luận văn chuyên ngành bảo hiểm Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài. Thực trạng và hướng hoàn thiện - Pdf 27

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ts. Phạm Văn Tuyết. Bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam. Nxb Tư
pháp. Năm 2007.
2. Ts Đỗ Văn Đại – PGS Ts Mai Hồng Quỳ. Tư pháp quốc tế Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc
gia 2010.
3. Trường Đại Học Luật Hà Nội. Giáo trình Tư pháp quốc tế. Nxb Công an nhân dân 2008.
4. Ths. Trần Vũ Hải. Các nội dung chưa hợp lý trong luật kinh doanh bảo hiểm. Tạp chí
nghiên cứu lập pháp số 130 tháng 9 năm 2008.
5. Tạp chí thị trường bảo hiểm – tái bảo hiểm Việt Nam số 4 năm 2010
6. Chương trình phát triển Liên hợp quốc. Báo cáo nghiên cứu khả năng cạnh tranh và tác
động của tự do hóa thương mại dịch vụ tài chính: ngành bảo hiểm.
7. Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam. Hệ thống ngắn gọn về WTO và các cam
kết gia nhập của Việt Nam.
8. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 1992.
9. Bộ luật dân sự 2005.
10. Luật kinh doanh bảo hiểm 2000.
11. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm 2010.
12. Luật hàng hải 2005.
13. Luật hàng không dân dụng 2006.
14. Nghị định 45/2007/NĐ – CP quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật kinh doanh
bảo hiểm.
15. Nghị định 46/2007/NĐ – CP quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
16. Thị trường bảo hiểm 2008: Tăng trưởng trong thách thức, khó khăn
/>kho-khan/ct-325079
17.
18.
him-hang-hoa-xut-nhp-khu-ngoai-tm-vi-ca-dn-&catid=20%3Atin-lien-
quan&Itemid=32&lang=en
/>chay-theo-trao-luu.html
LỜI NÓI ĐẦU

bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài nói riêng.
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin,
quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Trên nền tảng phương pháp luận đó, tác
giả sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phương pháp phân tích -tổng hợp, phương pháp
so sánh, đối chiếu, phương pháp phân tích lịch sử.
4. Bố cục và nội dung cơ bản:
Ngoài phần Lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của khóa
luận được triển khai theo 2 chương sau:
- Chương 1: Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài và pháp luật về
hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài và một số
giải pháp nhằm hoàn thiện chế định hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài.
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI.
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VÀ
HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI.
1.1.1 Khái lược sự hình thành và phát triển của bảo hiểm có yếu tố nước
ngoài:
Bảo hiểm là một quan hệ xã hội giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người mua bảo
hiểm được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ, theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi
ro của người được bảo hiểm và cam kết sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm hoặc trả
tiền cho người thụ hưởng những tổn thất trong phạm vi bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm
xảy ra, từ số tiền mà những người mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp
bảo hiểm.
Bảo hiểm có yếu tố nước ngoài góp mặt trên thị trường Việt Nam ngay từ những
ngày đầu tiên của thị trường bằng sự tham gia của các công ty bảo hiểm của Pháp và Mỹ.
Cho tới nay, trên thị trường Việt Nam mở cửa, bảo hiểm có yếu tố nước ngoài đã có nhiều
phát triển.

đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài. Trên cơ sở pháp lý được hoàn thiện, thị trường bảo
hiểm có yếu tố nước ngoài phát triển mạnh mẽ hơn. Trong giai đoạn này, nhiều doanh
nghiệp bảo hiểm nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Việt Nam đã cấp phép cho 1 công ty
bảo hiểm cổ phần ngoài quốc doanh (Viễn Đông) và 2 công ty phi nhân thọ 100% vốn
nước ngoài (Alianz, Group Pama), 4 công ty bảo hiểm nhân thọ (Bảo Minh CMG,
Prudential, Manu Life, AIA) và tiếp tục cấp phép cho các công ty liên doanh khác: Việt
Úc, SVI, IAI. Những doanh nghiệp bảo hiểm này tham gia vào thị trường Việt Nam
không những gia tăng về số lượng mà còn có hiệu quả kinh doanh cao. Năm 2004, Công
ty Prudential Việt Nam (doanh nghiệp nước ngoài lớn nhất trong lĩnh vực bảo hiểm nhân
thọ) có mức lãi 61 tỷ đồng sau 5 năm hoạt động tại Việt Nam.
Giai đoạn 2005 – 2006 được coi là bước đệm cho tiến trình hội nhập kinh tế thế
giới của Việt Nam cũng như lộ trình mở cửa thị trường bảo hiểm, đón nhận sự tham gia
của các nhà đầu tư nước ngoài. Nhiều công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được
cấp phép hoạt động như AIG, QBE, ACE, Liberty, ACE Life, Prevoir, New york Life.
Trong giai đoạn này, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam bị chi phối bởi các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về cả số lượng doanh nghiệp lẫn thị phần. Trên thị
trường bảo hiểm nhân thọ chỉ có duy nhất một công ty bảo hiểm nhân thọ Việt Nam là
Bảo Việt Nhân Thọ, còn lại là 7 công ty bảo hiểm nhân thọ có vốn đầu tư nước ngoài.
Tính đến hết năm 2005, thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trên thị trường
như sau: Doanh nghiệp nhà nước 37,5%, công ty liên doanh 3,5%, công ty 100% vốn đầu
tư nước ngoài 59%.
1
Sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO (2007), theo thống
kê từ Bộ tài chính, cho tới năm 2008, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 11 doanh nghiệp
bảo hiểm nhân thọ, 26 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 1 doanh nghiệp tái bảo hiểm
và 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm với tổng số vốn chủ sở hữu gần 18.000 tỷ đồng;
trong đó 21 doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài, bao gồm: phi nhân thọ có 11
doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài (4 liên doanh), nhân thọ có 10 doanh nghiệp
bảo hiểm 100% vốn nước ngoài, môi giới bảo hiểm có 4 doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài.

35% kim ngạch hàng nhập, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu được bảo hiểm khoảng 5%.
4
Ngoài ra, bảo hiểm có yếu tố nước ngoài còn bao gồm hoạt động bảo hiểm của các
doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nước ngoài. Hoạt động này được bắt đầu từ năm
2004 với các hợp đồng cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các dự án dầu khí lớn tại nước
ngoài của công ty bảo hiểm Dầu khí Việt Nam. Cho tới nay, doanh nghiệp bảo hiểm này
đã ký kết được rất nhiều hợp đồng bảo hiểm cho các đối tác tại nước ngoài với giá trị mỗi
3 />nam-nam-2010.html
4 />khu-ngoai-tm-vi-ca-dn-&catid=20%3Atin-lien-quan&Itemid=32&lang=en
hợp đồng lên đến hàng trăm triệu USD. Hiện nay, khi thị trường bảo hiểm trong nước có
sự cạnh tranh gay gắt, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã hướng tới việc khai
thác các thị trường bảo hiểm nước ngoài khác như Lào, Campuchia…
5
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Bảo hiểm có yếu tố nước ngoài có vai trò tích cực trong việc phát triển thị trường
bảo hiểm ở Việt Nam:
- Thứ nhất, bảo hiểm có yếu tố nước ngoài đã làm tăng tính cạnh tranh cho thị trường bảo
hiểm, tạo sức ép cho bảo hiểm trong nước phát triển.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với
nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên
thị trường. Đặc trưng của nền kinh tế này là sự tự do cạnh tranh. Sự ra đời và phát triển
của bảo hiểm có yếu tố nước ngoài có nhiều ý nghĩa trong việc phát triển một nền kinh tế
thị trường ở nước ta, buộc các doanh nghiệp trong nước phải tăng khả năng cạnh tranh
của mình. Các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam
đều là các doanh nghiệp có chỉ số năng lực cạnh tranh rất cao như: tiềm lực tài chính dồi
dào; nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, chuyên nghiệp; hệ thống quản lý rủi ro,
công nghệ khoa học, tiên tiến. Với những điều kiện thuận lợi như vậy, các doanh nghiệp
bảo hiểm nước ngoài sẽ cung cấp các dịch vụ bảo hiểm có chất lượng cao cho thị trường.
Khi đó, người mua bảo hiểm có nhiều sự lựa chọn hơn. Doanh nghiệp bảo hiểm trong
nước nếu không tự nâng cao năng lực của mình, đưa ra thị trường những sản phẩm bảo

thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại quốc tế INCOTERMS. Nếu hợp đồng này có áp
dụng các điều kiện CIF (tiền hàng, bảo hiểm và cước) hoặc điều kiện CIP (cước phí bảo
hiểm và trả tới) thì việc thực hiện một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đó phải kèm
theo việc thực hiện một hợp đồng bảo hiểm cho hàng hóa được vận chuyển. Nếu bên có
nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa không thực hiện nghĩa vụ của mình đối với
việc bảo hiểm hàng hóa thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bị vi phạm.
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
a. Khái niệm của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Bộ luật dân sự 2005, Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 cũng như các văn bản pháp lý
có liên quan đều không đưa ra định nghĩa về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài mà
chỉ đề cập đến các khái niệm: “hợp đồng bảo hiểm” và “quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài” như sau:
Bộ luật dân sự 2005 có ghi nhận tại Điều 567: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận
giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải
trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Còn
Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, tại Điều 12, cũng đưa ra khái niệm: “Hợp đồng bảo
hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó, bên
mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho
người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo
hiểm”. Mặc dù, về hình thức câu chữ khác nhau, nhưng có thể thấy, hai khái niệm này
cùng có sự thống nhất về bản chất của hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận của bên mua
bảo hiểm và bên doanh nghiệp bảo hiểm; cùng nêu ra được cơ chế thực hiện hợp đồng
bảo hiểm.
Tại Điều 758 Bộ Luật dân sự 2005 đã đưa ra khái niệm: “quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức,
cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự
giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi,
chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên
quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.
Trên cơ sở sự tiếp cận trên, có thể hiểu hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là

Tuy nhiên, quan hệ hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là quan hệ tư pháp
quốc tế nên hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài còn có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là hợp đồng có chứa đựng yếu tố
nước ngoài:
Theo lý luận tư pháp quốc tế Việt Nam, yếu tố nước ngoài của một hợp đồng dân sự
trong tư pháp quốc tế được thể hiện ở một trong các dấu hiệu: các bên chủ thể ký kết hợp
đồng có quốc tịch khác nhau; hợp đồng ký kết ở nước ngoài (nước các bên chủ thể không
mang quốc tịch hoặc không có trụ sở); đối tượng của hợp đồng là tài sản ở nước ngoài.
6

Trong khi đó, theo quy định của pháp luật nước Cộng Hòa Pháp, sự tham gia của người
nước ngoài không là yếu tố quyết định để cho rằng có yếu tố nước ngoài. Do vậy, khái
niệm “yếu tố nước ngoài” theo pháp luật Việt Nam được hiểu rộng hơn so với pháp luật
của Cộng Hòa Pháp.
7
Hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài cũng là một hợp đồng
dân sự có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, nó cũng chứa đựng các yếu tố nước ngoài như trên.
Chủ thể của hợp đồng có quốc tịch khác nhau:
Trong hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài, chủ thể của hợp đồng có thể là: bên
bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm có quốc tịch nước ngoài; doanh nghiệp bảo hiểm có
quốc tịch Việt Nam với bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân Việt Nam; người Việt Nam
định cư ở nước ngoài; và tổ chức, cá nhân có quốc tịch nước ngoài. Vậy ở đây có thể thấy
rằng, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố chủ thể nước ngoài sẽ là hợp đồng bảo hiểm được ký
kết giữa:
+ Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài với bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân Việt
Nam;
+ Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam với bên mua bảo hiểm là người Việt Nam định cư ở
nước ngoài;
+ Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam với bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có quốc
tịch nước ngoài.

được ký kết ở nước mà các bên mang quốc tịch nhưng đối tượng của hợp đồng tồn tại ở
nước ngoài, thì quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng này vừa phải chịu sự điều
chỉnh của luật của nước mà họ mang quốc tịch và luật của nước nơi đối tượng bảo hiểm
đang tồn tại.
Cũng do việc có thể chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật nên vấn đề
xung đột luật được đặt ra khi xem xét hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài. Xung đột
pháp luật là hiện tượng pháp lý trong đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia
vào điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế mà nội dung điều chỉnh trong mỗi hệ thống
pháp luật lại khác nhau.
Có hai cách giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước
ngoài: đó là phương pháp thực chất hoặc phương pháp xung đột.
Phương pháp xung đột được hình thành và xây dựng trên nền tảng hệ thống các qui
phạm xung đột quốc gia. Các quốc gia tự ban hành các qui phạm xung đột trong hệ thống
pháp luật nước mình để hướng dẫn chọn luật áp dụng để chủ động trong việc điều chỉnh
các quan hệ tư pháp quốc tế trong khi chưa xây dựng được đầy đủ các qui phạm thực chất
thống nhất. Ví dụ: Theo pháp luật Việt Nam, khoản 1 Điều 770 Bộ luật dân sự 2005 quy
định: “Hình thức của hợp đồng phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng.
Trong trường hợp hợp đồng được giao kết ở nước ngoài mà vi phạm quy định về hình
thức hợp đồng theo pháp luật nước đó, nhưng không trái với quy định về hình thức hợp
đồng theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hình thức hợp đồng được
giao kết ở nước ngoài đó vẫn được công nhận tại Việt Nam.” Như vậy, pháp luật Việt
Nam đã dẫn chiếu đến pháp luật của nước nơi hợp đồng được ký kết để điều chỉnh về
hình thức của hợp đồng có yếu tố nước ngoài cũng như hợp đồng bảo hiểm có yếu tố
nước ngoài.
Phương pháp thực chất là phương pháp được xây dựng trên cơ sở hệ thống các qui
phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế, điều này có ý nghĩa là nó
trực tiếp phân định quyền và nghĩa vụ rõ ràng của các bên tham gia. Qui phạm thực chất
thống nhất có trong các Điều ước quốc tế hay tập quán quốc tế.
1.2 NỘI DUNG ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ
YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI:

Thêm vào đó, hiện nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển sôi động với sự
góp mặt của nhiều doanh nghiệp nước ngoài thông qua chi nhánh và văn phòng đại diện
của mình, quan hệ bảo hiểm có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều và đa dạng và phức
tạp. Vì vậy, để thị trường phát triển bền vững, ổn định, cần phải có khung pháp lý qui
định về điều kiện chủ thể giao kết hợp đồng, nội dung, hình thức, hiệu lực, việc thực hiện
và việc xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài.
1.2.2. Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Như đã phân tích ở phần “một số vấn đề cơ bản về bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
và hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài”, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là
một quan hệ tư pháp quốc tế, vì thế, nó chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật:
luật trong nước, luật quốc tế và luật nước ngoài. Do vậy, việc giao kết và thực hiện hợp
đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài cũng phải tuân theo các qui định của những hệ
thống luật trên.
a. Luật trong nước:
Trong hệ thống Luật quốc gia, các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo hiểm
nói chung và điều chỉnh quan hệ hợp đồng bảo hiểm nói riêng bao gồm: Hiến pháp 1992;
Bộ luật dân sự 2005; Luật kinh doanh bảo hiểm 2000; Luật hàng hải 2005; Luật hàng
không dân dụng 2006.
- Hiến pháp 1992:
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của mỗi quốc gia, căn cứ vào các qui định của Hiến
pháp mà mỗi ngành luật cụ thể hóa bằng các qui định của mình để tác động tới các quan
hệ trong lĩnh vực mà nó điều chỉnh. Trong Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam 1992, Chương II có những qui định liên quan nhiều nhất đến quan hệ hợp đồng
bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Tại Điều 15, Điều 16, Hiến pháp xác định tính chất của nền kinh tế trong giai đoạn
hiện nay là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, xác nhận sự bình đẳng của các hình
thức sở hữu: toàn dân, tập thể, tư nhân; cho phép sự hoạt động của các thành phần kinh
tế: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư
bản Nhà nước. Tổ chức, cá nhân được lựa chọn hình thức sản xuất, kinh doanh, được

pháp luật nước ngoài, tập quán quốc tế nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc
cơ bản của pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, Bộ luật dân sự cũng chỉ dẫn việc chọn luật áp
dụng để xác định năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người
nước ngoài, pháp nhân nước ngoài. Đây là quy định quan trọng trong việc xác định một
chủ thể có đủ điều kiện giao kết hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài hay không…
- Luật kinh doanh bảo hiểm 2000:
Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 là đạo luật trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, trong đó có quan hệ hợp đồng bảo hiểm có
yếu tố nước ngoài.
Chương II của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 qui định cụ thể về hợp đồng bảo
hiểm, trong đó, nêu ra những qui định chung về hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm
được phân loại thành: hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp
đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo
hiểm cũng được quy định như : doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thu phí bảo hiểm theo
thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, yêu cầu bên bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực
thông tin liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm…; có nghĩa vụ giải
thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ
của bên mua bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường
cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm… Ngoài ra, Luật kinh doanh bảo
hiểm cũng quy định các điều kiện thành lập và hoạt động, phạm vi hoạt động của các
doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài…
- Luật hàng hải 2005:
Trong giao lưu thương mại quốc tế, hoạt động vận chuyển hành khách, hàng hóa
bằng đường biển là một hoạt động phổ biến, thiết yếu và thường xuyên diễn ra. Đặc biệt,
Việt Nam là đất nước có địa hình đường bờ biển dài, biển là một kênh giao thông quan
trọng của Việt Nam với nước ngoài. Nhưng vận tải đường biển cũng ẩn chứa nhiều rủi ro
thiên tai, cướp biển… Vì vậy, bảo hiểm hàng hải đóng vai trò quan trọng trong thị trường
bảo hiểm Việt Nam. Một phần lớn số hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài được kí
kết là hợp đồng bảo hiểm hàng hải. Những quan hệ hợp đồng này được điều chỉnh bởi
chương XVI Luật hàng hải 2005.

Việt Nam hay doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài (dù họ không có hiện diện tại Việt
Nam).
Ngoài các cam kết với WTO, các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên
như Hiệp định thương mại Việt Mỹ (phụ lục G), Hiệp định khung Asean về dịch vụ…
cũng có giá trị điều chỉnh các hợp đồng bảo hiểm tương ứng.
Bên cạnh Điều ước quốc tế, Tập quán quốc tế cũng có thể được thỏa thuận áp dụng
đối với hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài. Khoản 3 Điều 2 Luật kinh doanh bảo
hiểm 2000 quy định: “3. Các bên tham gia bảo hiểm có thể thỏa thuận áp dụng tập quán
quốc tế, nếu tập quán đó không trái với pháp luật Việt Nam.” Trên thực tế, hiện nay,
những quy định liên quan đến bảo hiểm trong bộ quy tắc Incoterms được thỏa thuận áp
dụng một cách phổ biến.
c. Luật nước ngoài:
Như đã phân tích ở phần trên, vì là một quan hệ tư pháp quốc tế nên hợp đồng quan
hệ quốc tế còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài liên quan. Hiện nay, trên thế
giới, sự tác động của pháp luật các nước phải tuân theo một số hệ thuộc cơ bản:
- Luật nhân thân: điều chỉnh đối với hoạt động của các chủ thể bằng luật của nước mà
người đó/ pháp nhân đó mang quốc tịch hoặc nơi người đó cư trú/ pháp nhân đó đăng kí
trụ sở chính.
- Luật nơi có vật: áp dụng pháp luật nơi đối tượng của hợp đồng đang tồn tại.
- Luật nơi thực hiện hành vi: Luật nơi giao kết hợp đồng, luật nơi vi phạm, nơi thực hiện
hợp đồng được áp dụng.
- Luật tòa án: Luật của nước có Tòa án có thẩm quyền giải quyết được áp dụng đối với hợp
đồng.
- Luật do các bên kí kết hợp đồng lựa chọn.
1.2.3. Nội dung hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Nội dung của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là tổng hợp các điều khoản
mà các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận. Các điều khoản đó xác định
những quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong hợp đồng. Chúng được chia thành 3
loại, tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên: điều khoản cơ bản, điều khoản thông
thường, điều khoản tùy nghi.

Nam hay quốc tịch nước ngoài đều có thể là chủ thể của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố
nước ngoài. Tuy nhiên, chủ thể mang yếu tố nước ngoài trong hợp đồng bảo hiểm có yếu
tố nước ngoài thì phải mang quốc tịch nước ngoài.
Pháp luật các nước trên thế giới đều quy định về việc xác định quốc tịch của một
pháp nhân. Theo pháp luật của Pháp, của Đức, pháp nhân đặt trung tâm quản lý ở nước
nào thì mang quốc tịch nước đó, không phân biệt nơi đăng kí thành lập hay nơi tiến hành
hoạt động của pháp nhân. Còn theo pháp luật của Anh và Mỹ, quốc tịch của pháp nhân
tùy thuộc vào nơi đăng ký điều lệ của pháp nhân khi thành lập, bất kể nơi đặt trụ sở chính
hoặc nơi hoạt động của nó. Trong khi đó, pháp luật của Ai Cập, Xi-ri lại quy định áp
dụng nguyên tắc quốc tịch tùy thuộc vào nơi trung tâm hoạt động của pháp nhân. Pháp
luật Việt Nam không quy định nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân. Nhưng khi
xem xét vấn đề năng lực dân sự của pháp nhân nước ngoài, khoản 1 Điều 765 của Bộ luật
dân sự 2005 quy định phải căn cứ vào pháp luật của nước nơi pháp nhân đó thành lập.
Như vậy, Bộ luật dân sự Việt Nam đã gián tiếp thừa nhận nguyên tắc xác định quốc tịch
của pháp nhân tùy thuộc vào nơi thành lập pháp nhân. Với tinh thần này, những doanh
nghiệp bảo hiểm được thành lập tại Việt Nam, theo pháp luật Việt Nam đều mang quốc
tịch Việt Nam. Kể cả các doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, doanh nghiệp bảo hiểm
8 Điều 59 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000.
100% vốn đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam cũng là doanh nghiệp bảo hiểm có
quốc tịch Việt Nam. Còn những doanh nghiệp bảo hiểm không mang quốc tịch Việt Nam
được coi là doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Theo qui định của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, doanh nghiệp bảo hiểm nước
ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam dưới các hình thức: doanh nghiệp bảo hiểm liên
doanh, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài. Những doanh nghiệp bảo hiểm này
phải được thành lập, tổ chức và hoạt động theo pháp luật Việt Nam. Do đó, chúng mang
quốc tịch Việt Nam. Như vậy, theo Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, trong các loại hình doanh
nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam thì không bao gồm doanh nghiệp bảo
hiểm có quốc tịch nước ngoài. Tuy nhiên, do nhu cầu hội nhập kinh tế thế giới và yêu cầu về
sự phù hợp của pháp luật trong nước với các cam kết trong lĩnh vực bảo hiểm khi Việt Nam
gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, năm 2010, Quốc Hội Việt Nam đã thông qua Luật

Do vậy, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm được quyền ký kết hợp đồng bảo hiểm theo ủy
quyền của doanh nghiệp bảo hiểm. Tuy nhiên, căn cứ theo Ðiều 84 Bộ Luật dân sự 2005
thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Ðược thành lập hợp pháp;
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản
đó;
- Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Do đó, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm không có tư cách pháp nhân. Chủ thể của hợp
đồng bảo hiểm do chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài kí kết theo
ủy quyền là doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, mang quốc tịch nước ngoài. Do đó,
những hợp đồng bảo hiểm mà chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài
kí kết tại Việt Nam, hoặc kí kết với cá nhân, pháp nhân có quốc tịch Việt Nam, hoặc được
kí kết để bảo hiểm cho tài sản tại Việt Nam đều là những hợp đồng bảo hiểm có yếu tố
chủ thể là yếu tố nước ngoài.
Như vậy, bên nhận bảo hiểm – một bên chủ thể của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố
nước ngoài có thể là doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam hoặc doanh nghiệp bảo hiểm nước
ngoài. Trong đó, chủ thể mang yếu tố nước ngoài có thể là doanh nghiệp bảo hiểm nước
ngoài trong hợp đồng cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới hoặc doanh nghiệp bảo
11 Điều 37 Luật doanh nghiệp 2005.

Trích đoạn KẾT LUẬN CHUNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status