điều ước quốc tế Việt Nam ký kết
và tham gia phục vụ quá trình hội nhập quốc tế”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ, Hà Nội.
38. Hoàng Phê (2000), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng.
39. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (2005), Từ
điển Bách khoa Việt Nam tập 4, NXB Từ điển bách khoa Hà Nội, tr 850, Hà Nội.
40. ILO/WHO (1995), Tuyên bố và Chương trình hành động được thông qua tại Hội
nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển xã hội, Chương trình nghị sự 21,
Chương 6.
41. Lên Khả Kế (1997), Từ điển Pháp - Việt (có sửa chữa và bổ sung), NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội.
64. Tổ chức Lao động quốc tế (1969), Công ước số 130 về Chăm sóc y tế và chế độ
trợ cấp ốm đau.
65. Tổ chức Lao động quốc tế (1979), Công ước số 152 của ILO về an toàn và sức
khoẻ đối với việc làm ở hải cảng.
66. Tổ chức Lao động Quốc tế (1981), Công ước số 155 về an toàn lao động, vệ sinh lao
động và môi trường làm việc, Khoản 1 Điều 4 Phần II.
67. Tổ chức lao động quốc tế (1981), Công ước số 155 về an toàn vệ sinh lao động và
môi trường làm việc, Điểm đ Điều 3.
68. Tổ chức Lao động quốc tế (1983), Công ước số 159 về Tái thích ứng nghề nghiệp
và việc làm của người khuyết tật.
69. Tổ chức Lao động quốc tế (1985), Công ước số 161 về lao động trong lĩnh vực
dịch vụ y tế, Điều 1
70. Tổ chức Lao động quốc tế (1988), Công ước số 167 của ILO về an toàn và sức
khoẻ trong ngành xây dựng.
71. Tổ chức Lao động quốc tế (1995), Công ước số 176 của ILO về an toàn sức khoẻ
trong các hầm mỏ.
72. Tổ chức Lao động quốc tế (2001), Công ước số 184 về ATVSLĐ trong nông
nghiệp.
73. Tổ chức Lao động quốc tế (2006), Công ước số 187 về cơ chế thúc đẩy ATVSLĐ,
Điểm d Điều 1.
74. Tổ chức Lao động quốc tế (2006), Công ước số 187 về cơ chế thúc đẩy ATVSLĐ,
Điều 2.
75. Tổ chức Lao động quốc tế (2003), Chiến lược toàn cầu về an toàn vệ sinh lao
động, Văn phòng ILO, Hà Nội.
76. Tổ chức Lao động quốc tế (2005), Chiến lược khu vực về ATVSLĐ cho các nước
Đông Nam Á –WHO, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội.
77. Tổ chức Lao động quốc tế (2013), Hệ thống quốc gia về ghi chép và thông báo về
bệnh nghề nghiệp, Văn phòng ILO, Hà Nội.
78. Tổ chức Lao động Quốc tế (2001), Hướng dẫn về hệ thống quản lý ATVSLĐ, Văn
phòng Tổ chức Lao động quốc tế, Hà Nội.