Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam - Pdf 10

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HƯNG BÌNH
b¶o vÖ quyÒn vµ lîi Ých hîp ph¸p
cña ngêi cha thµnh niªn theo ph¸p luËt
tè tông h×nh sù viÖt nam
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2013
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HƯNG BÌNH
b¶o vÖ quyÒn vµ lîi Ých hîp ph¸p
cña ngêi cha thµnh niªn theo ph¸p luËt
tè tông h×nh sù viÖt nam
Chuyên ngành : Luật Hình sự
Mã số : 62.38.40.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS, TSKH ĐÀO TRÍ ÚC
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản
thân, được xuất phát từ yêu cầu phát sinh trong công việc để
hình thành hướng nghiên cứu. Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng
tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận án
được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực chưa
từng được ai công bố trước đây.
Hà Nội, tháng 9 năm 2013
Tác giả
Trần Hưng Bình
MỤC LỤC
Trang

2.2.3. Bảo vệ thông qua các thiết chế gia đình và xã hội 63
2.3. KINH NGHIỆM BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA MỘT SỐ
QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 64
2.3.1. Khái quát về một số phương thức bảo vệ người chưa thành niên trong
tố tụng hình sự trên thế giới 64
2.3.2. Một số mô hình Tòa án chuyên trách người chưa thành niên trên thế
giới 68
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 71
Chương 3
THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 74
3.1. CÁC QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 74
3.1.1. Trong việc thực hiện quy định những điều cần chứng minh trong điều
tra, truy tố, xét xử vụ án người chưa thành niên phạm tội (Điều 302
BLTTHS) 74
3.1.2. Trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên 80
3.1.3. Trong việc tham gia tố tụng của luật sư, người bào chữa 83
3.1.4. Việc thực hiện quy định bảo đảm quyền riêng tư của người chưa thành
niên trong quá trình xét xử 89
3.2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TIẾN
HÀNH TỐ TỤNG TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 90
3.2.1. Nhận thức hạn chế về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
chưa thành niên trong tố tụng hình sự ở các cơ quan, người tiến hành
tố tụng 91
3.2.2. Về năng lực cán bộ tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 153
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 154
PHỤ LỤC i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
BLHS : Bộ luật Hình sự
BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
CQĐT : Cơ quan điều tra
CƯQTE : Công ước quyền trẻ em
ĐTV : Điều tra viên
HTND : Hội thẩm nhân dân
KSV : Kiểm sát viên
NCTN : Người chưa thành niên
NCTNPT : Người chưa thành niên phạm tội
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
TTHS : Tố tụng hình sự
TTLT : Thông tư liên tịch
VAHS : Vụ án hình sự
VKSND : Viện Kiểm sát nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài
người, là một trong những giá trị tinh thần quý báu và cao cả nhất của nền văn
minh nhân loại trong thời đại hiện nay. Quyền con người bao gồm những
quyền không thể tước bỏ, do đó, bảo vệ quyền con người chính là những bảo
đảm pháp lý toàn cầu, có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại
những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến quyền con người. Ở Việt
Nam, bảo vệ quyền con người đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt

đang có xu hướng gia tăng về số lượng và mức độ nguy hiểm của hành vi (theo
VKSND tối cao "tỷ lệ tội phạm vị thành niên bị VKSND truy tố đã tăng lên; tỷ
lệ tăng bình quân 10% hàng năm"). Do đó, khi phải đối mặt với những sự kiện
pháp lý như đã nêu, NCTN cần một sự bảo đảm vững chắc và hữu hiệu từ phía
những quy định của pháp luật TTHS. Yêu cầu này đòi hỏi, bên cạnh các biện
pháp nhằm bảo đảm và bảo vệ NCTN trong xã hội, thì Nhà nước, các cơ quan
tiến hành tố tụng cần có những điều chỉnh kịp thời, thích hợp (về chính sách hình
sự cũng như thủ tục tố tụng) dành cho đối tượng này để bảo đảm quyền, lợi ích
chính đáng của họ khi tham gia tố tụng. Điều này không ngoài mục đích bảo vệ
quyền con người trong tố tụng hình sự; phù hợp với xu thế nhân đạo hóa của
pháp luật hình sự, tố tụng hình sự trong nhà nước pháp quyền.
Hiện tại Việt Nam chưa có hệ thống tư pháp dành riêng cho NCTN theo
đúng ý nghĩa của thuật ngữ này. Về thể chế, chúng ta mới chỉ có Chương XXXII
(từ Điều 301 đến Điều 310) BLTTHS quy định về thủ tục tố tụng đối với NCTN.
Tuy nhiên, các quy định này chưa đủ chi tiết, cụ thể để các cán bộ tiến hành tố
tụng bảo đảm hệ thống được vận hành phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Do
đó, trên thực tế, như nhận định của của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 08/NQ-
TƯ ngày 02/01/2001: Công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu cầu
và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người
2
vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin
của nhân dân với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp. Điều này đồng nghĩa
với việc quyền, lợi ích của con người (trong đó có thể có NCTN) chưa thực sự
được bảo vệ.
Chính vì vậy, tác giả chọn việc nghiên cứu đề tài Luận án "Bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam" với mong muốn có những đóng góp không chỉ cho việc
bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của NCTN mà còn thực hiện thắng
lợi công cuộc cải cách tư pháp, góp phần xây dựng thành công nhà nước pháp
quyền XHCN.

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
Bốn là, kiến giải hướng tới hoàn thiện các quy định của pháp luật thực
định và hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng đặc thù nhằm bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của NCTN.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Căn cứ trên mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên, đối tượng mà đề tài Luận án tập
trung nghiên cứu là những vấn đề sau:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam trong lĩnh
vực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người chưa thành niên;
Nếu căn cứ quy định của pháp luật Việt Nam, khái niệm “người chưa
thành niên” hoàn toàn khác với “trẻ em”. Mặc dù còn nhiều quan điểm khác
nhau, nhưng trong Luận án, tác giả nghiên cứu về “người chưa thành niên” là
người dưới 18 tuổi, do độ tuổi này phù hợp với quy định chung về “trẻ em” theo
pháp luật quốc tế (Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng
Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989), đồng thời, độ tuổi này cũng được
yêu cầu bảo vệ khá phổ biến trong các văn kiện pháp luật quốc tế. Do đó, khi
nghiên cứu các quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chuẩn mực
4
quốc tế, thuật ngữ “trẻ em” nhằm chỉ nhóm đối tượng tất cả những người dưới
18 tuổi, hoàn toàn phù hợp với đối tượng NCTN mà tác giả nghiên cứu trong
luận án.
Khi xem xét đánh giá đối với hệ thống pháp luật TTHS Việt Nam, mặc dù
tên Đề tài chỉ phạm vi “theo pháp luật TTHS Việt Nam” nhưng do pháp luật
TTHS là luật hình thức, việc nghiên cứu không thể toàn diện nếu không gắn với
việc nghiên cứu các quy định của luật nội dung - pháp luật Hình sự. Do đó, trong
Luận án, tác giả sẽ nghiên cứu các quy định của cả hai Bộ luật này để làm rõ các
quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN.
Thứ hai, nghiên cứu về cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
chưa thành niên phạm tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

- Phạm vi về không gian:
+ Quốc tế: Đặc điểm của quyền con người là có tính phổ biến (cái chung),
tuy nhiên quyền của NCTN lại có tính đặc thù (cái riêng). Do đó, phạm vi
nghiên cứu trước hết là quyền của NCTN nói chung trong các lĩnh vực của đời
sống xã hội trên phạm vi quốc tế, được ghi nhận trong hệ thống pháp luật quốc tế
như các công ước, điều ước quốc tế. Trong phạm vi này, tác giả sẽ phân tích nội
dung, tính chất, đặc điểm các quyền của NCTN trong Tư pháp hình sự quốc tế;
những biện pháp, cơ chế bảo vệ các quyền này. Những nghiên cứu này sẽ làm cơ
sở để so sánh, đánh giá pháp luật, thực tiễn Việt Nam trong việc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS.
+ Việt Nam: tác giả nghiên cứu về quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN
trong phạm vi các quy định của Việt Nam, bao gồm: các quan điểm của Đảng,
Nhà nước về vấn đề quyền con người, quyền của NCTN, quyền và lợi ích hợp
pháp của NCTN trong TTHS; về vai trò, nhiệm vụ bảo vệ quyền con người
(trong đó có quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN) của pháp luật TTHS trong
nhà nước pháp quyền…; những quy định của PLHS và TTHS về vấn đề bảo vệ
6
quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, cũng như các vướng mắc, tồn tại trong
thực tiễn áp dụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng khi giải quyết các vụ
án liên quan đến NCTN.
- Phạm vi về thời gian: Việc nghiên cứu được tác giả phạm vi trong mốc
thời gian từ thời điểm có hiệu lực của BLTHS 2003 (ngày 1/7/2004) đến thời
điểm hiện tại.
4. Ý nghĩa và các đóng góp mới của luận án
4.1. Ý nghĩa
- Ý nghĩa về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án làm giàu thêm lý
luận về quyền của NCTN nói chung và quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN
trong tố tụng hình sự nói riêng. Góp phần luận giải tính phổ biến và tính đặc thù
của quyền con người, đó là: đồng thời với việc coi quyền con người là giá trị
được thừa nhận chung, thì nó cũng được cụ thể hóa trong các lĩnh vực của đời

luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người chưa thành niên trong tố tụng hình sự
Chương 3: Thực trạng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa
thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 4: Các giải pháp nhằm bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp
pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Quyền con người (nói chung) và quyền của NCTN là một trong những
vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong suốt các giai đoạn
phát triển của lịch sử nhân loại. Trong luận án này, khi nghiên cứu vấn đề bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, tác giả sẽ tập trung xem xét trong khoa
học pháp lý Quốc tế và Việt Nam: vấn đề này đã được đặt ra từ khi nào? ở đâu?
đã giải quyết được đến đâu? Còn những vấn đề gì về lý luận cũng như thực tiễn
cần tiếp tục đặt ra và giải quyết? Đây chính là cơ sở cho việc đưa ra những kết
quả nghiên cứu mới trong lĩnh vực này.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trước tiên, phải kể đến Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (ngày
26/08/1789) được các nhà cách mạng Pháp công bố, đánh dấu sự phát triển lên
một bậc thang mới của quyền con người. Tuy nhiên, thành tựu quan trọng cho sự
phát triển quyền con người đó chính là sự ra đời của Tuyên ngôn thế giới về
quyền con người (UDHR) - được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày
10/12/1948, tại Palaisde Chaillot, Paris, Pháp. Ngày 16/12/1966, Liên Hợp Quốc
thông qua hai Công ước quốc tế về quyền con người, là Công ước về các quyền
kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) và Công ước về các quyền dân sự, chính trị
(ICCPR). Có thể khẳng định, đây là ba văn kiện quốc tế quan trọng đặt nền tảng

tiễn, từ đó đặt ra những đòi hỏi phải hoàn thiện tư pháp NCTN trên cơ sở cân
bằng lợi ích của xã hội, người giám hộ và NCTN.
- Cuốn sách "Child protect in America: Past, Present and Future, John"
(Bảo vệ trẻ em ở Mỹ: Quá khứ, hiện tại và tương lai) do E. B, Myers thực hiện
được Oxford University xuất bản năm 2006. Trong cuốn sách tác giả tập trung
vào đối tượng nghiên cứu là trẻ em bị lạm dụng và bị bỏ rơi, trên cơ sở đó tìm
10
kiếm những giải pháp làm giảm tình trạng trẻ em bị lạm dụng, bị xao nhãng
trong xã hội Mỹ thông qua việc đề xuất các biện pháp cải cách hệ thống bảo vệ
trẻ em. Với hai mục đích trên, tác giả đã chia cuốn sách thành hai phần, cụ thể:
Phần 1 tập trung vào việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển hệ thống
pháp luật bảo vệ trẻ em tại Mỹ; Phần 2, tập trung phân tích những nguyên nhân
dẫn đến tình trạng lạm dụng và bỏ mặc trẻ em từ quá khứ đến hiện tại. Trên cơ
sở chỉ ra những thay đổi trong xã hội và nguyên nhân dẫn đến việc bảo vệ trẻ
em bị ngược đãi không đạt hiệu quả như mong muốn, tác giả đưa ra những giải
pháp cần thiết để hoạt động bảo vệ trẻ em bị lạm dụng và bị bỏ mặc đạt hiệu
quả bền vững.
- Cuốn: "Juvenile Court: A Judge's Guide for young adults and Their
Parents" (Tòa án NCTN: Hướng dẫn pháp lý cho NCTN và cha mẹ do Leora
Krygier công bố được The Scarecrow phát hành năm 2009. Công trình đã giới
thiệu một cách có hệ thống về khái niệm NCTN, mục đích của việc thành lập
tòa án NCTN, cơ cấu tổ chức hệ thống tòa án NCTN. Sự cần thiết phải thành
lập tòa án NCTN độc lập với tòa án thành niên. Phần 2 của cuốn sách, tác giả
đã giới thiệu những kỹ năng cần thiết khi nhận được Giấy triệu tập của Tòa án
đối với NCTN và cha mẹ của họ; những kiến thức cần biết về các nhân viên
thực thi pháp luật; những kỹ năng cần thiết khi làm việc với những nhân viên
thực thi pháp luật, chẳng hạn như cảnh sát đang thi hành công vụ ở các tình
huống khác nhau. Đồng thời tác giả cũng giới thiệu các quyền của NCTN khi
bị tạm giữ hoặc bị tham gia quá trình tố tụng hình sự. Mặt khác, cuốn sách tập
trung làm rõ tiến trình tố tụng của tòa án NCTN, những kỹ năng cần thiết cho

nước) do Harry Adams thực hiện nghiên cứu và Đại học New York ấn hành năm
2008. Với hơn 197 trang viết, tác giả đã đề cập đến sự thay đổi của lứa tuổi
NCTN thông qua những biến đổi về tâm sinh lý. Đây là giai đoạn NCTN có sự
biến đổi lớn về nhận thức và hành vi, trẻ chuyển từ trạng thái luôn gắn bó với
cha mẹ, coi cha mẹ là thần tượng sang trạng thái muốn thoát dần ảnh hưởng của
cha mẹ, có khuynh hướng độc lập. Qua đó tác giả đề xuất những khu vực mà
12
NCTN có thể "tự quản", và đồng thời xác lập những giới hạn cần thiết thông qua
sự can thiệp của gia đình, nhà trường và pháp luật đối với hành vi của trẻ. Mặt
khác, tác giả cũng khẳng định không có học thuyết pháp lý nào là hoàn hảo tuyệt
đối để áp dụng duy nhất.
- Cuốn: "Justice for Children: Detention as a Last Resort" (Innovative
Initiatives in the East Asia and Pacific Region) (Tư pháp cho trẻ em: Phạt tù như
là biện pháp cuối cùng (Sáng kiến ở khu vực Đông Nam Á và Thái Bình
Dương), do tổ chức Unicef East Asia And Pacific Regional Office (EAPRO) ấn
hành. Công trình tiếp cận vấn đề tư pháp NCTN thông qua thực tiễn ba quốc gia:
Philipin, Thái Lan, Campuchia. Tư pháp NCTN không chỉ nhằm mục đích
hướng tới NCTN phạm tội mà còn giải quyết các vấn đề liên quan đến trẻ em là
nạn nhân của nghèo đói, lạm dụng, bóc lột sức lao động, trẻ em là nạn nhân của
việc buôn người, nạn nhân của công nghiệp tình dục, Trên cơ sở tiếp cận dưới
góc độ những tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế, đối chiếu với những hoạt động
lập pháp của các quốc gia, thực tiễn thực thi pháp luật bảo vệ quyền trẻ em tại
các quốc gia này thông qua các mô hình tư pháp hình sự được thiết lập, và ở đó
việc áp dụng hình phạt tù đối với NCTN như là biện pháp cuối cùng.
- Cuốn: "Handbook for Professionals And Policymakers on Justice
Matters Involving Child Victims and Witnessed of Crime" (Sổ tay cho những
người làm công tác pháp luật và xây dựng chính sách liên quan đến nạn nhân
và nhân chứng trẻ em), là một trong số series các cuốn sổ tay tư pháp hình sự
do Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về ma túy và hình sự phát hành năm
2009. Cuốn sách đã cung cấp các kiến thức nền tảng về tư pháp NCTN cho các

quyền chủ thể tham gia tố tụng bao gồm các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình
sự, các quy định về thủ tục, trình tự tố tụng, các giai đoạn của TTHS, các hoạt
động kiểm sát tuân theo pháp luật và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng.
Đây là điểm xuất phát rất quan trọng, là cơ sở lý luận mang tính tiền đề để tác
giả luận án tiếp tục đi sâu phân tích cơ sở lý luận về quyền và lợi ích hợp pháp
14
của NCTN trong TTHS và các biện pháp mang tính xuất phát điểm về mặt lý
luận nhằm bảo vệ hiệu quả quyền của NCTN trong TTHS Việt Nam.
Hai là, các công trình nghiên cứu đã cung cấp cho tác giả một cái nhìn
toàn diện về khái niệm quyền của NCTN và tiếp cận được với khái niệm quyền
và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS dưới góc độ luật học so sánh. Mặc
dù các nước với các hệ thống pháp luật khác nhau, tiếp cận khái niệm quyền của
NCTN dưới các góc độ khác nhau nhưng tổng quan các tài liệu này cho phép tác
giả có cơ sở khái quát khái niệm quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong
TTHS một cách đa chiều và có tính so sánh, đối chiếu.
Ba là, những kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng đối với
Luận án là đã khái quát được một cách khá đầy đủ thực trạng pháp luật quốc tế
về quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, từ đó giúp tác giả có cơ sở để nghiên
cứu so sánh với thực trạng pháp luật Việt Nam về việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của NCTN trong TTHS và có thể luận giải đưa ra một số giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Quyền con người từ lâu đã là đối tượng quan tâm của nhiều ngành khoa
học xã hội, trong đó có khoa học pháp lý. Trong đó, quyền của NCTN trong
TTHS đã được được xem xét và đề cập dưới nhiều cấp độ:
- Quyền con người nói chung, bảo vệ Quyền con người;
- Quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN;
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS.
Trong quá trình nghiên cứu tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này,
tác giả tập hợp, phân loại và đánh giá các tài liệu thành ba nhóm theo các vấn đề

quan hệ hôn nhân và gia đình, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 1999;
Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam, Hoàng Thế Liên, NXB Giáo dục
1996; Vì quyền trẻ em và sự bình đẳng của phụ nữ, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, 2000; Quyền của trẻ em và phương tiện thông tin đại chúng, NXB
Chính trị quốc gia, 2000; Thúc đẩy các phương pháp tiếp cận dựa trên quyền trẻ
16
em, kinh nghiệm và sáng kiến từ các nước châu Á, NXB Chính trị quốc gia năm
2006; Quyền trẻ em (Sách chuyên đề nghiên cứu và giảng dạy và thực hiện
quyền trẻ em), Trung tâm nghiên cứu quyền con người năm 2000; Vì quyền trẻ
em và sự bình đẳng của phụ nữ, Viện Thông tin khoa học xã hội 1999; Quyền
và bổn phận của trẻ em - những vấn đề đặt ra cho xã hội hiện nay, Đặng Cảnh
Khanh, Tạp chí Cộng sản số 16/2003;
Các công trình nghiên cứu trên đây đã nghiên cứu quyền của NCTN (Trẻ
em) dưới giác độ là một bộ phận của quyền con người với những nội dung, tính
chất đặc điểm cụ thể; trong đó đã triển khai các vấn đề về bảo vệ chăm sóc trẻ
em; đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về bảo vệ quyền trẻ em; hỗ trợ nâng
cao năng lực nghiên cứu và tổ chức thực hiện quyền trẻ em; tư vấn cho các cấp
xây dựng cơ chế quản lý Nhà nước về thực hiện quyền trẻ em; hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực thực hiện và bảo vệ quyền trẻ em, nhằm tạo điều kiện cho trẻ em
Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền: học tập, lao động, vui chơi, phát triển,
bình đẳng trong cộng đồng. Đặc biệt có đề cập đến các cơ chế bảo đảm, bảo vệ
quyền trẻ em nói chung.
Trong các nghiên cứu này, vấn đề quyền của NCTN trong TTHS vẫn
chưa được đề cập trực tiếp. Tuy nhiên, những nghiên cứu trên đây là cơ sở đáng
tin cậy để tiếp tục nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
NCTN trong TTHS - đây được coi là một phương thức bảo vệ riêng.
Nhóm nghiên cứu về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN
trong TTHS
Quyền con người (nói chung) và quyền của NCTN trong TTHS được
quan tâm nghiên cứu không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới. Bởi lẽ trong lĩnh

Một là, dưới góc độ pháp luật TTHS, các công trình đã tham khảo các
chuẩn mực của pháp luật quốc tế về vấn đề quyền con người trong TTHS, đã
làm sáng tỏ về mặt nội dung, đặc điểm, tính chất của các quyền con người
trong đó có quyền của NCTN trong TTHS Việt Nam; đồng thời đề xuất các
biện pháp nhằm bảo vệ quyền con người trong TTHS. Theo đó, có việc bảo
18

Trích đoạn Xu hướng quốc tế Quan điểm cuả Đảng, Nhà Nước về bảo vệ quyền và lợi ớch hợp phỏp của người chưa thành niờn trong tố tụng hỡnh sự Giải phỏp về tăng cường thể chế Bổ sung những vấn đề mang tớnh nguyờn tắc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status