pháp luật lao động việt nam trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động - Pdf 23

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin
cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Hồng Minh
1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ luật lao động : BLLĐ
Tổ chức Lao động quốc tế : ILO
Người lao động : NLĐ
Người sử dụng lao động : NSDLĐ
Pháp luật lao động : PLLĐ
Quan hệ lao động : QHLĐ
2
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống chủ thể của QHLĐ, NSDLĐ giữ một vị trí rất quan
trọng. Tuy nhiên, trên thực tế và trong những quy định của PLLĐ, người ta
thường quan tâm và bảo vệ quyền và lợi ích NLĐ hơn bởi quan niệm NLĐ là
đối tượng yếu thế, dễ bị bất lợi hơn trong tương quan với NSDLĐ. Trong những
năm gần đây, các tranh chấp lao động xảy ra nhiều hơn, thường xuyên hơn,
trong đó quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ bị xâm hại cũng chiếm một
phần tương đối lớn. Đã đến lúc phải nhận thấy việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của NSDLĐ cũng cần được coi trọng trong mối tương quan với việc bảo
vệ quyền và lợi ích của NLĐ. Trên thực tế, có những tranh chấp lao động xảy ra

nóng bỏng đối với tất cả các nước đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt
Nam. Hiện nay cũng đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, bài viết đề cập
đến vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ không chỉ ở Việt Nam
mà còn ở các quốc gia khác trên thế giới. Vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của NSDLĐ cũng đã được không ít tác giả nghiên cứu và đề cập dưới các
góc độ và khía cạnh khác nhau, trong số đó phải kể đến các bài viết, tạp chí
nghiên cứu trực tiếp như: “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng
lao động trong các cuộc đình công bất hợp pháp” của ThS.Nguyễn Hằng Hà, tạp
chí Luật học số 1/2008; “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng
lao động trước, trong và sau đình công” của TS. Đỗ Ngân Bình, tạp chí khoa học
4
pháp lý, bài viết “Tổ chức đại diện của NSDLĐ” của TS. Lưu Bình Nhưỡng
đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số tháng 5 năm 2007, v.v…
Ngoài ra, vấn đề nghiên cứu và tìm hiểu các quy định pháp luật có liên
quan đến quyền và lợi ích của người sử dụng lao động cũng có một số công trình
nghiên cứu khác như: “Pháp luật lao động về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của NSDLĐ” - Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả Trần Kiều Trang, trường
Đại học Luật Hà Nội năm 2006…
Qua các kết quả nghiên cứu của các bài viết và luận văn trên đã đề cập
về các vấn đề liên quan đến pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
NSDLĐ. Tuy nhiên, từ khi BLLĐ 2012 được ban hành và có hiệu lực chưa có
công trình nào nghiên cứu sâu sắc về vấn đề bảo vệ NSDLĐ trong quan hệ lao
động hiện nay, hoặc đó mới là các nghiên cứu ở một góc cạnh, một mức độ nhất
định mà chưa đề cập đầy đủ và toàn diện.
Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có và sự tìm hiểu nghiêm túc, tác giả
đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật lao động Việt Nam trong việc bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người sử dụng lao động”.
Tác giả hy vọng đề tài này có ý nghĩa cho việc xây dựng những quy
phạm pháp luật trong lĩnh vực lao động, phù hợp với luật pháp quốc tế và là cơ
sở cho việc áp dụng ở Việt Nam. Những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ là một

các vấn đề về liên quan đến việc nghiên cứu pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của NSDLĐ. Đồng thời, luận văn còn dựa trên cơ sở các quan điểm,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc hoàn thiện pháp luật hiện
hành về đảm bảo quyền lợi cho NSDLĐ, tạo điều kiện cho QHLĐ trở nên hài
hòa, ổn định.
6
Bên cạnh đó trong từng nội dung cụ thể của luận văn, tác giả cũng đã sử
dụng phối hợp các phương pháp tổng hợp, so sánh, đối chiếu, phương pháp phân
tích, đánh giá để làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu.
6. Cơ cấu luận văn
Luận văn gồm lời nói đầu, 3 chương và kết luận:
Chương 1: Khái quát chung về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
NSDLĐ trong PLLĐ
Chương 2: Thực trạng PLLĐ trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của NSDLĐ ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện PLLĐ Việt Nam trong việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ
7
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT LAO
ĐỘNG
1.1. Quan niệm về NSDLĐ và sự cần thiết phải bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của NSDLĐ
1.1.1. Khái niệm NSDLĐ
NSDLĐ là một khái niệm hết sức quan trọng, được đề cập đến trong mọi
Luật lao động tại bất kỳ quốc gia nào.Theo Luật Các tiêu chuẩn lao động của
Hàn Quốc thì: “NSDLĐ là người chủ sở hữu doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, có
trách nhiệm quản lý doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đó. Hay người thay mặt cho
chủ sở hữu doanh nghiệp, cơ sở sản xuất quản lý các vấn đề liên quan tới NLĐ”.

NLĐ không thì không đủ, vì khi đó sẽ dẫn đến tình trạng hoạt động sản xuất và
kinh doanh diễn ra một cách tự phát, không có khoa học, không được chuyên
môn hóa và rất khó khăn trong việc tiêu thụ hàng hóa được sản xuất ra do sản
xuất nhỏ lẻ, manh mún, khối lượng ít, không đủ để xuất khẩu hay đáp ứng các
đơn đặt hàng lớn.
Mặt khác, hầu hết NLĐ thường hạn chế về hiểu biết pháp luật trong việc
tổ chức sản xuất, kinh doanh, nên chưa biết tự tạo cho mình một việc làm, chưa
có sự “động não” một cách thực sự trong khi làm việc, điều đó dẫn đến một
nghịch lý rằng, nguồn lao động tuy nhiều nhưng không biết làm gì cho hiệu quả
và ổn định. Thêm vào đó sẽ tồn tại sự di chuyển lao động từ miền này sang miền
khác, từ nông thôn lên thành thị, từ miền núi xuống đồng bằng, từ đó sẽ tạo ra
làn sóng quá tải lao động ở một số nơi, nhưng lại thưa thớt lao động ở một số
nơi khác mà ở đó sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, khi có
NSDLĐ phân bố lao động sẽ hợp lý hơn bởi NSDLĐ tạo ra việc làm cho NLĐ.
Thêm vào đó con người và xã hội được hình thành, tồn tại và phát triển nhờ quá
9
trình hoạt động sản xuất và nhất là sản xuất vật chất. Sản xuất vật chất là quá
trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên, nhằm cải
biến các dạng vật chất trong giới tự nhiên để tạo ra các loại sản phẩm. Như vậy,
xã hội tồn tại và phát triển trước hết là nhờ sản xuất vật chất. C.Mác viết
“Những thời đại kinh tế - xã hội khác nhau không phải ở chỗ chúng ta sản xuất
ra cái gì mà là ở chỗ chúng ta sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao
động nào”, đó chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất. Trong đó, lực lượng sản xuất cơ bản là toàn bộ nhân loại, là công nhân, là
NLĐ có vai trò quyết định, còn quan hệ sản xuất là QHLĐ do NSDLĐ tạo ra.
Như vậy, nếu không có NSDLĐ thì sẽ không có quan hệ sản xuất hiện đại và
như vậy sẽ làm cho xã hội không phát triển được.
Trải qua các cuộc cách mạng khoa học, cùng với sự phát triển của sản
xuất, khoa học ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh. Sự
phát triển của khoa học công nghệ này thường được những NSDLĐ nắm bắt

kinh tế đang phát triển, nguồn vốn đầu tư tương đối hạn chế, dân số đông, cung
luôn vượt quá cầu lao động, nạn thất nghiệp luôn là mối lo thường trực. Lí luận
kinh tế chính trị cho rằng trong QHLĐ, NSDLĐ luôn ở vị trí thế mạnh, do nắm
giữ trong tay tư liệu sản xuất, chủ động trong việc thiết lập QHLĐ, vì thế, họ là
chủ thể có khả năng bóc lột sức lao động thông qua hình thức giá trị thặng dư.
Chính vì vậy trong một khoảng thời gian dài của nền kinh tế bao cấp, chúng ta
đã xem họ như là một đối tượng cần được loại bỏ, là kẻ thù của NLĐ chân
chính. Mở cửa kinh tế, bước sang nền kinh tế thị trường, tư tưởng trên vẫn còn
là những tàn dư khó đươc xoá bỏ nhất trong tâm lí NLĐ Việt Nam .
Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, NLĐ và đặc biệt là lực lượng lao
động có trình độ cao ngày càng ít bị chi phối từ NSDLĐ bởi vì họ gần như
không còn bị ràng buộc bởi tư liệu sản xuất, khi mà chính tri thức trở thành một
11
công cụ lao động hữu ích nhất. Còn đối với lao động có trình độ thấp hơn, khả
năng lựa chọn nơi giao kết hợp đồng ngày càng được mở rộng, sự phụ thuộc vào
NSDLĐ về việc làm không còn nhiều như trước đây nữa. Chính vì vậy, vị thế
chủ động của NSDLĐ cần được xem xét lại. Hơn nữa, do đặc tính của quá trình
sản xuất, luôn cần đến sự ổn định của lực lượng lao động, đôi khi để bảo vệ cho
sự ổn định này, NSDLĐ tự đặt mình vào thế bị động, chịu nhún nhường.
Nhận định lại mối tương quan giữa hai bên chủ thể QHLĐ trong tình
hình mới, cần có cách nhìn toàn diện hơn đối với vai trò của NSDLĐ. Họ cũng
là một bộ phận của nền kinh tế, quyền và lợi ích của họ được pháp luật Việt
Nam thừa nhận và bảo vệ. Sự thay đổi về mặt tư duy này cần phải tạo ra được
những thay đổi trong các quy định của pháp luật và trong thực tiễn áp dụng pháp
luật nhằm tiến tới xây dựng một môi trường lao động tiến bộ, ổn định cho sự
phát triển kinh tế. Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ chính là xây
dựng một QHLĐ lành mạnh, khi đó lợi ích của NLĐ cũng sẽ được đảm bảo. Và
quan trọng hơn là khi có được môi trường lao động ổn định, kinh tế phát triển,
sẽ thu hút được nhiều nguồn đầu tư, lợi ích thu được ở đây không chỉ là hai bên
trong QHLĐ mà là toàn xã hội.

những chính sách khuyến khích NLĐ như: nâng chức vụ, tăng lương, khen
thưởng đồng thời cũng có những quy định về kỉ luật lao động khi NLĐ không
thực hiện tốt nội quy lao động đã đặt ra. Bên cạnh đó, NSDLĐ được đảm bảo
bồi thường thiệt hại nếu bị NLĐ hoặc các chủ thể khác xâm hại lợi ích hợp
pháp.
Những nội dung của nguyên tắc này đều được nhà nước quy định trong
các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp của NSDLĐ.
1.2.2. Nội dung bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ
Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải bảo đảm các quyền và lợi ích của
NSDLĐ, xuất phát từ nhu cầu của NSDLĐ, theo thông lệ quốc tế (theo quan
13
điểm của Tổ chức Lao động quốc tế và quan điểm của một số nước), việc bảo vệ
các quyền và lợi ích của NSDLĐ thể hiện ở các nội dung sau:
(i) NSDLĐ được quyền tuyển dụng lao động, sử dụng lao động theo
nhu cầu sản xuất kinh doanh
Đây là một trong những quyền phổ biến của NSDLĐ, vì khi NSDLĐ có
được quyền này, họ mới chủ động được trong việc tuyển dụng lao động nhằm
đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuyển dụng lao
động là một hiện tượng xã hội phát sinh từ sự mua bán một loại hàng hóa đặc
biệt trong xã hội, đó là hàng hóa sức lao động. NLĐ (người bán) sẽ bán sức lao
động mà họ có, còn NSDLĐ (người mua) sẽ mua sức lao động của NLĐ để tiến
hành sản xuất kinh doanh. Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt không thể
mua ngay và sử dụng ngay trong một lần mua, bán, mà nó đòi hỏi phải có một
quá trình, một thời gian nhất định. Chính vì vậy, quá trình sử dụng lao động
được diễn ra, đây là khâu quan trọng để tồn tại QHLĐ. Việc tuyển dụng rất có ý
nghĩa đối với NSDLĐ, vì NSDLĐ có được một số lượng và chất lượng NLĐ tốt
thì sẽ đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp, đồng thời nó cũng tạo cho
NLĐ có việc làm ổn định, góp phần giải quyết sự thất nghiệp trong xã hội, làm
giảm bớt sự nghèo đói và tệ nạn xã hội. Mặt khác, khi được quyền tuyển dụng

hoặc quản lý tài sản của đơn vị (ở đây thể hiện quan hệ sở hữu chi phối quan hệ
quản lý và quan hệ phân phối), do đó họ có trách nhiệm sử dụng hiệu quả khối
tài sản đó. Việc thực hiện quyền quản lý phải tuân thủ pháp luật, các quy định,
quy chế mới đảm bảo tính công bằng và tinh thần trách nhiệm trong QHLĐ. Do
vậy, trong quản lý, điều hành NSDLĐ có quyền điều chuyển NLĐ, có quyền
đưa ra những chế độ khen, thưởng và kỷ luật một cách đúng mức nhằm khích lệ
NLĐ làm việc. Khoản 1, Điều 6 BLLĐ 2012 có quy định NSDLĐ có quyền
tuyển dụng, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh; khen
15
thưởng và xử lý vi phạm kỷ luật lao động. Pháp luật hầu hết các nước cũng đều
quy định vấn đề này.
NSDLĐ có thể phối hợp với tổ chức công đoàn trong quản lý lao động
và kí kết thoả ước lao động tập thể phù hợp với điều kiện của đơn vị. Tổ chức
công đoàn là một tổ chức được thành lập khi có QHLĐ được thiết lập, lãnh đạo
của tổ chức công đoàn là do NLĐ bầu ra, hoạt động của tổ chức công đoàn là
chăm lo đời sống của NLĐ (tức chia sẻ lúc hoạn nạn, ốm đau ), là cơ quan đại
diện cho NLĐ để bảo vệ quyền lợi cho NLĐ khi NSDLĐ xâm phạm quyền và
lợi ích của NLĐ. Tuy nhiên, không chỉ thế, tổ chức công đoàn còn tham gia hòa
giải khi có tranh chấp lao động xảy ra. Tổ chức công đoàn còn động viên, khích
lệ NLĐ làm việc sao cho có năng suất và hiệu quả. Do vậy, nếu cơ sở nào biết
phát huy hết tác dụng của tổ chức công đoàn thì sẽ góp phần giải quyết và làm
hạn chế các tranh chấp lao động có thể xảy ra. Vì vậy, pháp luật cần phải bảo
đảm để NSDLĐ có thể phối hợp với tổ chức công đoàn trong quản lý lao động
và kí kết thoả ước lao động tập thể phù hợp với điều kiện của đơn vị.
(iii) NSDLĐ có quyền được bảo vệ về tài sản
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, NSDLĐ sở hữu rất nhiều loại tài
sản. Từ những tài ản vật chất ban đầu mà họ đầu tư như thiết bị, máy móc, nhà
xưởng đến những tài sản phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, và thậm
chí là cả những loịa tài sản phi vật chất khác. Đối với những tài sản mà NSDLĐ
đã đầu tư, đương nhiên thuộc sở hữu của họ và được Hiến pháp cũng như pháp

của NSDLĐ thì NLĐ phải bồi thường cho NSDLĐ theo khuôn khổ của pháp
luật, có như vậy mới đảm bảo cho sự đầu tư thêm, đầu tư lại của NSDLĐ. Điều
này cũng đã được nhiều nước áp dụng. Theo Điều lệ thưởng phạt đối với công
nhân viên doanh nghiệp của Trung Quốc ban hành ngày 10/4/1982 quy định:
“NLĐ gây thiệt hại về Kinh tế do thiếu trách nhiệm hoặc vi phạm quy trình thao
tác mà làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, làm ra phế phẩm thì bị xử phạt bồi thường
17
theo tình tiết nặng, nhẹ và tiền bồi thường được tính trừ vào tiền lương mỗi
tháng nhưng không quá 20% tiền lương”.[5,tr.30] Theo quy định của PLLĐ Việt
Nam, NLĐ làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài
sản của NSDLĐ thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Trường hợp NLĐ gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị
không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng
tại nơi NLĐ làm việc, thì NLĐ phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền
lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định của pháp luật. Bên
cạnh đó, NLĐ làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của NSDLĐ hoặc tài sản khác
do NSDLĐ giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường
thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng
trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm (Điều 130, BLLĐ
2012). Như vậy, việc bảo đảm cho NSDLĐ được bồi thường thiệt hại nếu bị
NLĐ hoặc các chủ thể khác xâm hại lợi ích hợp pháp là hoàn toàn hợp pháp và
hợp lệ.
1.2.3. Biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ
Biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích của NSDLĐ chính là cách thức và
phương pháp tiến hành để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ do
pháp luật quy định, sao cho không bị các đối tượng khác xâm phạm đến lợi ích
của NSDLĐ. Tùy vào từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể mà có các biện pháp bảo
vệ khác nhau. Thông thường để bảo vệ các quyền và lợi ích của mình một cách
tốt nhất và có hiệu quả, NSDLĐ có thể áp dụng các biện pháp sau:
(i) Tham gia tổ chức của NSDLĐ

dẫn đến mâu thuẫn lớn tiếp theo và không cần có sự can thiệp của các cơ quan
công quyền. Thông thường NSDLĐ rất thích và quan tâm đến phương pháp này,
vì họ không có nhiều thời gian để đi tranh chấp lao động ngoài tòa án mà họ
phải tập trung vào sản xuất, kinh doanh. Mặt khác, khi các tranh chấp trong
QHLĐ được hòa giải thì uy tín, danh dự và sự nghiệp của NSDLĐ sẽ ít bị tổn
19
hại. Do đó, thương lượng là phương pháp mà NSDLĐ luôn hướng tới khi có
tranh chấp lao động xảy ra. Do nó mang tính đơn giản, gọn nhẹ, ít phức tạp và
tốn ít chi phí cả về tài chính và thời gian nên nó được NSDLĐ lựa chọn hàng
đầu.
Một tranh chấp lao động xảy ra khi một trong các bên cảm thấy quyền
lợi của mình bị xâm phạm, do đó họ muốn bảo đảm và đòi quyền lợi cho mình.
Khi đó việc thương lượng sẽ không thành và sẽ không đạt được kết quả như
mong đợi. Vì vậy, việc hòa giải sẽ được sử dụng khi hai bên đã không thể
thương lượng được. Khi công tác hòa giải được tiến hành thì sẽ có thêm một cấp
trung gian đứng ra làm hòa giải và họ sẽ có những tiếng nói nhằm đảm bảo lợi
ích của cả hai bên.
Hòa giải là một biện pháp hòa bình, hữu nghị, bởi khi NSDLĐ lựa chọn
hình thức này chứng tỏ rằng NSDLĐ rất tôn trọng người hòa giải, họ cần sự
khách quan, công bằng khi nhìn nhận vấn đề. Khác với Trọng tài hay tòa án,
người hòa giải không có quyền đưa ra những phán quyết, nhưng lời thương
thuyết của họ lại có tính thuyết phục, có giá trị. Trong xã hội hiện nay thì công
tác hòa giải, cấp trung gian hòa giải là cực kỳ quan trọng và cần thiết trong mối
QHLĐ.
Trong công tác hòa giải, trình tự hòa giải cũng rất đơn giản, nhanh gọn,
do đó làm cho NSDLĐ rất đồng tình và ủng hộ, vì chính họ cũng không muốn
kéo dài thời gian tranh chấp lao động. Thông thường, trong vòng bảy ngày làm
việc kể từ khi nhận được đơn yêu cầu hòa giải của các bên tranh chấp lao động
thì Hội đồng hòa giải phải tiến hành hòa giải. Hiện nay, thời gian đó là phù hợp
cho cả các bên tranh chấp và Hội đồng hòa giải. Khi có tranh chấp trong QHLĐ,

thì không bên nào được hành động đơn phương chống lại bên kia (Điều 208,
BLLĐ 2012). Các bên cũng có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết. Tuy
21
nhiên loại tranh chấp mà thủ tục giải quyết tranh chấp lao động có khác nhau.
Đối với tranh chấp lao động cá nhân sau khi hòa giải không thành các bên mới
được quyền yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết Song cũng có một số loại
tranh chấp lao động cá nhân các bên có thể khởi kiện luôn ra Tòa án nhân dân
mà không cần qua hòa giải (Khoản 1 Điều 201 BLLĐ 2012). Còn đối với tranh
chấp lao động tập thể thông thường tranh chấp đó phải được giải quyết tại một
số các cơ quan tổ chức rồi mời được giải quyết tại Tòa án nhân dân. Chẳng hạn
như ở Việt Nam đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền phải được giải
quyết tại Hội đồng hòa giải cơ sở, Chủ tịch Ủy Bản nhân dân huyện nếu không
giải quyết được mới ra Tòa án nhân dân.
1.3. Sơ lược lịch sử pháp luật bảo vệ NSDLĐ ở Việt Nam
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1994 ( trước khi ban hành BLLĐ)
Ngay từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, Hồ chủ tịch
và những người đứng đầu Chính phủ đã rất quan tâm đến lĩnh vực lao động. Sắc
lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 ra đời quy định và giao dịch làm công giữa các
ông chủ người Việt Nam hay ngoại quốc với các công nhân Việt Nam tại các
xưởng kỹ nghệ hầm mỏ, thương điếm. Tuy mang tính chất sơ khai và khả năng
thực thi còn nhiều hạn chế nhưng có thể nói Sắc lệnh số 29/SL đã đặt nền móng
quan trọng cho việc điều chỉnh mối QHLĐ giữa NLĐ và NSDLĐ trong giai
đoạn này.
Khi miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, các QHLĐ xảy ra
tranh chấp sẽ được giải quyết theo thủ tục hành chính. Trong khi đó, ở miền
Nam, QHLĐ giữa NLĐ và NSDLĐ được điều chỉnh theo Bộ luật lao động Việt
Nam cộng hòa do vua Bảo Đại ban hành theo chỉ dụ số 15 ngày 8/7/1952.
Sau năm 1975, chúng ta quản lý nhà nước theo cơ chế tập trung bao cấp,
QHLĐ chưa được quan tâm đúng mức. Trong giai đoạn này, NSDLĐ chỉ là
người nhân danh Nhà nước trong quản lý tài sản mà không có quyền quyết định

23
số 01/LĐTBXH ngày 09/01/1988 hướng dẫn thực hiện Quyết định số
217/HĐBT trong lĩnh vực tuyển dụng lao động v.v…
Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ trong
giai đoạn này vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Quan niệm NLĐ là bên cần
được bảo vệ hơn trong QHLĐ vẫn được thể hiện rõ. PLLĐ gần như chỉ chú
trọng vào việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ. Như vậy, ở thời điểm này, vấn đề bảo
vệ quyền và lợi ích của NSDLĐ mới tồn tại dưới dạng một số chế định riêng lẻ
chứ chưa tạo thành một hệ thống. Phải đến khi Bộ luật lao động năm 1994 ra
đời, chúng ta mới các cái nhìn biện chứng và xuyên suốt vấn đề này.
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1994 đến nay
Ngày 23/06/1994, Bộ luật lao động được Quốc hội khóa IX nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua, và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1995.
Trong lời nói đầu của Bộ luật ghi rõ: “Bộ luật lao động bảo vệ quyền làm việc,
lợi ích và các quyền khác của NLĐ đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của NSDLĐ, tạo điều kiện cho QHLĐ được hài hòa, ổn định, góp phần phát huy
sáng tạo và tài năng của NLĐ trí óc và lao động chân tay, của người quản lý lao
động…”
Như vậy, vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của NSDLĐ được đặt ngang
tầm với quyền vào lợi ích của NLĐ. NSDLĐ đã có một vị trí pháp lý cao hơn, tự
chủ hơn trong cơ chế thị trường và phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội.
Các chế định trong Bộ luật lao động quy định rất cụ thể những trường
hợp NSDLĐ được bảo vệ, điều này cũng giúp cho NLĐ có ý thức hơn đối với
hành vi của mình.
Sau khi bộ luật lao động ra đời đã có nhiều nghị định hướng dẫn thi hành
như: Nghị định 195/CP ngày 31/12/1994 về Thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ
ngơi; Nghị định 196/CP ngày 31/12/1994 về Thỏa ước lao động tập thể; Nghị
định 197/CP ngày 31/12/1994 về Tiền lương; 198/CP ngày 31/12/1994 về Hợp
đồng lao động; Nghị định 06/CP ngày 20/1/1995 về An toàn lao động và vệ sinh
lao động; Nghị định 07/CP ngày 20/1/1995 về Đưa người đi lao động, đi làm

Trích đoạn Thực trạng PLLĐ Việt Nam trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ trong tuyển dụng lao động Thực trạng PLLĐ Việt Nam trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ trong quản lý lao động Thực trạng PLLĐ Việt Nam trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ trong bồi thường thiệt hại về tài sản Một số giải pháp góp phần hoàn thiện PLLĐ trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện PLLĐ trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status