Header Page 1 of 132.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản
thân, được xuất phát từ yêu cầu phát sinh trong công việc để hình
thành hướng nghiên cứu. Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng tuân
thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận án được thu
thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực chưa từng được ai
công bố trước đây.
Hà Nội, tháng 9 năm 2013
Tác giả
Trần Hưng Bình
Footer Page 1 of 132.
Header Page 2 of 132.
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt trong luận án
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
25
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
2.1. KHÁI NIỆM
27
27
2.1.1. Khái niệm, đặc điểm của người chưa thành niên
27
2.1.2. Khái niệm quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên
35
2.1.3. Khái niệm Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành
niên trong tố tụng hình sự Việt Nam
46
2.2. CÁC PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM
60
thế giới
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
68
71
Chương 3: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
73
3.1. CÁC QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
73
3.1.1. Trong việc thực hiện quy định những điều cần chứng minh trong
điều tra, truy tố, xét xử vụ án người chưa thành niên phạm tội (Điều
302 BLTTHS)
73
3.1.2. Trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên
79
3.1.3. Trong việc tham gia tố tụng của luật sư, người bào chữa
96
Header Page 4 of 132.
3.3. THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TỪ PHÍA GIA ĐÌNH - XÃ HỘI
99
3.3.1. Về phía gia đình
99
3.3.2. Về phía nhà trường, tổ chức
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
102
104
Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM BẢO VỆ CÓ HIỆU QUẢ QUYỀN
VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH
NIÊN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
106
4.1. XU HƯỚNG QUỐC TẾ VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
145
KẾT LUẬN
147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
152
PHỤ LỤC
Footer Page 4 of 132.
Header Page 5 of 132.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
BLHS
:
Bộ luật Hình sự
: Hội thẩm nhân dân
KSV
: Kiểm sát viên
NCTN
:
NCTNPT :
TAND
Người chưa thành niên
Người chưa thành niên phạm tội
: Tòa án nhân dân
TANDTC :
Tòa án nhân dân tối cao
TTHS
:
Tố tụng hình sự
TTLT
Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài
người, là một trong những giá trị tinh thần quý báu và cao cả nhất của nền văn
minh nhân loại trong thời đại hiện nay. Quyền con người bao gồm những
quyền không thể tước bỏ, do đó, bảo vệ quyền con người chính là những bảo
đảm pháp lý toàn cầu, có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại
những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến quyền con người. Ở Việt
Nam, bảo vệ quyền con người đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt
quan tâm, chú trọng. Điều này được thể hiện ở thành quả về xây dựng lý luận
về bảo vệ quyền con người cũng như thực tiễn bảo đảm quyền con người, như
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã chỉ rõ: “Con
người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển.
Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi
ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” [31, tr.76]; “Nhà
nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo
hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người” [31, tr.85]. Báo cáo chính trị của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) tại Đại hội lần thứ XI của Đảng
khẳng định: “Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích
chính đáng của mọi người dân” [31, tr.247]. Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 2011 - 2020 cũng nhấn mạnh: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố
con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự
phát triển”; “Phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và các điều kiện
để mọi người được phát triển toàn diện” [31, tr.100].
Đối tượng người chưa thành niên (nói chung) và trẻ em (nói riêng), bộ
phận chiếm tỷ lệ khá lớn, là những chủ thể đặc biệt (có những đặc điểm riêng về
tâm sinh lý và sự phát triển), do chưa biết cách tự bảo vệ mình khi đứng trước
những sự kiện pháp lý (là những tình huống, hiện tượng, quá trình xảy ra trong
Footer Page 6 of 132.
và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người
Footer Page 7 of 132.
Header Page 8 of 132.
3
vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin
của nhân dân với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp. Điều này đồng nghĩa
với việc quyền, lợi ích của con người (trong đó có thể có NCTN) chưa thực sự
được bảo vệ.
Chính vì vậy, tác giả chọn việc nghiên cứu đề tài Luận án "Bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam" với mong muốn có những đóng góp không chỉ cho việc
bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của NCTN mà còn thực hiện thắng
lợi công cuộc cải cách tư pháp, góp phần xây dựng thành công nhà nước pháp
quyền XHCN.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Mục đích tổng quan: Luận án giải quyết toàn diện, đầy đủ sâu sắc và có
hệ thống những vấn đề lý luận về quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong tố
tụng hình sự; thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt
động tố tụng hình sự liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người chưa thành niên và đề ra các giải pháp. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần
hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự; nâng cao nhận thức của các chủ
thể tiến hành tố tụng, cũng như toàn xã hội trong việc bảo vệ tốt hơn quyền và
lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS.
- Mục tiêu cụ thể:
Hướng tới việc hoàn thiện hệ thống tư pháp trong việc bảo vệ các quyền
Căn cứ trên mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên, đối tượng mà đề tài Luận án tập
trung nghiên cứu là những vấn đề sau:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam trong lĩnh
vực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người chưa thành niên;
Nếu căn cứ quy định của pháp luật Việt Nam, khái niệm “người chưa
thành niên” hoàn toàn khác với “trẻ em”. Mặc dù còn nhiều quan điểm khác
nhau, nhưng trong Luận án, tác giả nghiên cứu về “người chưa thành niên” là
người dưới 18 tuổi, do độ tuổi này phù hợp với quy định chung về “trẻ em” theo
pháp luật quốc tế (Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng
Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989), đồng thời, độ tuổi này cũng được
yêu cầu bảo vệ khá phổ biến trong các văn kiện pháp luật quốc tế. Do đó, khi
nghiên cứu các quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chuẩn mực
Footer Page 9 of 132.
Header Page 10 of 132.
5
quốc tế, thuật ngữ “trẻ em” nhằm chỉ nhóm đối tượng tất cả những người dưới
18 tuổi, hoàn toàn phù hợp với đối tượng NCTN mà tác giả nghiên cứu trong
luận án.
Khi xem xét đánh giá đối với hệ thống pháp luật TTHS Việt Nam, mặc dù
tên Đề tài chỉ phạm vi “theo pháp luật TTHS Việt Nam” nhưng do pháp luật
TTHS là luật hình thức, việc nghiên cứu không thể toàn diện nếu không gắn với
việc nghiên cứu các quy định của luật nội dung - pháp luật Hình sự. Do đó, trong
Luận án, tác giả sẽ nghiên cứu các quy định của cả hai Bộ luật này để làm rõ các
quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN.
Thứ hai, nghiên cứu về cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
chưa thành niên phạm tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
cần phải tách ra thành một hệ thống pháp luật, ngành khoa học nghiên cứu riêng
và do giai đoạn Thi hành án đã được điều chỉnh chi tiết bằng Luật Thi hành án
hình sự, nên trong Luận án, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về quyền và lợi ích
hợp pháp của NCTN phạm tội trong ba giai đoạn: Điều tra, Truy tố và Xét xử
sơ thẩm.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian:
+ Quốc tế: Đặc điểm của quyền con người là có tính phổ biến (cái chung),
tuy nhiên quyền của NCTN lại có tính đặc thù (cái riêng). Do đó, phạm vi
nghiên cứu trước hết là quyền của NCTN nói chung trong các lĩnh vực của đời
sống xã hội trên phạm vi quốc tế, được ghi nhận trong hệ thống pháp luật quốc tế
như các công ước, điều ước quốc tế. Trong phạm vi này, tác giả sẽ phân tích nội
dung, tính chất, đặc điểm các quyền của NCTN trong Tư pháp hình sự quốc tế;
những biện pháp, cơ chế bảo vệ các quyền này. Những nghiên cứu này sẽ làm cơ
sở để so sánh, đánh giá pháp luật, thực tiễn Việt Nam trong việc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS.
+ Việt Nam: tác giả nghiên cứu về quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN
trong phạm vi các quy định của Việt Nam, bao gồm: các quan điểm của Đảng,
Nhà nước về vấn đề quyền con người, quyền của NCTN, quyền và lợi ích hợp
pháp của NCTN trong TTHS; về vai trò, nhiệm vụ bảo vệ quyền con người
(trong đó có quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN) của pháp luật TTHS trong
nhà nước pháp quyền…; những quy định của PLHS và TTHS về vấn đề bảo vệ
Footer Page 11 of 132.
Header Page 12 of 132.
7
quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, cũng như các vướng mắc, tồn tại trong
Header Page 13 of 132.
8
những vấn đề lý luận và thực tiễn cần thiết, Luận án sẽ đưa ra những giải pháp,
kiến nghị có giá trị thực tiễn cao nhằm hoàn thiện thể chế, thiết chế (các cơ quan
tiến hành tố tụng) cũng như các thiết chế gia đình - xã hội, bao gồm:
Thứ nhất, nghiên cứu, đề xuất một số khái niệm về " Quyền và lợi ích hợp
pháp của NCTN theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam" và "Bảo vệ Quyền và
lợi ích hợp pháp của NCTN theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam";
Thứ hai, đánh giá đầy đủ, hoàn chỉnh qua đó làm rõ những bất cập, thiếu
sót, vướng mắc đối với các quy định của BLTTHS 2003 trong việc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của NCTN cũng như thực tiễn áp dụng;
Thứ ba, nghiên cứu, đề xuất việc xây dựng bổ sung những quy định thể
chế; thiết chế TTHS; gia đình - xã hội đặc thù cho NCTN nhằm tăng cường hiệu
quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN vi phạm pháp luật.
5. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người chưa thành niên trong tố tụng hình sự
Chương 3: Thực trạng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa
thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 4: Các giải pháp nhằm bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp
pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Footer Page 13 of 132.
NCTN bị tước quyền tự do, 1990; Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về phòng
ngừa phạm pháp của NCTN (Hướng dẫn Riyadh), 1990; Tuyên bố về các
Footer Page 14 of 132.
Header Page 15 of 132.
10
nguyên tắc xã hội và pháp lý liên quan đến việc bảo vệ và phúc lợi của trẻ em,
đặc biệt là việc bảo trợ và nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài, 1986;
Hướng dẫn về hành động đối với trẻ em trong Hệ thống luật hình sự, phụ lục của
Nghị quyết số 1997/30 của Hội đồng kinh tế và xã hội về việc quản lý tư pháp
với NCTN (ICCPR, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 16/12/1966,
có hiệu lực từ ngày 23/3/1976).
Lĩnh vực bảo vệ quyền của NCTN nói chung và bảo vệ quyền của NCTN
liên quan tới tư pháp hình sự nói riêng đã có một số công trình nghiên cứu tiêu
biểu sau:
- Cuốn sách: "American juvenle Justice" (Tư pháp NCTN của Hợp chủng
Commented [L1]: Lý luận, lịch sử tư pháp NCTN ở Hợp
Chúng Quốc Hoa Kỳ
quốc Hoa Kỳ) là công trình của Franklin E.Jimring được Oxford University xuất
bản năm 2005. Tác giả đã đề cập đến các giai đoạn phát triển của tư pháp
NCTN, đặc biệt là sự hình thành và phát triển của tòa án NCTN ở Hợp chủng
quốc Hoa Kỳ qua các giai đoạn lịch sử. Với 4 phần chính, bao gồm: Trẻ em
phạm tội: Thực trạng và quan điểm pháp luật, thành lập tư pháp NCTN Hợp
chủng quốc Hoa kỳ, bảo vệ NCTN phạm tội và các vấn đề chính sách trong tư
pháp NCTN hiện đại. Với 193 trang viết, tác giả đã xuyên suốt quá trình hình
- Cuốn: "Juvenile Court: A Judge's Guide for young adults and Their
Parents" (Tòa án NCTN: Hướng dẫn pháp lý cho NCTN và cha mẹ do Leora
Krygier công bố được The Scarecrow phát hành năm 2009. Công trình đã giới
thiệu một cách có hệ thống về khái niệm NCTN, mục đích của việc thành lập
tòa án NCTN, cơ cấu tổ chức hệ thống tòa án NCTN. Sự cần thiết phải thành
lập tòa án NCTN độc lập với tòa án thành niên. Phần 2 của cuốn sách, tác giả
đã giới thiệu những kỹ năng cần thiết khi nhận được Giấy triệu tập của Tòa án
đối với NCTN và cha mẹ của họ; những kiến thức cần biết về các nhân viên
thực thi pháp luật; những kỹ năng cần thiết khi làm việc với những nhân viên
thực thi pháp luật, chẳng hạn như cảnh sát đang thi hành công vụ ở các tình
huống khác nhau. Đồng thời tác giả cũng giới thiệu các quyền của NCTN khi
bị tạm giữ hoặc bị tham gia quá trình tố tụng hình sự. Mặt khác, cuốn sách tập
trung làm rõ tiến trình tố tụng của tòa án NCTN, những kỹ năng cần thiết cho
NCTN khi tham gia tố tụng hình sự để có thể bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích
chính đáng của họ. Với kinh nghiệm của một thẩm phán đã 15 năm làm việc tại
Tòa án NCTN, tác giả đã khá thành công trong việc hướng dẫn các kiến thức
pháp lý và kỹ năng cần thiết cho những NCTN và cha mẹ của NCTN khi gặp
những vấn đề với pháp luật để NCTN và cha mẹ của họ có những kiến thức và
kỹ năng cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của NCTN và đồng
Footer Page 16 of 132.
Commented [L3]: Hướng dẫn
Header Page 17 of 132.
12
thời giúp cho NCTN tránh được nguy cơ gặp những vấn đề với pháp luật trong
tương lai.
KHXH, Hà Nội, 2010 (3 tập, 1010 tr), “Quyền con người” (Giáo trình giảng dạy
Footer Page 20 of 132.
Header Page 21 of 132.
16
sau đại học) - GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb KHXH 2011 (487 tr), Sách
chuyên khảo: “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ Quyền con người” -GS.TS. Võ Khánh
Vinh chủ biên, Nxb KHXH 2011 (431 tr), Giáo trình “Lý luận và pháp luật về
Quyền con người”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009, Nxb CTQG
(670 tr); Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự và tố tụng hình sự ở Việt
Nam, Trần Quang Tiệp, NXB Chính trị Quốc gia 2004; Đảm bảo quyền bào
chữa của người bị buộc tội, Phạm Hồng Hải, NXB CAND năm 2004; Quyền
con người trong quản lý tư pháp - Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền
con người và hội luật sư quốc tế - Nxb CAND, 2009.
Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này đã tiếp cận vấn đề quyền con
người đa ngành, đa lĩnh vực và nghiên cứu các vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản
về quyền con người; chỉ ra được nội dung của các quyền con người nói chung,
quyền con người trong các lĩnh vực cụ thể, trong đó khẳng định quyền con người
là giá trị đã được nhân loại thừa nhận chung; đề cập đến các tính chất của quyền
con người như tính bất khả tước đoạt, bất khả phân chia, tính phổ biến, tính đặc
thù của quyền con người; nghiên cứu pháp luật quốc tế về quyền con người
trong đó so sánh pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về vấn đề quyền con
người, khả năng tiếp thu và nội luật hóa pháp luật quốc tế vào pháp luật quốc
gia... Tuy nhiên, trong các công trình trên, quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN
chưa được thể hiện rõ, mới chỉ dừng lại ở mức đặt vấn đề hoặc trích dẫn giới
thiệu với tư cách là một bộ phận của quyền con người nói chung.
Nhóm nghiên cứu về quyền của trẻ em, trong đó có Quyền và lợi ích
Trong các nghiên cứu này, vấn đề quyền của NCTN trong TTHS vẫn
chưa được đề cập trực tiếp. Tuy nhiên, những nghiên cứu trên đây là cơ sở đáng
tin cậy để tiếp tục nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
NCTN trong TTHS - đây được coi là một phương thức bảo vệ riêng.
Nhóm nghiên cứu về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN
trong TTHS
Quyền con người (nói chung) và quyền của NCTN trong TTHS được
quan tâm nghiên cứu không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới. Bởi lẽ trong lĩnh
vực TTHS, quyền con người dễ bị xâm phạm, điều đó có thể dẫn đến hậu quả
nặng nề và sẽ nghiêm trọng hơn nếu người bị xâm phạm là NCTN (do chưa đầy
đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi). Các công trình nghiên cứu về quyền
con người trong TTHS bao gồm các công trình tiêu biểu sau: Phòng ngừa vi
phạm pháp luật trong thanh thiếu niên - N.I.Vetrốp, Nhà xuất bản pháp lý, Hà
Footer Page 22 of 132.
Header Page 23 of 132.
18
Nội, 1986; Phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội - PTS. Vũ Đức Khiển
chủ biên, Nhà xuất bản pháp lý, Hà Nội, 1987; Vấn đề trách nhiệm Hình sự của
vị thành niên phạm tội theo luật Hình sự việt Nam - Luận án PTS pháp lý - Đinh
Xuân Nam, Kiev, 1994; Tư pháp với người chưa thành niên và quyền trẻ em Vũ Ngọc Bình, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; Phòng ngừa và
đấu tranh với tội phạm của người chưa thành niên trong điều kiện ngày nay ở
Việt Nam - Luận án PTS Luật - Nguyễn Xuân Thủy, Hà Nội, 1997; Tư pháp về
người chưa thành niên, Juvenile Justics 2000; Phòng, chống buôn bán và mại
dâm trẻ em, Vũ Ngọc Bình, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2002;
Hoàn thiện pháp luật về quyền trẻ em Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ luật
học, Đỗ Thị Thơm, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003; Tội phạm
chỉ xem xét dưới góc độ quyền tố tụng (trong khi, quyền tố tụng và thực hiện
quyền tố tụng chỉ là phương tiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
NCTN trong TTHS);
Hai là, cho đến nay, xu hướng của các nhà nghiên cứu về vấn đề quyền
con người trong tư pháp hình sự đều coi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và
người bị kết án là trọng tâm của vấn đề quyền con người trong tố tụng hình sự.
Người bị buộc tội là những chủ thể “yếu thế” khi đối trọng với các cơ quan tư
pháp, các quyền của họ “có nguy cơ bị xâm phạm cao nhất” [41, tr.59] nên họ là
“ưu tiên số 1” trong việc áp dụng các biện pháp nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền
con người bằng pháp luật hình sự, TTHS.
1.1.3. Đánh giá
Qua nghiên cứu các công trình nêu trên, chúng tôi có thể đưa ra một số
nhận xét như sau:
Thứ nhất, vấn đề quyền con người là vấn đề cơ bản, mang tính thời sự có
ý nghĩa quan trọng về tư tưởng, lý luận và thực tiễn. Nó đã và đang được quan
tâm nghiên cứu không chỉ dừng lại ở phạm vi chuyên môn hẹp của ngành khoa
học nào đó mà đang trở thành đối tượng nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực của
khoa học xã hội, trong đó có khoa học pháp lý, cũng đi theo hướng nghiên cứu
này. Các công trình nghiên cứu về quyền con người sẽ là nền tảng để tác giả tiếp
cận sâu hơn quyền con người của nhóm “yếu thế” là NCTN và trong lĩnh vực cụ
thể là TTHS.
Thứ hai, quyền con người trong khoa học pháp lý có thể tiếp cận
theo lĩnh vực pháp luật hoặc theo đối tượng cụ thể (như phụ nữ, trẻ em,
người bị buộc tội...) hoặc kết hợp cả hai xu hướng này, vấn đề "quyền và
Footer Page 24 of 132.
Header Page 25 of 132.