VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HƯNG BÌNH
B¶O VÖ QUYÒN Vµ LîI ÝCH HîP PH¸P
CñA NG¦êI CH¦A THµNH NI£N THEO PH¸P LUËT
Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành : Luật Hình sự
Mã số : 62.38.40.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2013
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH
TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: GS, TSKH Đào Trí Úc
Phản biện 1: PGS, TS. Trần Đình Nhã
Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội
Phản biện 2: PGS, TS. Phùng Thế Vắc
Học viện An ninh
Phản biện 3: PGS, TS. Hoàng Thị Minh Sơn
Đại học Luật Hà Nội
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án
cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học Xã hội
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2014
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia
và Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài
người. Quyền con người bao gồm những quyền không thể tước bỏ, do đó, bảo vệ
quyền con người chính là những bảo đảm pháp lý toàn cầu.
Tố tụng hình sự của bất kỳ quốc gia và hệ thống pháp lý nào cũng đều phải
pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam; 2) Chỉ ra những bất cập, hạn chế trong
các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của NCTN, cũng như những tồn tại trong thực tiễn áp dụng; 3) Kiến giải
hướng tới hoàn thiện các quy định của pháp luật thực định và hệ thống các cơ
quan tiến hành tố tụng đặc thù nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN.
Đối tượng nghiên cứu của luận án: 1) quyền và lợi ích hợp pháp của
Người chưa thành niên phạm tội; 2) Cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
NCTN phạm tội ở các giai đoạn TTHS: Điều tra, Truy tố và Xét xử sơ thẩm.
Phạm vi nghiên cứu của luận án được đặt trong Phạm vi về không gian là
hệ thống pháp luật quốc tế (các công ước, điều ước quốc tế) và hệ thống pháp luật
quốc gia (các quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề quyền con người, quyền
của NCTN, quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS; về vai trò, nhiệm
vụ bảo vệ quyền con người của pháp luật TTHS); Phạm vi về thời gian: từ thời
điểm có hiệu lực của BLTHS 2003 (ngày 1/7/2004) đến thời điểm hiện tại.
3. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của luận án, cụ thể: Phương pháp luận biện
chứng duy vật; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Nam về con người và quyền con người; Đặc biệt phương pháp nghiên cứu tiếp cận
đa ngành, liên ngành, đa ngành khoa học xã hội được vận dụng tối đa. Ngoài việc
tiếp cận vấn đề nghiên cứu quyền con người của người CTN trong TTHS dưới góc
độ luật học, vấn đề nghiên cứu còn được đặt trong mối liên hệ với các ngành khoa
học xã hội khác.
Tác giả chú trọng phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh luật học, các
phương pháp xã hội học pháp luật để đưa ra các quan điểm, các giải pháp về việc
hoàn thiện pháp luật TTHS, các biện pháp kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục…
nhằm bảo vệ tốt hơn nữa các quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS
Việt Nam.
2
Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ đề ra,
trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu dự kiến được áp dụng cụ
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, trong lĩnh vực nghiên cứu về Quyền con người và Bảo vệ
quyền con người, Bảo vệ quyền con người của NCTN, tác giả đánh giá một số văn
bản quốc tế và công trình nghiên cứu như sau:
Đối với văn bản quốc tế: Trước tiên, phải kể đến Bản Tuyên ngôn Nhân
quyền và Dân quyền (ngày 26/08/1789) được các nhà cách mạng Pháp công bố,
đánh dấu sự phát triển lên một bậc thang mới của quyền con người. Tuyên ngôn
thế giới về quyền con người (UDHR) - được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông
qua ngày 10/12/1948, tại Palaisde Chaillot, Paris, Pháp. Ngày 16/12/1966, Liên
Hợp Quốc thông qua hai Công ước quốc tế về quyền con người, là Công ước về
các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) và Công ước về các quyền dân sự,
chính trị (ICCPR).
Ngoài ra, Liên Hợp Quốc đã thông qua một loạt các văn bản như sau: Quy
tắc tiêu chuẩn tối thiếu của Liên Hợp Quốc về quản lý tư pháp đối với NCTN
(Quy tắc Bắc Kinh) 1985; Quy tắc của Liên Hợp Quốc về phòng ngừa NCTN bị
tước quyền tự do, 1990; Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về phòng ngừa phạm
pháp của NCTN (Hướng dẫn Riyadh), 1990; Tuyên bố về các nguyên tắc xã hội
và pháp lý liên quan đến việc bảo vệ và phúc lợi của trẻ em, đặc biệt là việc bảo
trợ và nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài, 1986; Hướng dẫn về hành động
đối với trẻ em trong Hệ thống luật hình sự, phụ lục của Nghị quyết số 1997/30 của
Hội đồng kinh tế và xã hội về việc quản lý tư pháp với NCTN (ICCPR, Đại Hội
đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 16/12/1966, có hiệu lực từ ngày 23/3/1976).
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: Cuốn sách: "American juvenle
Justice" (Tư pháp NCTN của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) là công trình của Franklin
E.Jimring được Oxford University xuất bản năm 2005; Cuốn "Juvenile Court: A
Judge's Guide for young adults and Their Parents" (Tòa án NCTN: Hướng dẫn
pháp lý cho NCTN và cha mẹ) do Leora Krygier công bố được The Scarecrow
phát hành năm 2009… đặc biệt là Cuốn: "Handbook for Professionals And
các phương pháp tiếp cận dựa trên quyền trẻ em, kinh nghiệm và sáng kiến từ các
nước châu Á, NXB Chính trị quốc gia năm 2006; Quyền trẻ em (Sách chuyên đề
nghiên cứu và giảng dạy và thực hiện quyền trẻ em), Trung tâm nghiên cứu quyền
con người năm 2000.
5
Nhóm nghiên cứu về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong
TTHS, bao gồm các công trình tiêu biểu sau: Phòng ngừa người chưa thành niên
phạm tội - PTS. Vũ Đức Khiển chủ biên, Nhà xuất bản pháp lý, Hà Nội, 1987;
Vấn đề trách nhiệm Hình sự của vị thành niên phạm tội theo luật Hình sự việt
Nam - Luận án PTS pháp lý - Đinh Xuân Nam, Kiev, 1994; Tư pháp với người
chưa thành niên và quyền trẻ em - Vũ Ngọc Bình, Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 1996; Bảo vệ quyền con người trong TTHS Việt Nam - Nguyễn
Quang Hiền, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước và pháp luật, 2009; Thủ tục
tố tụng đối với người chưa thành niên trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đỗ
Thị Phượng, Luận án Tiến sỹ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2008;
Qua nghiên cứu các công trình nêu trên, tác giả có thể đưa ra một số nhận
xét như sau: 1) Các công trình nghiên cứu về quyền con người sẽ là nền tảng để tác
giả tiếp cận sâu hơn quyền con người của nhóm “yếu thế” là NCTN và trong lĩnh
vực cụ thể là TTHS; 2) vẫn còn "khoảng trống" trong nghiên cứu với đối tượng
đặc biệt là NCTN; cụ thể là: chưa có nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, chuyên sâu, có
hệ thống cả về lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn TTHS các vấn đề liên
quan đến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN. Nói cách khác chỉ tiếp cận
vấn đề quyền của NCTN dưới góc độ thủ tục TTHS mà chưa có cách tiếp cận rộng
hơn dưới góc độ quyền con người.
1.2. MỘT SỐ NỘI DUNG CẦN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT TRONG LUẬN ÁN
Thứ nhất, nghiên cứu luận giải để đưa ra khái niệm và phân tích nội hàm
của khái niệm “quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS Việt Nam”.
Thứ hai, vấn đề Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong hệ
thống tư pháp hình sự (thế giới và Việt Nam) cần được so sánh, phân tích và luận
giải.
hình sự Việt Nam? Tổ chức các thiết chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
NCTN trong TTHS?
3. Các yêu cầu về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN ở Việt Nam
giai đoạn hiện nay, hướng đến năm 2020? Các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp
luật TTHS Việt Nam nhằm bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của
NCTN? Các giải pháp hoàn thiện các thiết chế bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích
hợp pháp của NCTN trong TTHS ở Việt Nam?
Cuối Chương 1, tác giả kết luận: Quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN
trong TTHS là vấn đề được các ngành khoa học trong đó có luật học và khoa học
tố tụng hình sự quan tâm nghiên cứu, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang xây
dựng nhà nước pháp quyền "của dân, do dân, vì dân". Chính vì vậy, việc tiếp cận
vấn đề nghiên cứu dưới góc độ quyền con người trong TTHS là một cách tiếp cận
7
mới, sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và đề ra các giải pháp đồng
bộ nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS.
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Ở Chương này, tác giả tập trung làm rõ một số vấn đề sau:
2.1. KHÁI NIỆM
Phần này, tác giả phân tích đặc điểm của người chưa thành niên, tư cách là
một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù, có những dấu hiệu đặc trưng về mặt thể chất,
tâm lý, nhân cách cũng như các đặc điểm về xã hội học, tác giả có thể khái quát
như sau: do sự phát triển chưa hoàn thiện về tâm, sinh lý của lứa tuổi này, NCTN
có những thái độ, nhận thức chưa hoàn chỉnh trong học tập, giao tiếp xã hội; từ
những đặc thù này, đòi hỏi xã hội phải công bằng khi đánh giá về họ, phải giành
cho họ những quyền được đối xử phù hợp với lứa tuổi của họ. Điều này cũng đồng
nghĩa với đòi hỏi chính đáng của nhóm đối tượng xã hội đặc thù này khi họ vi
phạm pháp luật hình sự, đó là, phải có thể chế đặc thù, các thiết chế đặc thù đối
với họ.
"quyền và lợi ích hợp pháp của Trẻ em".
Qua những phân tích khái quát về Hệ thống pháp luật Việt Nam, tác giả đưa
ra khái niệm "Quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN", theo đó:
Quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN là những quyền con người đặc thù
chỉ dành cho người chưa thành niên, là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất
và tâm thần, dễ bị tổn thương, mà Nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến
pháp và hệ thống pháp luật quốc gia; được Nhà Nước bảo đảm thực hiện và bảo
vệ khi bị xâm hại.
Sau khi đã xây dựng được khái niệm về "Quyền và lợi ích hợp pháp của
NCTN", tác giả tập trung làm rõ khái niệm "Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
NCTN theo pháp luật TTHS Việt Nam" tại tiểu mục 2.1.3.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu này, tác giả đã dẫn dắt từ việc khái quát
về cơ chế bảo vệ quyền con người, đó là, nói đến cơ chế là nói đến cơ cấu tổ chức,
quá trình vận hành của một hệ thống nào đó; thường đề cập đến hai nội dung: Thể
chế và Thiết chế; theo đó: Thể chế có thể được hiểu bao gồm hai khía cạnh khác
nhau: 1) là các quy định pháp luật, các quy tắc được ban hành theo thẩm quyền,
trình tự, thủ tục nhất định có tính ràng buộc đối với các chủ thể; 2) là thiết kế hệ
thống các cơ quan được lập ra để thực thi những chức năng, nhiệm vụ nhất định;
9
Thiết chế là sự vận hành các cơ quan, tổ chức đã được xây dựng, quy định để thực
hiện các nhiệm vụ đã được phân công.
Tiếp theo, tác giả phân tích, làm nổi lên về vai trò của pháp luật tố tụng
hình sự, là một phương tiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người nói
chung, của NCTN nói riêng, bởi vấn đề bảo vệ quyền con người trong tố tụng
hình sự có thể được coi là trục xoay của toàn bộ các hoạt động tố tụng hình sự.
Vai trò này được chứng minh trong các văn kiện Quốc tế về quyền con người
trong TTHS như Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948; Công ước quốc tế
về các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Những nguyên tắc cơ bản trong việc
đối xử với tù nhân; Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con
người năm 1985… Đây được coi là tiêu chuẩn về nhân quyền trong TTHS, theo
hình sự Việt Nam, bao gồm: BLHS, BLTTHS, một số văn bản quy phạm pháp
luật đơn ngành (như Nghị quyết Hội đồng thẩm phán TANDTC) và liên ngành
(như Thông tư liên tịch); thậm chí tuy không phải là văn bản quy phạm pháp
luật nhưng vẫn có giá trị hướng dẫn áp dụng pháp luật (như Tổng kết ngành
Tòa án hàng năm; Công văn hướng dẫn của TANDTC)…
Từ những nghiên cứu quốc tế và Việt Nam, tác giả đưa ra Khái niệm Bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS như sau:
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS là việc Nhà
Nước, bằng việc quy định thể chế và thiết chế đặc thù trong BLTTHS nhằm
chống lại mọi sự xâm hại đến NCTN, tuỳ theo lứa tuổi, mức độ trưởng thành và
nhu cầu cá nhân cần được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật, khi họ
tham gia tố tụng hình sự.
2.2. CÁC PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NCTN THEO PHÁP LUẬT TTHS VIỆT NAM
Ở phần này, tác giả căn cứ vào thực tiễn pháp luật TTHS Việt Nam để
làm rõ các phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, đó là:
Về thể chế TTHS, được thể hiện qua hai phương diện:
Một là, quy định trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự theo các giai
đoạn tố tụng; trong đó, thiết kế một chương riêng quy định về thủ tục hình sự
đối với những vụ án mà người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN.
Tuy nhiên, ngoài những quy định này ra thì những quy định chung khác của
BLTTHS cũng được áp dụng.
Hai là, quy định hoạt động (chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn) của các cơ
quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án), người tiến
11
hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và
Thư ký Toà án) và các cơ quan nhà nước khác và tổ chức góp phần vào việc
giải quyết vụ án hình sự.
Về thiết chế, là tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng,
đó là các quy định về Nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN
các phương thức bảo vệ, như: xây dựng các quy định đặc biệt trong chính sách
pháp luật; tổ chức các thiết chế đặc biệt và các thiết chế bảo đảm khác. Trước
những yêu cầu ngày càng cao của bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng như hiện
nay, Việt Nam cũng đã nỗ lực tiếp cận với Thế giới thông qua nội luật hóa các
quy định của Quốc tế và xây dựng các phương thức bảo vệ hiệu quả quyền và
lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS. Tuy nhiên, thực trạng pháp luật và
thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, cần được tiếp tục nghiên cứu
để đề xuất những giải pháp khả thi nhằm bảo vệ hiệu quả nhất quyền và lợi ích
hợp pháp cuả nhóm đối tượng đặc biệt này
Chương 3
THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chương này, tác giả nghiên cứu, đánh giá thực trạng của các phương thức
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN theo pháp luật TTHS Việt Nam,
đó là: 1) Quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS; 2) thực trạng tổ chức
và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng; 3) Thực trạng bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS từ phía gia đình, tổ chức. Tác giả đã sử
dụng phương pháp: kết hợp đối chiếu các quy định, khuyến nghị của quốc tế
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN (đã làm rõ tại Chương 2
Luận án) với việc phân tích với các quy định trong BLTTHS có liên quan đến
NCTN, nhằm chỉ ra những "lỗ hổng pháp lý" cùng những bất cập, khó khăn
trong thực tiễn áp dụng; đồng thời, lồng ghép việc đánh giá các nguyên nhân
của những bất cập, vướng mắc để làm căn cứ đề xuất các giải pháp ở Chương 4.
Cụ thể là:
3.1. CÁC QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
13
Trong phần này, tác giả tập trung đánh giá những vấn đề bất cập, vướng
hướng dẫn cụ thể; thậm chí, ban hành quy định gây khó khăn cho việc bảo vệ
14
quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN); 2) Từ phía Người tiến hành tố tụng (như
không bảo đảm quyền được bào chữa của NCTN; Không giải thích cụ thể
quyền và nghĩa vụ của NCTN trong các buổi làm việc với họ và gia đình;
Không chuẩn bị tốt cho các buổi làm việc cũng như có thái độ không phù hợp
khi làm việc với NCTN).
Thứ hai, năng lực cán bộ tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự
liên quan đến NCTN còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu; thể hiện: 1) trong quá
trình điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên chưa được trang bị kiến thức, kinh
nghiệm cần thiết để làm việc với NCTN; 2) trong quá trình xét xử, ngoài việc
chưa có đội ngũ Thẩm phán chuyên giải quyết các vụ án NCTN, có thể thông
qua việc phân tích hai hoạt động giải thích và Tuyên án của Thẩm phán tại
phiên Tòa để chứng minh cho nhận định này. Ngoài ra, trong hoạt động xét xử,
việc hạn chế năng lực của Hội thẩm nhân dân cũng là vấn đề cần quan tâm.
Cuối cùng, trong việc bảo đảm sự có mặt của gia đình bị cáo NCTN tại phiên
tòa xét xử, vẫn chưa được Hội đồng xét xử quan tâm đúng mức.
Thứ ba, việc quan tâm đầu tư cơ sở vật chất bảo đảm cho tổ chức hoạt
động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong giải quyết các vụ án liên quan đến
người chưa thành niên cũng chưa được quan tâm thỏa đáng, như: 1) Trong quá
trình điều tra, các cuộc lấy lời khai của NCTN thường diễn ra tại trụ sở CQĐT,
là những nơi trang nghiêm khiến NCTN căng thẳng, cảm giác không thoải mái,
gây hạn chế hiệu quả hoạt động điều tra hoặc chưa bảo đảm đầy đủ quyền của
NCTN; 2) Trong quá trình xét xử, hình thức tổ chức phiên tòa chưa phù hợp,
chưa bảo đảm yêu cầu về "bảo đảm sự riêng tư cho NCTN" theo khuyến nghị
của quốc tế. Thực tiễn xét xử NCTN vẫn tồn tại việc không áp dụng việc xét xử
kín hoặc một số nơi còn chọn một số vụ án NCTN để xét xử lưu động hoặc -
Các chi tiết của vụ án có liên quan tới NCTN có thể xuất hiện trên các phương
tiện truyền thông.
Những việc này có ảnh hưởng tiêu cực tới NCTN và gia đình họ và có thể
Trong mục này, tác giả đã phân tích, nhận định về xu hướng toàn cầu về
chính sách liên quan đến bảo vệ Trẻ em và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
trong vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTCN trong TTHS, cụ thể
là định hướng sửa đổi BLTTHS theo yêu cầu cải cách tư pháp.
16
Về Xu hướng toàn cầu: Nhận thức ngày càng thấu đáo hơn về sự phát triển
của trẻ em và người chưa thành niên; Hiểu biết ngày càng sâu sắc hơn về tác động
của tổn thương tâm lý đối với hành vi của trẻ em; Xu hướng chuyển từ những mô
hình tư pháp người chưa thành niên mang tính thuần nhất phúc lợi hoặc trừng phạt
sang mô hình tư pháp phục hồi; Mong muốn chuyển hướng càng nhiều càng tốt
các trường hợp có thể ra khỏi hệ thống tư pháp chính thức; Tăng cường khả năng
hỗ trợ của cộng đồng đối với trẻ em và gia đình các em; Xu hướng tập trung hỗ
trợ, củng cố gia đình ngày càng đạt được sự ủng hộ rộng rãi hơn.
Về định hướng sửa đổi BLTTHS, cần phải quán triệt 5 quan điểm cơ
bản: 1) phải quán triệt và thể chế hoá các Nghị quyết của Đảng về chiến lược
cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm trong tình hình mới; 2) việc sửa đổi Bộ luật phải tập trung giải quyết
những vấn đề bức xúc, phức tạp nhất của TTHS trên nền tảng của cải cách tư
pháp; 3) Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng theo hướng dân chủ, bình đẳng,
công khai, minh bạch, chặt chẽ, thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát
của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; 4) phải bảo đảm tốt hơn các quyền tự
do, dân chủ của công dân, quyền con người, quyền trẻ em… đã được quy định
trong Hiến pháp, các văn bản luật trong nước và các Công ước, Quy tắc quốc tế
mà Việt Nam đã gia nhập và phê chuẩn; 5) việc sửa đổi Bộ luật được tiến hành
trên cơ sở tổng kết những vướng mắc trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử; có
kế thừa truyền thống pháp lý và tham khảo kinh nghiệm pháp luật tố tụng tiên
tiến của các nước.
4.2. CÁC NHÓM GIẢI PHÁP NHẰM BẢO VỆ HIỆU QUẢ QUYỀN VÀ
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Để thể hiện rõ những quan điểm và tư tưởng“phải cân nhắc để đảm bảo
lợi ích tốt nhất của trẻ em”, tác giả kiến nghị bổ sung vào Phần thứ nhất- Những
quy định chung, Chương II- Những nguyên tắc cơ bản của BLTTHS năm 2003
một Điều luật mới trong đó quy định các nội dung mang tính nguyên tắc của
việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự liên quan người chưa thành niên, trên
cơ sở kế thừa quy định của TTLT số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-
BTP-BLĐTBXH của Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao
- Bộ Công an - Bộ Tư pháp - Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ngày
12/7/2011. Trên cơ sở nguyên tắc chung này, sẽ định hướng tiếp theo các định
chế cụ thể nhằm bảo vệ quyền của người chưa thành niên.
18
4.2.1.2. Sửa đổi các quy định về điều tra, truy tố, xét xử người chưa
thành niên
Để khắc phục những vướng mắc, bất cập nảy sinh trong nhận thức và áp
dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về thủ tục tố tụng đối
với người chưa thành niên phạm tội, đáp ứng yêu cầu bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự và đường lối,
chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội
phạm do người chưa thành niên thực hiện; tác giả đề xuất một số phương
hướng sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện các quy định về thủ tục điều tra, truy tố,
xét xử người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
như sau:
Một là, sửa đổi quy định tại Điều 301 BLTTHS về phạm vi áp dụng các
quy định trong Chương XXXIII về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành
niên; theo hướng bổ sung đối tượng người bị kết án, đồng thời mở rộng phạm vi
áp dụng thủ tục tố tụng đặc biệt với với các đối tượng đã đủ 18 tuổi (khi thực
hiện hành vi vi phạm pháp luật là NCTN) trong quá trình tiến hành tố tụng.
Hai là, sửa đổi, Bổ sung quy định về tiêu chuẩn cần có của Người tiến
hành tố tụng đối với các vụ án liên quan đến NCTN.
Ba là, bổ sung Điều luật mới về xác định độ tuổi NCTN.
người được giao nhiệm vụ tiến hành tố tụng trong các vụ án liên quan đến
NCTN; 2) chỉ phân công loại án này cho các Điều tra viên, Kiểm sát viên,
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là người có đủ các điều kiện quy định tại
Điều 302 BLTTHS hoặc là những người có những nghiên cứu về NCTN hoặc
đã qua công tác đoàn thể một thời gian nhất định; 3) áp dụng mô hình tổ chức
phiên tòa xét xử NCTN theo hướng thân thiện đối với họ theo tác giả đề xuất;
- Tăng cường đầu tư trang thiết bị, nguồn lực để thực hiện các kỹ thuật
thân thiện với NCTN: 1) tiếp tục đầu tư, xây dựng phòng lấy lời khai thân thiện
với NCTN, theo mô hình 8 Phòng lấy lời khai đã được thành lập và vận hành tại
6 tỉnh thành với sự hỗ trợ của UNICEF; 2) Thực hiện một chương trình thí điểm
xây dựng đơn vị cảnh sát chuyên trách tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
với các cán bộ cảnh sát, điều tra viên, kiểm sát viên chuyên trách được đào tạo
để làm việc với người chưa thành niên vi phạm pháp luật; 3) Xây dựng các
20
chính sách, chế độ đãi ngộ cụ thể đối với những người tiến hành tố tụng trong
các vụ án hình sự liên quan đến NCTN.
- Tăng cường công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn: 1) các cơ quan tiến
hành tố tụng cần đầu tư thời gian, kinh phí cho hoạt động tổng kết thực tiễn; 2)
sớm thành lập một trung tâm chuyên nghiên cứu về NCTNPT ở quy mô toàn
quốc và các tỉnh, thành.
Hai là, xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động hiệu quả giữa Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án và các cơ quan, tổ chức khác: 1) cần luật
hoá mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức có
liên quan; 2) thường xuyên giao ban, tiến hành họp liên ngành để tìm biện pháp
thúc đẩy tiến độ giải quyết án hình sự có NCTNPT với mục tiêu là bảo đảm tốt
nhất các quyền và lợi ích của trẻ em; 3) Các cơ quan tiến hành tố tụng phải tổ
chức các lớp tập huấn, hội nghị về kỹ năng điều tra và KSĐT các vụ án có
NCTNPT.
Ba là, nghiên cứu thành lập Tòa án chuyên trách NCTN.
Đây là thiết chế tư pháp đặc biệt, rất cần thiết phải nghiên cứu và thành
về đối tượng (người chưa thành niên), đặc thù về lĩnh vực quan hệ xã hội (tố tụng
hình sự) đòi hỏi cần có những cơ chế bảo vệ đặc biệt, trong đó có các quy định của
pháp luật TTHS thực định, thiết chế đặc biệt (cơ quan điều tra chuyên biệt, tòa án
chuyên trách NCTN…). Trong Luận án, tác giả đã tập trung nghiên cứu một số
vấn đề cụ thể như sau:
1. Luận giải và làm rõ khái niệm, đặc điểm về NCTN, từ đó đưa ra khái
niệm "Quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN" và "Bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của NCTN trong TTHS";
2. Nghiên cứu các văn kiện của Tư pháp hình sự quốc tế và tham khảo các
phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN tại một số quốc gia; qua
đó tác giả nhận thấy: ngoài việc xây dựng Đạo luật đặc thù trong tư pháp NCTN,
các Quốc gia này đã thực hiện đồng bộ các phương thức bảo vệ, từ xây dựng thể
chế đặc thù đến tổ chức các thiết chế đặc biệt và các thiết chế xã hội bảo đảm
khác; trong đó xu hướng nổi trội là tổ chức Mô hình Tòa án gia đình.
3. Đối chiếu các tiêu chí bảo đảm, bảo vệ trong tư pháp hình sự quốc tế với
các quy định BLTTHS 2003 về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN;
cũng như nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thi hành các quy định pháp luật và tổ
chức hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự
liên quan đến NCTN, tác giả đã nhận thấy:
Một là, nhìn chung, các quy định về mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc, mô
hình tố tụng trong pháp luật TTHS Việt Nam, về cơ bản đã đáp ứng được đòi hỏi
của thực tiễn giải quyết các vụ án có NCTN tham gia tố tụng.
23