i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
MỤC LỤC BẢNG BIỂU iii
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
LỜI MỞ ĐẦU - 1 -
CHƢƠNG 1: HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ VÀ HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI 3
I. Hợp đồng điện tử 3
1.1. Khái niệm về hợp đồng điện tử 3
1.2. Đặc điểm của hợp đồng điện tử 3
1.3. Những khác biệt về Giao kết hợp đồng điện tử và Giao kết hợp đồng
truyền thống 7
II. Hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài 12
2.1. Khái niệm về hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài 12
2.2. Đặc điểm của hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài 17
2.3. Chữ ký và bằng chứng về hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài nƣớc
ngoài 26
III.Tìm hiểu các quy định pháp luật của Hoa Kỳ về hợp đồng điện tử có yếu tố
3.1 Hoa Kỳ chƣa có đạo luật riêng về Hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài 26
3.2. Luật giao dịch điện tử đã thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử
nhƣ hợp đồng truyền thống 27
3.3. UETA đƣa ra quy định về trình tự giao kết hợp đồng điện tử 28
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI -29-
I. Nhận xét chung 30
1.1. Những thuận lợi và kết quả 30
1.2. Những bất cập và nguyên nhân 32
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2 iii
MỤC LỤC BẢNG BIỂU
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1
Doanh thu từ TMĐT, giai đoạn từ 1997 đến 2008
Biểu đồ 2
Tỷ lệ doanh nghiệp có website qua các năm
2004 – 2008
Biểu đồ 3
Quy mô doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch
thƣơng mại điện tử
BẢNG
Bảng 1
Thống kê sự tăng trƣởng lƣợng ngƣời sử dụng
Internet từ năm 2000 đến năm 2008 ở một số
châu lục và thế giới.
Bảng 2
Danh sách một số hãng hàng không ở Việt Nam
cho phép tra cứu thông tin và đặt chỗ trực tuyến
Bảng 3
Chƣơng trình bán vé máy bay điện tử của một số
CNTT
Công nghệ thông tin
UNCITRAL
Uỷ ban Liên Hợp quốc về Luật Thƣơng mại
quốc tế
(United Nations Conference on International
Trade Law)
UNCTAD
Diễn đàn Liên Hợp quốc về Thƣơng mại và Phát
triển
(United Nations Conference on Trade and
Development)
LTM
Luật thƣơng mại
BLDSVN
Bộ luật dân sự Việt Nam
TMDT
Thƣơng mại điện tử
GD ĐT
Giao dịch điện tử
WTO
Tổ chức Thƣơng mại thế giới (World Trade
Organization)
1
LỜI MỞ ĐẦU
2 2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu về những quy định của pháp luật Việt Nam về giao kết
hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài và nêu bật những bất cập đó để những quy
định này trở nên phù hợp hơn, đầy đủ hơn trong việc hƣớng dẫn các chủ thể Việt
Nam giao kết hợp đồng điện tử với đối tác nƣớc ngoài.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật về hợp đồng
điện tử, hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài và giao kết hợp đồng điện tử có yếu
tố nƣớc ngoài.
Phạm nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc phân tích những quy định của
pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng điên tử có yếu tố nƣớc ngoài, không phân
tích việc thực hiện hay giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng điện tử. Phạm vi
nghiên cứu của đề tài cũng giới hạn chỉ ở các hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc
ngoài trong lĩnh vực thƣơng mại.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc thực hiện dựa trên việc áp dụng các phƣơng pháp nghiên cứu
tổng hợp nhƣ: phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp tổng hợp, phƣơng pháp so
sánh, phƣơng pháp dẫn chiếu tới các luật và cam kết quốc tế nhƣ cam kết gia nhập
WTO của Việt Nam…nhằm đạt đƣợc yêu cầu đặt ra đối với bài nghiên cứu.
5. Bố cục của đề tài
Bài nghiên cứu ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo có kết cấu
gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Hợp đồng điện tử và hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài
Chƣơng 2: Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về giao kết
hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài
1.2. Đặc điểm của hợp đồng điện tử
Là một hợp đồng, hợp đồng điện tử có nhiều điểm giống hợp đồng truyền
thống. Đó là:
-Hợp đồng điện tử cũng là sự thoả thuận thống nhất ý chí giữa các bên. Về
điều này, điều 308 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 đã khẳng định: “sự thoả
thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với
nhau”. Dù là hợp đồng truyền thống hay hợp đồng điện tử, dù là hợp đồng đƣợc
giao kết bằng lời nói, bằng hành vi, bằng văn bản hay bằng các phƣơng tiện điện tử
thì điều quan trọng là hợp đồng chỉ hình thành nếu các bên giao kết đạt đƣợc sự 1
Điều 33 Luật giao dịch điện tử năm 2005
2
Điều 4 khoản 12 Luật Giao dịch điện tử năm 2005
3
Điều 4 khoản 10 Luật giao dịch điện tử năm 2005 4
thoả thuận rõ ràng, cụ thể về quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Trong đó sự thống
nhất ý chí giữa các bên đƣơng sự là điều quan trọng nhất làm nên hợp đồng, cho dù
là hợp đồng truyền thống hay hợp đồng điện tử.
-Hợp đồng điện tử khi giao kết và thực hiện, chúng đều phải dựa trên những
cơ sở pháp lý nhất định và phải tuân thủ những quy định liên quan đến hình thức
của hợp đồng, chủ thể của hợp đồng, điều kiện hiệu lực của hợp đồng, quy trình
giao kết hợp đồng, chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh
chấp phát sinh, nếu có.
-Khi giao kết hợp đồng điện tử, các bên giao kết hợp đồng điện tử phải tuân
vụ mạng và các cơ quan chứng thực chữ ký điện tử. Những bên thứ ba này có
nhiệm vụ truyền đi, lƣu trữ các thông tin giữa các bên giao kết hợp đồng điện tử.
Với đặc thù giao kết dƣới dạng các phƣơng tiện điện tử, việc giao kết hợp
đồng điện tử sẽ gặp rủi ro nếu không có các nhà cung cấp dịch vụ mạng và các cơ
quan chứng thực chữ ký điện tử. Các nhà cung cấp dịch vụ mạng có trách nhiệm
duy trì hệ thống mạng (mạng nội bộ của doanh nghiệp cũng nhƣ mạng quốc gia)
luôn ở trong tình trạng hoạt động tốt với với cơ chế 24/24 giờ. Hệ thống mạng trục
trặc lập tức sẽ ảnh hƣởng tới việc giao kết hợp đồng điện tử ở phạm vi từng đơn vị,
từng doanh nghiệp…cũng nhƣ ở phạm vi quốc gia. Còn cơ quan chứng thực chữ ký
điện tử sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và tạo ra đƣợc một cơ chế để
cung cấp bằng chứng sao cho các hợp đồng điện tử không thể bị giả mạo và không
thể bị phủ nhận khi tranh chấp phát sinh.
Chính vì vậy, đối với hợp đồng điện tử, chừng nào hệ thống mạng có trục trặc,
chừng nào các cơ quan chứng thực chữ ký điện tử chƣa đƣợc thành lập, thậm chí
đƣợc thành lập nhƣng chƣa hoạt động thì chừng đó, việc giao kết hợp đồng điện tử
cũng nhƣ việc thực hiện hợp đồng điện tử cũng khó có thể thành công. Rủi ro sẽ là rất
lớn nếu chƣa có ngƣời thứ ba này tham gia vào quá trình giao kết hợp đồng điện tử.
Những ngƣời thứ ba này không tham gia trực tiếp vào quá trình đàm phán,
giao kết hay thực hiện hợp đồng điện tử. Họ tham gia một cách gián tiếp với tƣ
cách là các cơ quan hỗ trợ nhằm đảm bảo tính hiệu quả và giá trị pháp lý cho việc
giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử.
Địa vị pháp lý của họ, với tƣ cách là các chủ thể tham gia gián tiếp vào một
khâu của quá trình giao kết hay thực hiện hợp đồng điện tử cần phải đƣợc quy định
trong luật. Đây là điểm làm nên sự khác biệt của giao kết hợp đồng điện tử.
Về nội dung
Về nội dung, hợp đồng điện tử có một số điểm khác biệt với hợp đồng truyền
thống. Những điểm khác biệt đó là:
-Địa chỉ pháp lý: ngoài địa chỉ pháp lý thông thƣờng (địa chỉ bƣu điện) hợp
đồng điện tử còn có địa chỉ e-mail, địa chỉ website, địa chỉ xác định nơi, ngày giờ
gửi fax…Những địa chỉ điện tử này có ý nghĩa rất lớn để xác định tính hiện hữu, sự
Về luật điều chỉnh
-Về luật điều chỉnh, ngoài các quy định chung về hợp đồng trong Bộ luật Dân
sự sẽ đƣợc áp dụng cho cả hợp đồng truyền thồng và hợp đồng điện tử, do tính chất
đặc thù của hợp đồng điện tử và do những vấn đề kỹ thuật công nghệ đặc biệt (hay 7
chính là các rủi ro về mặt công nghệ) nảy sinh trong quá trình giao kết và thực hiện
các hợp đồng điện tử mà loại hợp đồng này thƣờng còn phải đƣợc đặc biệt điều
chỉnh bởi một hệ thống quy phạm pháp luật đặc thù, dành riêng cho hợp đồng điện
tử. Đó là những quy định về hợp đồn điện tử.
Điều đó giải thích tại sao để phát triển hoạt động thƣơng mại nói chung và
tăng cƣờng giao kết hợp đồng điện tử nói riêng, ở phạm vi quốc gia hay quốc tế,
các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xây dựng một khung pháp lý dành riêng
cho hoạt động thƣơng mại điện tử trong đó có những quy định về việc giao kết hợp
đồng điện tử…Và vì vậy, ngày nay, ở nhiều nƣớc, bên cạnh các đạo luật về hợp
đồng truyền thống, ngƣời ta đã phải ban hành Luật giao dịch điện tử, Luật về Giao
kết hợp đồng điện tử, Luật về Thƣơng mại điện tử, Luật về chữ ký điện tử v.v…
1.3. Những khác biệt về Giao kết hợp đồng điện tử và Giao kết hợp đồng
truyền thống
1.3.1. Khái niệm về giao kết hợp đồng điện tử
Giao kết hợp đồng là thuật ngữ đƣợc Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 sử
dụng để chỉ việc ký kết hợp đồng
5
. Vì vậy, giao kết hợp đồng điện tử là quá trình
đàm phán, thuơng thảo, tạo lập và ký kết hợp đồng thông qua việc trao đổi các dữ
liệu điện tử.
Luật giao dịch điện tử năm 2005 của Việt Nam định nghĩa: “Giao kết hợp
đồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ
thì cũng cần phải xác định
thời điểm một thông điệp dữ liệu (ví dụ, một chấp nhận chào hàng) đƣợc “gửi” bởi
ngƣời khời tạo (ngƣời đƣợc chào hàng) hay đƣợc nhận bởi ngƣời nhận (ngƣời chào
hàng). Thời điểm gửi thông điệp số đi sẽ là thời điểm thông điệp số đƣợc chuyển ra
ngoài hệ thống thông tin của ngƣời gửi, hay là thời điểm thông điệp đó đƣợc nhập
vào hệ thống thông tin ngoài ngoài tầm kiểm soát của ngƣời gửi (đó có thể là hệ
thống của một bên trung gian hay chính là hệ thống của ngƣời nhận). Còn thời gian
nhận đƣợc thông điệp số là thời điểm thông tin đó nhập vào hệ thống thông tin của
ngƣời nhận, khi nó đến máy chủ của ngƣời chào hàng, khi nó đƣợc tải về máy tính
của ngƣời này, hay khi ngƣời chào hàng đọc nó? Các thời điểm này có thể khác
nhau phụ thuộc vào thời điểm ngƣời chào hàng nối mạng (connect).
Liên quan đến việc xác định thời điểm gửi và nhận thông điệp dữ liệu, có một
số quan điểm nhƣ sau:
1. Khi quy định về thời điểm gửi thông điệp dữ liệu, khoản 1 điều 15 của Luật
mẫu về Thƣơng mại điện tử năm 1998 của INCITRAL
8
đã đề cập đến “ hệ thống
thông tin” (“information systerm”)trên mạng nhƣ là môi trƣờng thông điệp đƣợc
gửi đi. Điều này đã gián tiếp thể hiện quan điểm xem môi trƣờng mạng là môi
trƣờng thông điệp dữ liệu đƣợc gửi đi 7
T huyết tống phát cho rằng một thông điệp có hiệu lực từ khi thông điệp đó đƣợc gửi đi (thuyết này tồn
tại chủ yếu ở Anh, Mỹ và các quốc gia theo hệ thống Common Law). Còn thuyết tiếp thu cho rằng một thông
điệp chỉ có hiệu lực khi nó đến tay ngƣời nhận (các quốc gia theo hệ thống Civil Law, trong đó có Việt Nam, đều
chấp nhận thuyết này)
8
Khoản 1 điều 15 Luật mẫu về Thƣơng mại điện tử năm 1998 của UNCITRAL: "Unless otherwise agreed between
the originator and the addressee, the dispatch of a data message occurs when it enters an information system outside the
điểm các bên có mặt, một cách thực tế, khi gửi/nhận hay hay không? Một địa điểm
nhƣ vậy sẽ đƣợc xác định và chứng minh nhƣ thế nào? Điều này dƣờng nhƣ khó có
thể thực hiện đƣợc do tính phi biên giới và tính ảo của môi trƣờng điện tử. Và khi 9
Khoản 1.a điều 15 Đạo luật Giao dịch điện tử thống nhất năm 1999 của Hoa Kỳ: "Unless of otherwise agreed
between the sender and the recipient, an electronic record is sent when it: (a) is addressed properly or otherwise directed
properly to an information processing system that the recipient has designated or uses for the purpose of receiving electronic
records or information of the type sent and from which the recipient is able to retrieve the electronic record…". Trích từ trang
29 Tập 2 đề tài "Một số vấn dề pháp lý về giao dịch điện tử" năm 2003 của Đại học Luật TP.HCM.
10
Điều 10 và 11 Luật Giao dịch điện tử năm 2000 của New Zealand:
"10. Time of dispatch
(1) An electronic communication is taken to be dispatched at the time the electronic communication first enters an
information system outside the control of the originator…
11. Time of receipt
An electronic communications is taken to be received, -
(a) in the case of an addressee who has designated an information system for the purpose of receiving electronic
communications, at the time the electronic communication enters that information system; or
(b)in any other case, at the time the electronic communication comes to the attention of the addressee."
Trích từ trang 164, 165 Tập 2 đề tài "Một số vấn dề pháp lý về giao dịch điện tử" năm 2003 của Đại học Luật TP.HCM. 10
đã xác định đƣợc một địa điểm nhƣ vậy thì sẽ xảy ra trƣờng hợp địa điểm này lại
không có mối liên hệ với các chủ thể tham gia, với nơi phát sinh nghĩa vụ hay với
nơi thực hiện nghĩa vụ. Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra sẽ là cần xác định địa điểm
gửi và nhận thông điệp dữ liệu nhƣ thế nào và theo nguyên tắc nào?
11
Điều 2 - Luật mẫu của UNCITRAL năm 2001 về chữ ký điện tử 11
nói cách khác cần có biện pháp nào để các bên có thể xác định đƣợc chữ ký điện tử
của đối tác. Trong lĩnh vực này, cần có một cách thức nào đó mang tính kỹ thuật
hoặc một cơ quan trung gian nhằm chứng thực tính xác thực và đảm bảo độ tin cậy
của chữ ký điện tử. Cách thức này hoặc cơ quan này đƣợc hình thành nhằm cung
cấp một chứng thực (certification) mang nhiều ý nghĩa cả về mặt pháp lý lẫn về mặt
công nghệ. Đây là một vấn đề không phát sinh khi giao kết hợp đồng truyền thống
nhƣng lại rất cần đƣợc quan tâm nhằm bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng điện tử
đƣợc an toàn.
1.3.4. Vấn đề về bản gốc và lƣu trữ hợp đồng điện tử
Các hợp đồng đƣợc ký kết theo phƣơng thức truyền thống thƣờng đƣợc kết
thúc bằng nội dung nhƣ sau: “Hợp đồng này đƣợc làm thành 4 bản có giá trị ngang
nhau, mỗi bên giữ 2 bản”. Điều đó có nghĩa là, có 4 bản gốc của hợp đồng và mỗi
bên giữ hai băn. Bản gốc là thể hiện tính toàn vẹn của thông tin chứa đựng trong
văn bản, đảm bảo thông tin trong tài liệu không bị thay đổi. Để chứng minh hợp
đồng, các bên thƣờng phải đƣa ra bản gốc của hợp đồng đó. Bản gốc của các hợp
đồng truyền thống có vai trò rất quan trọng khi có tranh chấp phát sinh. Chúng là
bằng chứng có tính quyết định về sự tồn tại hợp đồng giữa các bên.
Đối với hợp đồng điện tử, vì hợp đồng đƣợc “thể hiện” qua các dữ liệu điện
tử, các thông điệp số, mà các thông điệp số này có thể đƣợc sao, lƣu, phát tán trên
mạng, do đó mà có thể tạo ra nhiều bản gốc. Vì vậy, khái niệm “bản gốc” và việc
“lƣu trữ” hợp đồng điện tử trở nên khó khăn hơn so với một hợp đồng truyền thống.
Hợp đồng điện tử thông thƣờng sẽ đƣợc “lƣu trữ” dƣới dạng thông điệp số mà
không đƣợc thể hiện ra dƣới một hình thức có thể “ sờ mó”, “cầm nắm” đƣợc. Làm
thế nào để thông tin lƣu trữ đó không bị sửa đổi trong thời gian lƣu trữ? Đặc biệt,
cần hiểu về hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài.
2.1.1. Khái niệm hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài.
Hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài là hợp đồng mang tính chất quốc tế. Tính
quốc tế của hợp đồng điện tử đƣợc thể hiện ở chỗ chủ thể của hợp đồng là các bên
có quốc tịch khác nhau hoặc có trụ sở Thƣơng mại ở các nƣớc khác nhau; hàng hoá
dịch vụ là đối tƣợng của hợp đồng có thể đƣợc chuyển qua biên giới; đồng tiền
thanh toán có thể là ngoại tệ. 13
2.1.2. Về nội hàm khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Khảo cứu về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, có thể thấy từ xƣa tới nay,
cả trong và ngoài nƣớc, trong văn bản pháp lý cũng nhƣ tác phẩm của các nhà luật
học, kinh tế học đã xuất hiện quá nhiều tên gọi về loại hợp đồng này: “hợp đồng
mua bán trong tư pháp quốc tế, hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng xuất
nhập khẩu hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng mua bán
hàng hóa với thương nhân nước ngoài, hợp đồng mua bán quốc tế, hợp đồng mua
bán có tính chất quốc tế ” Khi mà tên gọi khác nhau, thì cũng là lẽ thƣờng cho
một thực tế là việc định vị nội hàm khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
về mặt lý luận hiện vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Bỏ qua sự khác biệt
về tên gọi, nhìn một cách tổng thể thì nhận thức về nội hàm khái niệm hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế của giới khoa học pháp lý đứng trƣớc một câu hỏi lớn:
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán trong tƣ pháp quốc tế
(nghĩa là bao gồm cả việc mua bán trong lĩnh vực dân sự - “dân sự” hiểu theo tinh
thần Bộ luật dân sự Việt Nam 1995 (BLDSVN 1995) và mua bán trong lĩnh vực
thƣơng mại) hay chỉ là một phần của hợp đồng mua
bán trong tƣ pháp quốc tế (nghĩa là chỉ là hợp đồng mua bán hàng hóa trong lĩnh
vực thƣơng mại nhƣng có yếu tố nƣớc ngoài)?
Nhƣ vậy, về mặt lý luận hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải đảm bảo
Thứ hai, hành vi chào hàng và hành vi chấp nhận chào hàng đƣợc thực hiện
trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau;
Thứ ba, việc giao hàng đƣợc thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia khác
với quốc gia nơi tiến hành hành vi chào hàng hoặc hành vi chấp nhận chào hàng.
Công ƣớc Viên 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế (United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods)
không đƣa ra định nghĩa nào về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhƣng Điều 1
quy định:
“1. Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên
có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau:
a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc,
b. Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước
thành viên Công ước này.
2. Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không
tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình
thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông
tin giữa các bên.
3. Quốc tịch của các bên, quy chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính chất
dân sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp
dụng của Công ước này”. 15
Qua đó, có thể hiểu rằng, theo Công ước thì việc chủ thể của hợp đồng là các
bên có trụ sở ở các nước khác nhau được coi là dấu hiệu xác định yếu tố nước
ngoài trong quan hệ hợp đồng. Tiếp tục làm rõ hơn vấn đề này, Điều 10 Công ƣớc
quy định, nếu một bên có hơn một trụ sở thƣơng mại trở lên thì trụ sở thƣơng mại
của họ sẽ là trụ sở nào có mối liên hệ chặt chẽ nhất đối với hợp đồng và đối với
việc thực hiện hợp đồng đó, có tính tới những tình huống mà các bên đều biết hoặc
Trƣớc thời điểm ban hành LTMVN 1997, khái niệm “hợp đồng mua bán
ngoại thương” đƣợc ghi nhận trong Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK về hƣớng
dẫn việc ký kết hợp đồng mua bán ngoại thƣơng do Bộ Thƣơng nghiệp (nay là Bộ
Công Thƣơng) ban hành ngày 31/07/1991: “hợp đồng mua bán ngoại thương là
hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế” với ba tính chất sau: thứ nhất, chủ thể của
hợp đồng là những pháp nhân có quốc tịch khác nhau; thứ hai, hàng hóa là đối
tƣợng của hợp đồng đƣợc dịch chuyển từ nƣớc này sang nƣớc khác; thứ ba, đồng
tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại tệ đối với một bên hoặc cả hai bên ký kết
hợp đồng.
Đến thời kỳ ra đời và vận hành LTMVN 1997, thì lại xuất hiện tên gọi “hợp
đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài” (quy định tại Điều 80
LTMVN 1997): “hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài là hợp
đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với
một bên là thương nhân nước ngoài”. Nhƣ vậy, tiêu chí để xác định yếu tố nƣớc
ngoài cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (đƣợc gọi với cái tên “hợp đồng
mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài”) chỉ là yếu tố quốc tịch của các
bên chủ thể hợp đồng. Theo đó, có thể thấy LTMVN 1997 đã thu hẹp nội hàm khái
niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Với cách hiểu này thì một loạt các hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế khác sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh LTMVN
1997 nhƣ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa các thƣơng nhân Việt Nam với
nhau nhƣng việc ký kết đƣợc tiến hành ở nƣớc ngoài, hợp đồng mua bán hàng hóa
giữa thƣơng nhân nƣớc ngoài với nhau ở Việt Nam Điều này không chỉ đặt ra
những vấn đề khó phúc đáp về lý luận mà còn cả sự khó khăn đối với việc áp dụng
pháp luật trong thực tiễn khi mà BLDSVN 1995 chƣa đƣợc xác định rõ là “đạo luật
mẹ” hay không.
Hiện nay, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đƣợc quy định trong LTMVN
2005 và Nghị định 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/01/2006 quy định chi
tiết thi hành Luật Thƣơng mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt
tƣơng đồng giống nhƣ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. 18
Tuy nhiên, hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài có những điểm khác biệt
đối với hai loại hợp đồng này.
2.2.1. Về chủ thể giao kết
Sự khác biệt lớn nhất về chủ thể của giao kết hợp đồng điện tử nói chung và
hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài là phạm vi điều chỉnh. Chủ thể của hợp
đồng điện tử rộng hơn chủ thể của hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài. Nếu
không kể đến sự có mặt của các bên thứ ba có liên quan chặt chẽ đến hợp đồng
điện tử có nhiệm vụ chuyển đi, lƣu trữ các thông tin giữa các bên tham gia giao
dịch thƣơng mại điện tử, đồng thời họ cũng có thể đóng vai trò trong giao dịch
thƣơng mại điện tử thì chủ thể tham gia giao kết hợp đồng điện tử giống nhƣ chủ
thể tham gia giao kết đối với thƣơng mại truyền thống nói chung (tức là gồm ngƣời
bán, ngƣời mua,v.v nói chung). Nhƣng đối với hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc
ngoài thì chủ thể tham gia đƣợc quy định cụ thể hơn (giống với giao kết hợp đồng
đơn thuần có yếu tố nƣớc ngoài), đó là: có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ
quan, tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài hoặc là
các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhƣng căn
cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nƣớc ngo
Chính chủ thể hẹp, cụ thể hơn sẽ giúp cho việc quản lý cũng nhƣ điều chỉnh
các giao kết hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài chặt chẽ hơn, giúp các bên dễ
dàng áp dụng các luật điều chỉnh trong quá trình thực hiện giao kết hợp đồng điện
tử mang yếu tố nƣớc ngoài.
Căn cứ vào đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế để thấy
đƣợc đặc điểm về chủ thể giao kết của hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài
Có thể nói khi đã tham gia một giao dịch (đặc biệt là một giao dịch thƣơng
chung: nếu chủ thể là cá nhân thì năng lực chủ thể đƣợc xác định theo pháp luật của
nƣớc ký kết mà ngƣời đó là công dân; còn nếu chủ thể là pháp nhân thì năng lực
chủ thể xác định theo pháp luật nƣớc ký kết nơi thành lập pháp nhân đó (đa số
HĐTTTP xác định theo cách này) hoặc nơi pháp nhân có trụ sở (một số HĐTTTP
nhƣ HĐTTTP Việt Nam - Ba Lan, HĐTTTP Việt Nam - Hungary).
Cho dù không đƣa ra hệ thuộc luật trực tiếp điều chỉnh năng lực chủ thể trong
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhƣng pháp luật Việt Nam cũng đã có những
quy định trực tiếp về năng lực chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: 13
xem thêm Giáo trình Tƣ pháp quốc tế - Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2007. 20
Thƣơng nhân
14
Việt Nam không có vốn đầu tƣ của nƣớc ngoài (Thƣơng nhân
không có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài gồm có: các doanh nghiệp Nhà nƣớc, các
doanh nghiệp đƣợc thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã; các hộ
kinh doanh cá thể đƣợc thành lập và đăng ký kinh doanh theo Nghị định số
109/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về đăng ký kinh
doanh)
15
đƣợc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề
đăng ký kinh doanh, chỉ trừ các hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm
ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu.
Chi nhánh thƣơng nhân cũng đƣợc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo ủy quyền
của thƣơng nhân (Điều 3 Nghị định 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày
gia có trụ sở đặt ở nƣớc ngoài. Đây cũng chính là một điểm quy định riêng , bắt
buộc đối với hợp đồng điện tử có yếu tố nƣớc ngoài mà hợp đồng điện tử không có.
Sự kết hợp của hai yếu tố nà làm nên đặc điểm của chủ thể hợp đồng có yếu tố
nƣớc ngoài.
2.2.2. Về luật điều chỉnh
Với sự xuất hiện của thƣơng mại điện tử, đặc tính ranh giới vốn là đặc tính cố
hữu của ngoại thƣơng truyền thống đã bị xoá bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên nó cũng trở
thành vấn đề khó khăn cho các quốc gia trong việc xây dựng một khung pháp lý về
Giao dịch điện tử trong phạm vi quốc tế. Hệ thống pháp luật thống nhất đạt đƣợc
thoả thuận mang tính đa biên mà không gặp các rào cản về lãnh thổ. Chính vì vậy,
các tổ chức quốc tế, trong khuôn khổ hoạt động của mình, đều xây dựng những
chƣơng trình chung, định hƣớng chung hay những quy tắc chung nhằm hƣớng dẫn
cho các quốc gia xây dựng khung pháp lý cho thƣơng mại điện tử của mình sao cho
phải đạt đƣợc sự thống nhất, hài hoà trên phạm vi khu vực hay quốc tế. EU thì ban
hành một loạt các chỉ thị liên quan đến thƣơng mại điện tử, chữ ký điện tử cho các
quốc gia thanh viên; ASEAN thì đã có Hiệp định khung về thƣơng mại điện
tử Các quốc gia, tuỳ vào điều kiện, tình hình của mình mà ban hành các văn bản
pháp luật về thƣơng mại điện tử, nhƣng về nguyên tắc phải tuân thủ những quy tắc
hay chƣơng trình chung đã đƣợc đƣa ra.
Tính thống nhất là yêu cầu quan trọng nhất của cơ sở pháp lý cho thƣơng mại
điện tử nói chung và hợp đồng điện tử nói riêng trên phạm vi quốc tế. Giả sử một
dạng chữ ký điện tử đƣợc công nhận theo pháp luật của quốc gia này nhƣng lại
không đƣợc công nhận ở một quốc gia khác, thì hợp đồng điện tử đƣợc giao kết
giữa các chủ thể của hai quốc gia sẽ khó có thể đảm bảo về tính hiệu lực cũng nhƣ
độ an toàn cho các giao dịch. Chính trên tƣ duy này mà hai Luật mẫu của
UNCITRAL đƣợc soạn thảo nhằm hƣớng dẫn các quốc gia ban hành các văn bản
luật thống nhất về thƣơng mại điện tử. Mặc dù chỉ là Luật mẫu nhƣng giá trị tham
khảo của nó là rất lớn, đặc biệt với các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, điều quan trọng là các quốc gia phải nỗ lực hơn nữa để biến Luật này