Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Trong xu thế hội nhập kinh tế với các nớc trong khu vực và thế giới, nền
ngoại thơng Việt Nam trong những năm qua đã có những tiến bộ vợt bậc, góp
phần làm thay đổi bộ mặt của nền kinh tế Việt Nam. Để thực hiện tốt nhiệm vụ
của mình, những ngời làm công tác ngoại thơng phải am hiểu rất nhiều lĩnh vực
nh: chuyên ngành hàng hải, vận tải, ngân hàng, kho vận, bảo hiểm, pháp lý.
Xét về cơ cấu giá thành thì chi phí mua bảo hiểm cho lô hàng XNK có lẽ
là chiếm phần nhỏ nhất trong các khoản chi phí. Với khoản chi phí nhỏ về bảo
hiểm này, ngời có quyền lợi về hàng hoá có thể yên tâm về những rủi ro bất ngờ
mà hàng hoá của mình có thể gặp phải. Tuy nhiên, không phải bất kỳ lúc nào
hàng hoá đợc bảo hiểm bị h hỏng, tổn thất cũng đợc ngời đợc bảo hiểm giải
quyết bồi thờng. Do vậy, vấn đề bảo hiểm hàng hoá trong vận chuyển cũng cần
đợc quan tâm một cách thấu đáo trong công tác ngoại thơng, nhất là trong thời
gian qua, Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Bộ Luật dân sự, Luật kinh doanh bảo
hiểm đã đợc Quốc hội thông qua cũng nh Hiệp định thơng mại Việt Mỹ đã có
hiệu lực thi hành .
Trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá thì bảo hiểm hàng hoá vận chuyển
bằng đờng biển là phức tạp và gây ra nhiều tranh chấp nhất so với vận chuyển
hàng hoá bằng đờng hàng không, đờng bộ, đờng sắt và đờng sông. Do vậy, nói
đến bảo hiểm hàng hoá, ngời ta hay nghĩ đến bảo hiểm hàng hoá vận chuyển
bằng đờng biển.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này, cùng với những kiến thức
đã đợc học, em chọn đề tài: "Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng bảo hiểm
hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đờng biển" cho khoá luận tốt
nghiệp của mình.
Vũ Văn Long - Lớp A1-CN9 - Đại Học Ngoại Thơng Hà Nội
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khoá luận này đợc viết theo phơng pháp lịch sử, phơng pháp so sánh,
phơng pháp phân tích và tổng hợp. Khi trình bày một vấn đề em thờng xuất
Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đờng biển là một nghiệp vụ kinh doanh
quốc tế có tính chất tin cậy, ổn định và an toàn giữa các bên hữu quan trong hoạt
động ngoại thơng, cũng nh với ngời vận chuyển và ngân hàng. Ngoài ra bảo hiểm
cũng chính là một hoạt động xuất khẩu vô hình rất quan trọng trong nền ngoại th-
ơng quốc gia, cạnh tranh rất cao, nó còn là một công cụ tài chính của thơng mại
quốc tế. Cùng với sự phát triển của kỹ thuật vận tải biển, bảo hiểm hàng hoá vận
chuyển đờng biển cũng có những bớc phát triển liên tục. Tuy nhiên, bảo hiểm
hàng hoá là một nghiệp vụ truyền thống lâu đời nhất và là một lĩnh vực hoạt động
hết sức phức tạp.
1.1 Đối tợng của bảo hiểm
Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản nói chung bao giờ cũng phải có một tài
sản hoặc một vật thể dễ bị đe doạ bởi các rủi ro, tài sản hay vật thể đó đợc gọi là
"đối tợng bảo hiểm". Theo Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 (Marine Insurance
Act - 1906) một đạo luật đã đợc nhiều nớc thừa nhận là tiêu chuẩn pháp lý quốc
tế cho ngành bảo hiểm hàng hải trên thế giới thì hợp đồng bảo hiểm hàng hải đợc
định nghĩa là "một hợp đồng trong đó ngời bảo hiểm nhận bồi thờng cho ngời đ-
ợc bảo hiểm những tổn thất hàng hải theo cách thức và mức độ đã đợc hai bên
thoả thuận trên hợp đồng, nghĩa là các hậu quả tổn thất của hành trình hàng
hải" (Điều 1). Điều 3 - Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 quy định rõ đối tợng
Vũ Văn Long - Lớp A1-CN9 - Đại Học Ngoại Thơng Hà Nội
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của hợp đồng bảo hiểm hàng hải là những hành trình hàng hải hợp pháp và định
nghĩa hành trình hàng hải là;
- Tàu, hàng hoá hay các động sản khác ở trong tình thế có thể bị đe doạ bởi
rủi ro hàng hải.
- Việc thu cớc phí vận tải, hoa hồng, tiền lãi, hay các chi phí có thể bị hiểm
nguy khi tàu và hàng hoá bị đặt trong tình thế có thể bị đe doạ bởi rủi ro hàng
hải.
- Trách nhiệm đối với ngời thứ ba của chủ tàu, chủ hàng hay ngời nào đó
Theo quy định của Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 thì đối tợng bảo
hiểm phải đợc chỉ định rõ trên đơn bảo hiểm, tính chất và phạm vi quyền lợi của
ngời đợc bảo hiểm (toàn thể hay bộ phận). Điều 26 - Chỉ định đối tợng bảo hiểm:
1- Tên đối tợng bảo hiểm phải đợc miêu tả trong đơn bảo hiểm hàng hải
một cách rõ ràng hợp lý.
2- Tính chất và mức độ quyền lợi của ngời đợc bảo hiểm đối với đối tợng
bảo hiểm không cần thiết phải ghi rõ trên đơn bảo hiểm.
3- Nếu đơn bảo hiểm miêu tả đối tợng đợc bảo hiểm theo những điều
kiện chung thì đơn bảo hiểm đó sẽ đợc giải thích để áp dụng vào những đối t-
ợng mà ngời đợc bảo hiểm dự kiến sẽ bảo hiểm.
4- áp dụng mục này phải chú ý đến một tập quán chi phối việc chỉ định
đối tợng bảo hiểm".
Về nội dung, nhìn chung các quy định về đối tợng bảo hiểm của Bộ luật
Hàng hải Việt Nam không có gì khác biệt lớn so với Luật bảo hiểm Hàng hải
Anh.
Vũ Văn Long - Lớp A1-CN9 - Đại Học Ngoại Thơng Hà Nội
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Điều 200.1- Bộ luật Hàng hải Việt Nam 1990 định nghĩa " Hợp đồng bảo
hiểm Hàng hải là hợp đồng đợc ký kết giữa ngời bảo hiểm và ngời đợc bảo
hiểm theo đó ngời bảo hiểm thu phí bảo hiểm do ngời đợc bảo hiểm trả và ngời
đợc bảo hiểm đợc ngời bảo hiểm bồi thờng tổn thất của đối tợng bảo hiểm do
các rủi ro hàng hải gây ra theo mức độ và điều kiện thoả thuận với ngời bảo
hiểm".
1.2 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm hàng hải.
1.2.1 Quyền lợi có thể bảo hiểm
Quyền lợi có thể bảo hiểm là nguyên tắc đầu tiên trong bốn nguyên tắc cơ
bản cuả bảo hiểm Hàng hải: quyền lợi có thể bảo hiểm, trung thực tối đa, bồi th-
ờng và thế quyền. Theo Luật bảo hiểm Hàng hải 1906 của Anh sẽ là vi phạm nếu
ngời nào thực hiện một hợp đồng bảo hiểm mà không có quyền lợi có thể bảo
điều 11 của Điều khoản Học hội bảo hiểm hàng hoá (Institute Cargo Clauses -
ICC 1982) - Điều khoản quyền lợi bảo hiểm:
1- Để có thể đòi bồi thờng theo đơn bảo hiểm này, ngời đợc bảo hiểm
phải có quyền lợi có thể bảo hiểm đối với đối tợng đợc bảo hiểm vào thời gian
xảy ra tổn thất.
2- Với điều kiện phải theo 11.1 trên đây, ngời đợc bảo hiểm sẽ có quyền
đòi bồi thờng cho những tổn thất đợc bảo hiểm xảy ra trong thời gian bảo hiểm
này có hiệu lực, dù cho tổn thất này xảy ra trớc khi hợp đồng bảo hiểm đợc ký
kết, trừ khi ngời đợc bảo hiểm là có tổn thất mà ngời bảo hiểm thì cha hay
biết".
Điều khoản 11.2 liên quan đến một tập quán đặc biệt đã có từ lâu đợc gọi
là "tổn thất hay không tổn thất" đợc đề cập đến tại Quy tắc giải thích đơn bảo
hiểm số 1 - Phụ bản Luật bảo hiểm Hàng hải Anh, theo đó đơn bảo hiểm đảm
bảo những tổn thất đợc bảo hiểm xảy ra cho hàng hoá bắt đầu đợc vận chuyển tr-
Vũ Văn Long - Lớp A1-CN9 - Đại Học Ngoại Thơng Hà Nội
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ớc khi thực hiện hợp đồng bảo hiểm và hàng hoá đã bị tổn thất vì những rủi ro đ-
ợc bảo hiểm mà ngời đợc bảo hiểm không biết vào lúc thực hiện bảo hiểm. Hiệu
lực của điều khoản này làm cho đảm bảo của hợp đồng đợc ký vào lúc hành trình
đã bắt đầu có hiệu lực hồi tố từ khi bắt đầu hành trình. Trên thực tế thì khi hàng
hoá đã đợc vận chuyển với hàng ngàn container hay với hàng chục ngàn tấn hàng
trên một con tàu thì việc ngời bảo hiểm phát hiện ra hàng hoá của mình bị tổn
thất sau khi đã đợc vận chuyển để tiến hành trục lợi bảo hiểm là điều khó có thể
thực hiện đợc, trừ những rủi ro lớn đợc các phơng tiện thông tin đại chúng đa tin
nhng điều đó lại rất dễ bị phát hiện ra.
Khi có khiếu nại thuộc đơn bảo hiểm, ngời bảo hiểm có thể buộc ngời đợc
bảo hiểm phải chứng minh quyền lợi có thể bảo hiểm của mình trên đối tợng bảo
hiểm vào thời điểm xảy ra tổn thất và nếu không chứng minh đợc thì khiếu nại
đòi bồi thờng không đợc giải quyết. Đối với hàng hoá chuyên chở bằng đờng
đó".
Điều 14.1 áp dụng cho đơn bảo hiểm ban đầu còn điều 14.2 cho đơn bảo
hiểm trị giá gia tăng, cả hai điều khoản đều cùng chung một mục đích đòi ngời đ-
ợc bảo hiểm cộng các trị giá trên mỗi đơn bảo hiểm coi là một trị giá áp dụng cho
cả hai đơn. Để nắm chắc điều này, ngời bảo hiểm có quyền đợc biết các số tiền
bảo hiểm và yêu cầu đợc biết thông tin này khi có khiếu nại bồi thờng. Nếu
không có quy định này về tổng số hai trị giá thì các chi phí tố tụng, đề phòng tổn
thất và các chi phí ngời đợc bảo hiểm chi trả để chứng minh tổn thất sẽ do ngời
bảo hiểm chính trả hết dù biết có đơn bảo hiểm trị giá tăng thêm. Với điều khoản
này các chi phí trên sẽ đợc phân chia giữa các ngời bảo hiểm đơn bảo hiểm chính
và đơn bảo hiểm trị giá gia tăng và số tiền đòi ngời thứ ba cũng sẽ đợc phân bổ
nh vậy.
1.2.2 Trung thực tối đa - Nghĩa vụ khai báo
Vũ Văn Long - Lớp A1-CN9 - Đại Học Ngoại Thơng Hà Nội
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trung thực tối đa là nguyên tắc cơ bản thứ hai của bảo hiểm hàng hải. Luật
bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 từ điều 17 đến điều 20 đề cập đến vấn đề yêu cầu
trung thực, tất cả các bên liên quan trong hợp đồng bảo hiểm hàng hải phải thơng
lợng với nhau trên cơ sở chân thành tuyệt đối. Trung thực tối đa ngụ ý phải khai
báo đầy đủ mọi sự kiện cần thiết đã biết hoặc coi nh đã biết. Đặc biệt ngời đợc
bảo hiểm phải kê khai và trình bày đúng tất cả các sự việc cụ thể có liên quan đến
hàng hoá đợc bảo hiểm, những sự việc mà họ biết hoặc phải biết trong công việc
thơng mại bình thờng. Nh thế ngời bảo hiểm cũng đợc biết đầy đủ các thông tin
cần thiết để giúp họ trong việc đánh giá rủi ro, nhận hay từ chối bảo hiểm và tính
giá phí hợp lý.
Bổn phận trung thực cũng ràng buộc cả ngời bảo hiểm. Họ không thể xui
dục khách hàng thực hiện một hợp đồng bảo hiểm mà họ biết là không hợp pháp
hoặc họ không thể nhận một rủi ro mà họ đã biết là không còn nữa trong khi ngời
yêu cầu bảo hiểm cha biết.
hàng của họ về hợp đồng bị huỷ bỏ đó.
Lời khai có thể là theo một sự kiện thực tế hoặc theo một sự kiện trông chờ
hay tin tởng. Lời khai sự kiện thực tế đợc coi là trung thực nếu tình hình cụ thể là
đúng nh thế, có nghĩa là ngời bảo hiểm không thể khiếu nại khi lời khai không
đúng từng chữ. Lời khai sự kiện trông chờ đợc coi là trung thực nếu khai một
cách trung thực dù rằng không đúng, bởi vì một ngời bảo hiểm cẩn trọng không
thể lầm lẫn bởi một lời khai đặc biệt nh thế (điều 20). Lời khai cần thiết là lời
khai có thể ảnh hởng đến sự phán đoán của ngời bảo hiểm trong việc ấn định tỷ lệ
phí bảo hiểm hay quyết định có nhận bảo hiểm hay không. Lời khai cần thiết thì
phải chính xác nếu không ngời bảo hiểm có thể huỷ bỏ hợp đồng.
Vũ Văn Long - Lớp A1-CN9 - Đại Học Ngoại Thơng Hà Nội
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Điều 204 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 1990 quy định ngời đợc bảo hiểm có
nghĩa vụ cung cấp thông tin họ biết hoặc cần phải biết làm ảnh hởng đến quyết
định của ngời bảo hiểm về việc xác định khả năng xảy ra rủi ro, việc nhận hay
không nhận bảo hiểm và các điều kiện bảo hiểm, trừ những thông tin mà mọi ng-
ời đều biết hoặc ngời bảo hiểm đã biết hoặc cần phải biết. Nếu ngời đợc bảo hiểm
vi phạm điều này thì điều 207 cho phép ngời bảo hiểm rút khỏi hợp đồng mà vẫn
thu đợc đầy đủ phí bảo hiểm. Cũng tại điều này Bộ luật Hàng hải Việt Nam quy
định thêm nếu ngời đợc bảo hiểm không có lỗi trong việc khai sai thì ngời bảo
hiểm không có quyền rút khỏi hợp đồng nhng có quyền thu thêm phí ở mức độ
hợp lý.
1.2.3 Bồi thờng
Bồi thờng là nguyên tắc cơ bản quan trọng nhất của bảo hiểm nói chung
cũng nh bảo hiểm hàng hải nói riêng và cũng chính vì mục đích này mà bảo hiểm
tồn tại. Về khái niệm ngời ta có thể hiểu bồi thờng là sự bảo vệ hoặc đảm bảo cho
thiệt hại hoặc tổn thất phát sinh từ trách nhiệm pháp lý, còn trong bảo hiểm ta có
thể coi bồi thờng nh là một cơ chế mà công ty bảo hiểm sử dụng để cung cấp
khoản bồi thờng tài chính, với mục đích khôi phục tình trạng tài chính ban đầu
và chi phí bảo hiểm.
Theo tập quán quốc tế về phí bảo hiểm, ngoài phí bảo hiểm chính còn có
phụ phí tàu già thu thêm khi hàng hoá đợc chuyên chở trên những chiếc tàu có độ
tuổi cao hơn một mức quy định nào đó (hiện nay quy định là 15 tuổi). Khi hàng
hoá đợc vận chuyển trên những chiếc tàu nh vậy thì ngời thuê tàu giảm đợc một
phần cớc phí vận tải nhng họ lại tự làm tăng khả năng bị rủi ro cho hàng hoá của
mình, nh vậy làm tăng rủi ro đối với ngời bảo hiểm và họ phải nộp thêm phí bảo
hiểm cho khả năng gia tăng rủi ro đó. Vấn đề là phụ phí tàu già có đợc tính vào
giá trị bảo hiểm hay không còn tuỳ thuộc vào từng trờng hợp cụ thể.
Vũ Văn Long - Lớp A1-CN9 - Đại Học Ngoại Thơng Hà Nội
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Về nguyên tắc nếu phụ phí này làm tăng giá thành hàng hoá thì nó đợc coi
là một phần của giá trị bảo hiểm, ví dụ đối với các hợp đồng nhập khẩu FOB khi
ngời mua hàng phải thuê tàu và mua bảo hiểm, lúc này phụ phí tàu già (nếu có)
do ngời mua trả và chi phí đó đợc cộng vào giá thành. Ngợc lại, đối với các hợp
đồng nhập khẩu CFR hay CIF thì trị giá hoá đơn đã bao gồm chi phí thuê tàu, lúc
này phụ phí tàu già do ngời bán trả và nó không làm tăng giá thành nên không đ-
ợc tính vào giá trị bảo hiểm.
Số tiền bảo hiểm là giới hạn trách nhiệm của ngời bảo hiểm đối với mỗi tai
nạn và phí bảo hiểm đợc tính trên cơ sở số tiền đó. Theo tập quán thông thờng thì
số tiền bảo hiểm ấn định bằng giá trị bảo hiểm và một hợp đồng bảo hiểm nh vậy
gọi là bảo hiểm đúng trị giá. Nếu số tiền bảo hiểm vợt quá trị giá bảo hiểm thì
gọi là bảo hiểm trên trị giá, trong bảo hiểm hàng hoá số tiền bảo hiểm dôi ra đó
chỉ đợc chấp nhận khi coi nó là số lãi có thể của công việc buôn bán và nó không
lớn hơn 10%, số dôi hơn nữa sẽ không có hiệu lực. Nếu số tiền bảo hiểm nhỏ hơn
giá trị bảo hiểm thì gọi là bảo hiểm dới trị giá, và ngời đợc bảo hiểm sẽ tự chịu
lấy số tiền tổn thất ở phần trị giá không đợc bảo hiểm.
1.4 Thời gian đợc bảo hiểm
Trớc kia, bảo hiểm chỉ bắt đầu khi hàng hoá đợc bốc lên tàu, không có bảo
tàu. Nó có thể là kho hay nơi chứa hàng và thờng đợc ghi tên, địa điểm của kho
này vào hợp đồng bảo hiểm. Kho dùng để chế biến thêm hoặc đóng gói, đóng gói
lại hàng hoá, kho tập kết hàng hoá tạm thời để vận chuyển hàng tiếp tục đến một
kho khác để chờ xếp hàng xuống tàu thì không thể coi là kho đi.
+ Kho đến là kho nhận hàng ở địa điểm cuối cùng ghi trên đơn bảo hiểm.
Là kho thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của ngời đợc bảo hiểm và thờng là ngời
đợc bảo hiểm đã tham gia tổ chức thực hiện việc vận chuyển hàng hoá đợc bảo
hiểm về kho của mình. Kho đến bao gồm các loại kho sau:
Vũ Văn Long - Lớp A1-CN9 - Đại Học Ngoại Thơng Hà Nội
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Kho ngời nhận hàng hay kho hoặc nơi chứa hàng cuối cùng khác tại nơi
nhận có ghi tên trong đơn bảo hiểm.
- Bất kỳ một kho hay một nơi chứa hàng nào khác mà ngời đợc bảo hiểm
chọn nhằm mục đích lu kho mặc dù trớc khi tới hay tại nơi nhận có tên ghi trong
hợp đồng bảo hiểm.
- Bất kỳ một kho hay một nơi chứa hàng nào khác mà địa điểm của chúng
không còn nằm trong quá trình vận chuyển nữa.
- Bất kỳ một kho hay một nơi chứa hàng nào khác mà ngời đợc bảo hiểm
chọn nhằm dùng mục đích lu kho, phân phối hoặc chuyển nhợng hàng hoá đợc
bảo hiểm.
Việc mở rộng thêm không gian bảo hiểm từ kho đến kho đơng nhiên làm
tăng phí bảo hiểm, hay nói cách khác đã tạo ra khả năng thoả thuận giảm phí bảo
hiểm cho ngời đợc bảo hiểm trong trờng hợp họ muốn co hẹp không gian này lại.
Trong thực tế ngời bảo hiểm đã chấp nhận những không gian bảo hiểm hẹp hơn
theo yêu cầu của ngời đợc bảo hiểm tuỳ theo từng loại mặt hàng hay các địa điểm
trong giao nhận và trong các giao dịch thơng mại để ngời bảo hiểm có thể giảm
đến mức nhỏ nhất các chi phí của mình.
+ Từ cảng đến cảng: Xuất phát từ nhu cầu giảm các chi phí trong đó có
phí bảo hiểm, căn cứ vào những quy định về trách nhiệm đối với các chi phí của
hợp đồng. Khi bảo hiểm theo hợp đồng bao, việc vận chuyển hàng hoá có thể
bắt đầu vào bất cứ lúc nào trong thời hạn của hợp đồng bao và đợc bảo hiểm theo
điều khoản vận chuyển cho đến khi giao hàng vào kho nơi đến mặc dù nhận hàng
sau khi hợp đồng bao mãn hạn. Theo điều khoản vận chuyển chỉ có bảo hiểm từ
khi hàng hoá rời kho bãi để bắt đầu vận chuyển. Vì thế trừ khi có quy định đặc
biệt, không có bảo hiểm trong khi bốc hàng lên phơng tiện vận chuyển tại kho
hay trong bất cứ thời gian nào trớc khi vận chuyển thực sự bắt đầu ví dụ nh vận
chuyển tới hoặc từ nơi đóng gói.
Vũ Văn Long - Lớp A1-CN9 - Đại Học Ngoại Thơng Hà Nội
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.4.2 Quá trình chuyên chở bình thờng
Theo điều khoản vận chuyển, bảo hiểm chỉ tiếp tục khi hàng hoá ở trong
quá trình vận chuyển bình thờng. Mọi hành động tách khỏi quá trình chuyên
chở bình thờng đều đa đến việc kết thúc bảo hiểm. Từ bình thờng đợc coi là
bao gồm phơng thức chuyên chở theo tập quán phù hợp với loại hàng hoá và
tuyến đờng trực tiếp nhất dẫn tới nơi đến. Nó gồm cả thời gian chậm trễ hàng chờ
hải quan kiểm tra hoặc nhà chức trách tơng tự và thời gian chờ phơng tiện hay tàu
chở tiếp; nhng không gồm mọi chậm trễ mà ngời đợc bảo hiểm có thể tránh đợc
hoặc thời gian lu giữ thuộc kiểm soát của ngời đợc bảo hiểm. Nh vậy nếu ngời đ-
ợc bảo hiểm sử dụng kho cảng để chứa hàng thì coi nh ngoài quá trình chuyên
chở bình thờng.
1.4.3 Chậm trễ trong hành trình
Luật bảo hiểm Hàng hải Anh - Điều 48 quy định hành trình phải đợc tiến
hành không có châm trễ bất hợp lý, và trừ khi lý do luật pháp ngời bảo hiểm đợc
miễn giải trách nhiệm từ lúc chậm trễ bất hợp lý. Trong ICC 1982 điều 18 đợc đa
ra để đảm bảo sự khẩn trơng hợp lý đợc áp dụng trong suốt thời gian chuyên chở.
Điều kiện của bảo hiểm này là ngời đợc bảo hiểm phải hành động một cách
khẩn trơng hợp lý trong mọi tình huống, trong phạm vi kiểm soát của họ.
Tuy nhiên, quy định rằng chậm trễ phải là ngoài khả năng kiểm soát của
trình, không thể chờ đến khi có tổn thất mới báo cho ngời bảo hiểm. Nhận đợc
thông báo, ngời bảo hiểm sẽ quyết định việc gia tăng rủi ro, cần thay đổi điều
kiện bảo hiểm và thu phí bổ sung.
1.4.6 Thay đổi tuyến đờng
Điều 46 Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 định nghĩa là có sự thay đổi
tuyến đờng khi tàu không vì lý do pháp luật tách khỏi tuyến đờng ấn định, hoặc
nếu không đợc thì tách khỏi tuyến đờng hợp lý thông thờng và tập quán. Tuyến đ-
Vũ Văn Long - Lớp A1-CN9 - Đại Học Ngoại Thơng Hà Nội
26
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ờng hợp lý thông thờng nói chung là con đờng thẳng về mặt địa lý, nó không nhất
thiết phải là con đờng ngắn nhất vì nó có thể thay đổi vì những lý do hàng hải và
nó còn phụ thuộc vào tập quán và tính chất của con tàu. Tham chiếu vụ Evans
kiện Cunard năm 1912, con tàu dự định đi từ Bari (Italia) đến Liverpool (Anh)
nhng thực tế nó đã đến Liverpool sau khi đã qua Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ). Toà đã
phán quyết là con tàu này không đi chệch hớng vì con tàu loại đó, kinh doanh
theo kiểu đó thì tập quán của nó là đi vòng nh vậy để lấy thêm hàng.
Những thay đổi tuyến đờng đợc coi là không hợp lý nh để thay đổi thuyền
viên, cung cấp nhiên liệu hoặc tiến hành sửa chữa mà khi đó cha cần thiết ngay.
Đi chệch hớng để lấy thêm nhiên liệu cũng bị coi là bất hợp pháp vì nhiên liệu
phải đợc dự trữ đầy đủ để làm cho con tàu đủ khả năng đi biển vào lúc bắt đầu
hành trình (Timm and Son kiện Northumbrian Shipping Co.). Hậu quả trên đơn
bảo hiểm là trách nhiệm của bảo hiểm chấm dứt ngay khi tàu thay đổi tuyến đờng
và ngời bảo hiểm không phải chịu trách nhiệm về mọi tổn thất ngay cả khi tàu đã
trở lại tuyến đờng cũ.
Hậu quả của việc thay đổi hành trình và thay đổi tuyến đờng đối với trách
nhiệm của ngời bảo hiểm lại rất khác nhau, khi có thay đổi hành trình ngời bảo
hiểm không còn trách nhiệm từ thời điểm quyết định thay đổi đợc biểu hiện, còn
về thay đổi tuyến đờng chỉ kết thúc bảo hiểm khi tàu đã thực sự thay đổi tuyến đ-
ờng, mà không ảnh hởng về các trách nhiệm đã có trớc khi thay đổi tuyến đờng
đờng đối với hợp đồng bảo hiểm hàng hải nhng có quy định của việc ảnh hởng
của việc này đối với hợp đồng vận chuyển hàng hoá nên cũng cần quan tâm vì nó
có thể đợc dẫn chiếu khi tranh chấp. Trong đó điều 89 quy định nếu không có
thoả thuận nào khác thì ngời chuyên chở phải thực hiện việc vận chuyển hàng
hoá trong thời gian hợp lý theo đúng tuyến đờng quy định hoặc theo tuyến đờng
thờng lệ. Tàu đi chệch hớng đợc miễn trách trong các trờng hợp để cứu ngời và
Vũ Văn Long - Lớp A1-CN9 - Đại Học Ngoại Thơng Hà Nội
28
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tài sản trên biển hoặc các nguyên nhân chính đáng khác mà không ảnh hởng đến
hợp đồng vận chuyển.
1.4.7 Chở quá cảng
Khi có trờng hợp hàng hoá không đợc dỡ xuống tại cảng đến mà lại chở
quá cảng và đợc dỡ xuống trong hành trình chở về. Đây là thay đổi tuyến đờng và
bảo hiểm chấm dứt ngay khi tàu rời cảng đến mà còn chở hàng hoá đó trên tàu.
1.4.8 Chuyển tải / xếp lại hàng lên tàu
Điều 59- Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 quy định nh sau về ảnh hởng
của chuyển tải: Nếu do một rủi ro đợc bảo hiểm mà hành trình bị gián đoạn
tại một cảng hoặc một điểm giữa đờng thì trong hoàn cảnh đó, ngoài những quy
định đặc biệt trong hợp đồng vận chuyển-thuyền trởng đợc quyền dỡ hàng và
xếp lại hàng hoá hoặc các bất động sản khác, hoặc chuyển tải, hoặc gửi hàng
tới địa điểm đến, thì trách nhiệm của bảo hiểm vẫn tiếp tục mặc dù có dỡ hàng
lên bờ hoặc có chuyển tải.
Theo Luật bảo hiểm Hàng hải Anh, việc tiếp tục bảo hiểm chỉ đối với việc
chuyển tải, xếp lại hàng trên tàu sau khi có tác động của một rủi ro đợc bảo hiểm,
còn điều 8.3-ICC 1982 thì tiếp tục bảo hiểm cả trong quá trình chuyển tải hay
bốc lại hàng lên tàu hoặc mọi thay đổi hành trình của chủ tàu, ngời thuê tàu đợc
phép hành động theo hợp đồng chuyên chở để phù hợp với sự phát triển của
ngành vận tải biển, đặc biệt là từ khi vận tải container ra đời và phát triển.
8.3 Bảo hiểm này giữ nguyên hiệu lực (phụ thuộc quy định về kết thúc
bảo hiểm do đó một khi hàng hoá đã đợc giao vào kho cuối cùng là bảo hiểm kết
thúc dù cha mãn hạn 60 ngày, ICC không bảo hiểm trong kho hàng cuối cùng.
+ Nơi chứa hàng theo lựa chọn của ngời đợc bảo hiểm. Nếu ngời đợc bảo
hiểm chọn chỗ để hàng tại một nơi nào đó sau khi dỡ xuống, trớc khi đến kho
Vũ Văn Long - Lớp A1-CN9 - Đại Học Ngoại Thơng Hà Nội
30
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hay nơi chứa hàng tại nơi đến thì chỗ này đợc coi là nơi đến cuối cùng, dù cha
mãn hạn 60 ngày.
+ Phân phối sau khi dỡ hàng khỏi tàu biển. Nhiều khi hàng hoá gửi tới
nhiều nơi đến lại gửi cùng chuyến hàng tới một nơi tập trung sau khi dỡ, từ đây
hàng hoá đợc phân phối tới từng nơi đến cuối cùng. Bảo hiểm sẽ coi hàng hoá đ-
ợc giao vào nơi phân phối và không có bảo hiểm khi hàng hoá đợc phân chia hay
vận chuyển tiếp nếu không có dàn xếp trớc với ngời bảo hiểm để bảo hiểm tiếp
tới nơi cuối cùng cho từng phần hàng hoá. Để khiếu nại, ngời đợc bảo hiểm phải
chứng minh tổn thất xảy ra trớc khi giao vào nơi phân phối.
+ Thay đổi nơi đến sau khi dỡ. Khi hàng hoá không đợc gửi tới nơi đến ghi
trên đơn bảo hiểm, nhng đợc dỡ bình thờng tại cảng dự định thì vẫn áp dụng thời
hạn 60 ngày cũng nh các giới hạn về chứa hàng chờ phân chia hay phân phối, nh-
ng giới hạn thêm trong thời giản trớc lúc chuyên chở đến nơi mới. Ngời đợc bảo
hiểm cũng có thể yêu cầu ngời bảo hiểm tiếp tục bảo hiểm đến nơi mới này. Nếu
nơi đến thay đổi trớc khi dỡ hàng khỏi tàu biển thì đây là thay đổi hành trình. Khi
hàng hoá đợc gửi trả lại ngời gửi hàng sau khi đã dỡ hàng tại cảng quy định thì
nơi gửi hàng trả về đợc coi là nơi đến mới và bảo hiểm kết thúc theo điều 8.2 trừ
khi ngời bảo hiểm chấp thuận bảo hiểm tiếp.
1.4.10 Kết thúc hợp đồng chuyên chở
Hợp đồng chuyên chở đợc ký kết giữa ngời gửi hàng và ngời chuyên chở
cho phép giải trừ trách nhiệm của ngời chuyên chở về tổn thất của hàng hoá khi
không có lỗi hay sự đồng tình của họ và cho phép họ đợc dỡ hàng tại cảng hay
nơi nào đó giữa đờng nếu họ không tiếp tuc hành trình để dỡ hàng tại cảng hay
ờng trong khi điều 8 bắt đầu từ lúc dỡ hàng xong, tuy nhiên trong ICC không nói
rõ tại sao có khác biệt ấy và cũng không định nghĩa từ đến. Trong bộ các điều
khoản ICC có định nghĩa từ đến cảng tại điều 5 điều khoản chiến tranh (hàng
Vũ Văn Long - Lớp A1-CN9 - Đại Học Ngoại Thơng Hà Nội
32