Hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài - Pdf 27

LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người đã và đang tồn tại nhiều chế độ sở hữu
khác nhau. Dựa trên các chế độ sở hữu khác nhau, chế định về quyền sở hữu của mỗi hệ thống pháp
luật cũng có những quy định khác nhau. Ngoài ra, sự khác nhau của hệ thống pháp luật về quyển sở
hữu còn do tác động bởi các yếu tố quan trọng như: Trình độ phát triển về kinh tế, văn hóa, phong tục
tập quán, tôn giáo, vị trí địa lý,… của từng nước. Bởi vậy, việc hình thành các quan hệ sở hữu có yếu
tố nước ngoài cũng thường làm phát sinh xung đột pháp luật về quyền sở hữu. Vấn đề đặt ra là khi
phát sinh xung đột pháp luật về quyền sở hữu thì pháp luật của các nước giải quyết như thế nào
NỘI DUNG
I. Lý luận chung
1. Khái niệm về quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài
Quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế là quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài, là tổng hợp các
quyền năng của các chủ thể được pháp luật thừa nhận trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản. Yếu tố nước ngoài trong quan hệ sở hữu được thể hiện ở những điểm sau:
- Chủ thể tham gia quan hệ sở hữu là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài, nhà nước nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
- Khách thể của quan hệ sở hữu là tài sản tồn tại ở nước ngoài.
- Sự kiện pháp lý làm phát sinh thay đổi chấm dứt quan hệ sở hữu xảy ra ngay ở nước ngoài.
2. Phương pháp Giải quyết các xung đột pháp luật
Giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài, theo kinh nghiệm và
thực tiễn tư pháp của nhiều nước cho thấy, được tiến hành trên cơ sở sự kết hợp hai phương pháp cơ
bản là phương pháp xung đột và phương pháp thực chất.
a. Phương pháp xung đột: Phương pháp xung đột trong Tư pháp quốc tế là phương pháp được
hình thành khá sớm, được hình thành và xây dựng trên nền tảng hệ thống quy phạm xung đột của
quốc gia và hệ thống quy phạm xung đột trong điều ước quốc tế. Điều này có nghĩa là cơ quan có
thẩm quyền giải quyết phải chọn pháp luật của nước này hay nước kia liên đới tới các yếu tố nước
ngoài để xác định quyền và ngĩa vụ giữa các bên đương sự. Công việc tiến hành lựa chọn hệ thống
pháp luật nước nào dựa trên những quy phạm xung đột. Quy phạm xung đột về quan hệ sở hữu tài sản
là quy phạm ấn định luật pháp nước nào cần áp dụng để giải quyết quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố
nước ngoài trong một tình huống thực tế.
b. Phương pháp thực chất: Phương pháp thực chất được xây dựng dựa trên hệ thống các quy

1.Bình luận Quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về việc giải quyết xung đột pháp
luật từ quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài
Xung đột pháp luật về quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài Việt Nam cũng như các
nước trên thế giới đều sử dụng phương pháp xung đột và phương pháp thực chất dựa trên các quy
phạm xung đột và quy phạm thực chất
a. Quy phạm xung đột
Xét dưới khía cạnh về xung đột pháp luật thì điều chỉnh quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài
có nhiều điểm khác, không giống như điều chỉnh quan hệ sở hữu không có yếu tố nước ngoài. Như đã
phân tích ở trên, đa số các nước hiện nay đều thống nhất áp dụng nguyên tắc chung để giải quyết
quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài (như là tài sản đó có là đối tượng của quyền sở hữu hay không,
xác định các quyền tài sản, xác định sự phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu,…) đó là việc áp
dụng pháp luật nơi có tài sản. Luật nơi có tài sản (Lex rei sitae) được hiểu là vật (tài sản) hiện đang
tồn tại ở nước nào thì luật của nước đó áp dụng đối với tài sản đó.
Bộ luật dân sự Việt Nam cũng dựa trên nguyên tắc chung này để giải quyết xung đột về quan
hệ sở hữu tại sản, quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 766 BLDS Việt Nam năm 2005: “Việc xác lập,
chấm dứt quyền sở hữu, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của
nước nơi có tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều này”.
Như vậy, không phụ thuộc vào đối tượng của quan hệ sở hữu là động sản hay bất động sản,
quyền sở hữu và các quyền tài sản khác sẽ do luật nơi có tài sản điều chỉnh. Xét về mặt lý luận, Điều
766 BLDS 2005 điều chỉnh quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài bằng phương pháp xung đột,
lấy hệ thuộc luật nơi có vật làm căn cứ phát sinh quyền sở hữu tài sản, cũng như nội dung quyền sở
hữu tài sản có yếu tố nước ngoài. Đương nhiên, trong trường hợp tài sản – đối tượng của quyền sở
hữu – có tại Việt Nam, thì việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản đó phải tuân theo pháp luật Việt
Nam, không phụ thuộc vào yếu tố quốc tịch, nơi cư trú của chủ sở hữu.
Về vấn đề xung đột về định danh tài sản: Để giải quyết vấn đề xung đột pháp luật về quyền sở
hữu đối với tài sản trong đó có bất động sản, pháp luật của hầu hết các quốc gia đều ghi nhận nguyên
tắc áp dụng luật của nước nơi có tài sản. Tuy nhiên, vấn đề khác nảy sinh đó là nếu đối với cùng một
tài sản mà quốc gia này cho là động sản nhưng quốc gia khác lại quy định là bất động sản thì sẽ giải
quyết như thế nào? Hai khái niệm “động sản” và “bất động sản” không phải là đã được hiểu một
cách thống nhất trong hệ thống pháp luật hiện nay của thế giới. Từ đây phát sinh quy phạm xung đột

đăng kí quốc tịch tàu bay được áp dụng đối với quan hệ xã hội phát sinh trong tàu bay và áp dụng để
xác định các quyền đối với tàu bay”
Điều 5 của Bộ luật hàng hải Việt Nam quy định: “Trong trường hợp có xung đột pháp luật, thì
việc lựa chọn luật để áp dụng được xác định theo các nguyên tắc sau đây:
1. Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản trên tàu, hợp đồng cho
thuê tiền, hợp đồng thuê thuyền viên, hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý, chia tiền công cứu
hộ giữa chủ tầu cứu hộ và thuyền bộ của tàu cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm ở công hải, các vụ
việc xảy ra trên tàu khi tàu đang ở công hải, thì luật được chọn là luật quốc gia mà tàu mang cờ.”
Như vậy, đối với quan hệ sở hữu và quan hệ tài sản trong lĩnh vực hàng không dân dụng và
hàng hải quốc tế hệ thuộc luật của nước nơi có tài sản không áp dụng mà thay vào đó là hệ thuộc luật
quốc kì (lex banderae) hoặc luật nơi đăng kí (lex libri).
- Thực tiễn ở các nước cũng như ở Việt Nam cho thấy, khi xác định quyền sở hữu đối với các
đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ (quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp), cũng không áp dụng
hệ thuộc luật nơi có vật là bởi lẽ, quyền sở hữu trí tuệ có tính đặc thù về mặt lãnh thổ. Tức là về
nguyên tắc, quyền sở hữu trí tuệ phát sinh trên lãnh thổ quốc gia nào thì bảo hộ theo pháp luật của
quốc gia đó, không đương nhiên bảo hộ ở nước ngoài, nếu các quốc gia đó không kí kết các điều ước
quốc tế về vấn đề này. Điều 774 về quyền tác giả có yếu tố nước ngoài và Điều 775 quy định về
quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng có yếu tố nước ngoài cũng theo hướng
này.
3
- Đối với quyền sở hữu tài sản của pháp nhân nước ngoài trong trường hợp bị giải thể không
áp dụng hệ thuộc luật nơi có vật bởi lẽ, trong trường hợp pháp nhân giải thể, thì quyền sở hữu của
pháp nhân vẫn được đảm bảo.
- Đối với tài sản thuộc đối tượng của đạo luật về quốc hữu hóa hoặc tư nhân hóa, theo thực
tiễn của nhiều nước cũng cho thấy, thường không áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản để xác định
quyền sở hữu đối với tài sản đó. Bởi trong nhiều trường hợp những tài sản này nằm ở nước ngoài vào
thời điểm phát sinh hiệu lực của đạo luật quốc hữu hóa hoặc tư nhân hóa, cho nên tính “trị ngoại
lãnh thổ” của các đạo luật này được nước ngoài tôn trọng.
- Các quan hệ về tài sản liên quan đến tài sản của quốc gia đang ở nước ngoài: So với các chủ
thể khác khi tham gia quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài, thì nhà nước, với tính cách là một hệ

cách trực tiếp cũng như gián tiếp thông qua các quy định sau đây:
Theo khoản 1 Điều 759 Bộ luật dân sự 2005 quy định : “Các quy định của pháp luật dân sự
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ
trường hợp Bộ luật này có quy định khác”
Trong quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài thì trừ những trường hợp mà Bộ luật này có quy
định khác thì các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam áp dụng đối với vấn đề này. Những quy
định khác của Bộ luật dân sự được quy định khá rõ tại Điều 2: “Trong trường hợp điều ước quốc tế
4
mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Bộ luật này
thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”. Điều đó có nghĩa là nếu những điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên có quy định khác về quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài thì sẽ không
áp dụng quy định của Bộ luật mà ưu tiên áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Điều 766 Bộ luật dân sự 2005 có quy định: “Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền
sở hữu tài sản, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có
tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều này”
Từ những quy định trên đây, có thể nói rằng quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài được Bộ
luật dân sự bảo vệ, tuy mới chỉ là bảo vệ về mặt nguyên tắc pháp lý. Ngoài những quy định tại Điều
766, trong Bộ luật dân sự chưa có một điều khoản nào khác quy định cụ thể về quan hệ sở hữu có yếu
tố nước ngoài.
* Nghị định 138/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15 tháng 11 năm 2006 quy định
chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài: Tại điều 4
của Nghị định 138/2006 có quy định cụ thể về việc áp dụng pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế,
pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế:
“Việc áp dụng pháp luật dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế pháp
luật nước ngoài và tập quán quốc tế tuân theo quy định của Điều 759 Bộ luật dân sự”.
Điều 759 Bộ luật dân sự có quy định cụ thể về việc áp dụng pháp luật về quan hệ có yếu tố
nước ngoài nói chung và quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài nói riêng. Nghị định 138/2006
đã kế thừa những quy định tại Bộ luật dân sự 2005 về việc trong trường hợp nếu có điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên quy định khác với quy định của Bộ luật thì sẽ ưu tiên áp dụng quy định
của Điều ước quốc tế. Không chỉ có vậy, Nghị định này còn bổ sung một số điểm mới cho phù hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status