VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG ANH VŨ
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN CƯỚP TÀI SẢN THEO
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG BÌNH
Chuyên ngành : Luật Hình sự
Mã số
: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. HOÀNG THỊ MINH SƠN
HÀ NỘI, năm 2017
LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành chương trình thạc sĩ và luận văn này, đầu tiên, tôi xin gửi lời
cảm ơn đến các thầy cô Học viện khoa học xã hội đã tạo mọi điều kiện tốt nhất
và hỗ trợ cho tôi trong suốt thời gian tham gia học tập và thực hiên luận văn.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS. Hoàng Thị Minh Sơn
trong thời gian qua đã nhiệt tình, dành nhiều thời gian tâm huyết để trực tiếp hướng
dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Kết luận chương 2 ............................................................................................... 65
Chương 3. GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ
ÁN CƯỚP TÀI SẢN Ở TỈNH QUẢNG BÌNH ................................................ 67
3.1. Tăng cường triển khai các biện pháp thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 về kiểm sát điều tra các vụ án cướp tài sản ở tỉnh Quảng Bình và tiếp tục
hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát điều tra các vụ án
cướp tài sản.......................................................................................................... 67
3.2. Các giải pháp khác ....................................................................................... 69
Kết luận chương 3 ............................................................................................... 78
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Số vụ, số người phạm tội cướp tài sản đã khởi tố và tổng số vụ, tổng
số bị can phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Quảng Bình từ năm 2013 - 2017
............................................................................................................................. 55
Bảng 2.2. Số vụ án và bị can bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội phạm cướp tài sản
............................................................................................................................. 56
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết đề tài
Trong những năm gần đây, mặc dù Đảng và nhà nước đã triển khai đồng
loạt các biện pháp khác nhau để ngăn chặn tệ nạn xã hội trong đó có hành vi
cướp tài sản; tuy nhiên, thực tế bên cạnh những thành tựu đạt được vấn nạn nguy
hiểm này hiện vẫn đang đặt ra nhiều thách thức trên toàn Việt Nam nói chung
cũng như địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng. Tội phạm cướp tài sản không chỉ
tăng nhanh về số lượng mà còn đẩy ngày càng cao mức độ liều lĩnh cũng như
điều tra được tuân thủ theo quy định của pháp luật; đồng thời thông qua hoạt
động này, VKSND tỉnh Quảng Bình đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác
phòng ngừa loại tội phạm cướp tài sản ở địa phương. Bên cạnh những kết quả
đạt được, hoạt động của VKSND trong giai đoạn kiểm sát điều tra các vụ án hình
sự nói chung, các vụ án cướp tài sản nói riêng còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót
như: Chưa thực hiện tốt hoạt động kiểm sát điều tra từ đầu, kiểm sát việc lập hồ
sơ vụ án còn chưa thật chủ động, chưa đầy đủ, toàn diện, việc phát hiện những vi
phạm trong hoạt động điều tra của CQĐT chưa được thường xuyên, kiên quyết,
còn hiện tượng nể nang. Do vậy, đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của công
tác điều tra.
Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát điều tra và xử lý các
loại tội phạm hình sự nói chung, tội phạm cướp tài sản nói riêng. Đồng thời, góp
phần tổng kết kinh nghiệm thực tiễn hoạt động KSĐT tội phạm này trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình, làm nền tảng để xây dựng cơ sở lý luận cho việc nhận thức và
nâng cao chất lượng công tác KSĐT các vụ án hình sự, tác giả đã chọn đề tài
nghiên cứu: “Kiểm sát điều tra vụ án cướp tài sản theo pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình” làm luận văn Thạc sĩ Luật học là rất cần
thiết, nhằm đáp ứng cả về phương diện lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Đối với vấn đề liên quan đến tội cướp tài sản và hoạt động kiểm sát điều tra
2
của Viện kiểm sát nhân dân hiện nay có khá nhiều đề tài nghiên cứu đề cập đến.
Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về loại tội phạm này dưới
những phạm vi và góc độ khác nhau như:
- Đoàn Tạ Cửu Long (2015), Hoạt động của Viện kiểm sát trong điều tra
vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, Luận án tiến sĩ, Thành phố Hồ Chí
Minh. Luận án đã làm rõ một số vấn đề lý luận về hoạt động của Viện kiểm sát
phố Hồ Chí Minh [31].
- Lương Hải Yến, “Một số vấn đề hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra
vụ án hình sự”, trang thông tin điện tử của Trường Đại học Kiểm sát. Bài viết chỉ
rõ, yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên sẽ định hướng để Điều tra viên lựa chọn,
áp dụng các biện pháp điều tra phù hợp thu thập, củng cố chứng cứ làm sáng tỏ
sự thật vụ án không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội, bảo vệ được quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, một số Kiểm sát viên chưa xác
định được hết ý nghĩa của hoạt động này, thực hiện chưa thật sự sát sao, thiếu
khoa học; kiến thức pháp luật, khả năng, tư duy đánh giá chứng cứ còn hạn chế,
nên yêu cầu điều tra tràn lan, không xác định được những vấn đề mấu chốt của
vụ án. Bên cạnh đó, một số Điều tra viên lại chưa có kinh nghiệm thực tiễn và
kiến thức điều tra chuyên sâu, dẫn đến tình trạng nhiều vụ án hết thời hạn điều
tra vẫn không thu thập được đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị
can hoặc khi kết thúc điều tra mới phát hiện hồ sơ còn thiếu chứng cứ, thủ tục tố
tụng chưa đầy đủ ...Đây là một trong những nguyên nhân tình trạng án trả điều
tra bổ sung còn xảy ra nhiều [63].
Lê Hữu Thể (chủ biên), Đỗ Văn Đương, Nông Xuân Trường (2008), Quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Sách chuyên khảo, NXB Tư pháp, Hà
Nội. Nội dung cuốn sách chỉ đề cập đến những vấn đề lý luận chung về thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; mối quan hệ giữa hai chức
năng ngày trong tố tụng hình sự cũng như quyền công tố trong pháp luật của một
số nước trên thế giới mà không nghiên cứu thực tiễn hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự [28].
4
Ngoài ra còn có các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí như:: "Nâng cao
chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đẩy
mạnh cải cách tư pháp" của tác giả Hà Mạnh Trí, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
tầm vĩ mô về nhân lực và đào tạo cũng như sự phát triển của nghành kiểm sát
trong tương lai.
Tuyên truyền rộng rãi các số lượng, vị trí, địa điểm của các Viện kiểm sát
tuyển dụng. Phổ biến chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát cho mọi người
hiểu rõ để họ có thể định hướng được công việc sẽ làm sau này nếu trúng tuyển;
công khai hình thức thi tuyển công chức kiểm sát.
Các chế độ, chính sách đối với cán bộ, Kiểm sát viên đang công tác trong
ngành phải đảm bảo, những quyền lợi, ưu đãi của những cán bộ, Kiểm sát viên
đã, đang và sẽ công tác trong ngành Kiểm sát.
Thu hút được lực lượng bổ sung cho Viện kiểm sát, đó là mới bổ sung về
“lượng”, Viện kiểm sát cũng cần phải bổ sung về “chất” cho Kiểm sát viên. Pháp
lệnh Kiểm sát viên đã được sửa đổi, bổ sung vào ngày 19/02/2011 và có hiệu lực
từ 01/7/2011 đã quy định về điều kiện, tiêu chuẩn để bổ nhiệm Kiểm sát viên.
Nghị quyết số 08-NQ/TW đã nêu rõ việc đổi mới công tác tổ chức và cán bộ là
một trong những biện pháp đặc biệt quan trọng để Viện kiểm sát có thể làm tốt
74
chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Viện trưởng phải là người nắm và hiểu rõ năng lực của từng Kiểm sát viên
trong đơn vị, qua đó để phân công những người có kinh nghiệm, sở trường trong
việc kiểm sát điều tra đối với từng vụ án theo khả năng của họ, có như vậy chất
lượng công tác mới ngày càng được nâng cao.
Quán triệt đến từng Kiểm sát viên chủ trương, đường lối, chính sách của
đảng để họ nắm vững quan điểm, có lập trường chính trị, tư tưởng vững vàng để
thực hiện đúng đường lối, chính sách đổi mới của Đảng, pháp luật của Nhà nước
trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình.
Viện kiểm sát cấp trên cần phải chú trọng việc giáo dục nâng cao ý thức
trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ về chính trị, chuyên môn,
mạng Internet rất cần thiết đối với Kiểm sát viên trong việc tra cứu các thông tin
liên quan đến vụ án như văn bản pháp luật, đường lối chính sách của Nhà nước...
hiện nay số lượng máy vi tính cấp về địa phương cơ bản đã đáp ứng được nhu
cầu công việc, nhưng internet còn hạn chế, chỉ mới kết nối đến phòng lãnh đạo
và các trưởng phòng ở cấp tỉnh.
- Thứ bảy, tăng cường hợp tác quốc tế trong điều tra và đấu tranh phòng
chống tội phạm
Với một xã hội đang phát triển như nước ta hiện nay, tỉnh Quảng Bình cũng
không ngoại lệ, sự hợp tác trong vấn đề giải quyết vụ án hình sự đặt ra là một tất
yếu khách quan, sự hợp tác đó không nằm trong phạm vi giữa các huyện, các
tỉnh mà còn hợp tác với quốc tế, đây là một tính tất yếu khách quan trong quá
trình đấu tranh phòng, chống tội phạm. Cảnh sát Việt Nam đã tham gia
INTERPOL và ASEANAPOL. Năm 1997, Việt Nam đã trở thành thành viên các
Công ước Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy. Năm 2000, Việt Nam đã ký công
ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
Tháng 6 năm 2009, Việt Nam đã phê chuẩn công ước của Liên hợp quốc về
chống tham nhũng.
Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 xác định Viện kiểm sát nhân dân tối cao
là cơ quan đầu mối trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự, có trách nhiệm
76
tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các ủy thác tư pháp về
hình sự; xem xét, quyết định việc thực hiện; từ chối hoặc hoãn thực hiện ủy thác
tư pháp về hình sự với các nước. Viện kiểm sát có trách nhiệm đề xuất với Nhà
nước Việt Nam việc ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế về tương
trợ tư pháp; kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
tương trợ tư pháp.
Tỉnh Quảng Bình có một cửa khẩu Quốc tế Cha Lo và cửa khẩu Cà ròong,
công tác hợp tác quốc tế để nắm bắt được đầy đủ ý nghĩa của những quy định,
hiểu rõ hơn nữa những nội dung đàm phán. Giữa các huyện, tỉnh cũng cần phải có
những thỏa thuận phối hợp trong việc điều tra, truy tố, xét xử nhằm phát hiện,
ngăn chặn các hành vi phạm tội, hỗ trợ lẫn nhau trong công tác nghiệp vụ góp
phần vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Kết luận chương 3
1. Từ những hạn chế, vương mắc và thiếu sót trong khâu kiểm sát điều tra
các vụ án cướp tài sản chúng ta có một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra các vụ án cướp tài sản;
2. Trong giai đoạn quá độ khi mà Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã có
hiệu lực pháp luật và chuẩn bị được đưa ra thi hành, luận văn tập trung trước hết
vào giải pháp triển khai thực hiện tốt quy định của BLTTHS năm 2015 về kiểm
sát điều tra vụ án hình sự;
3. Trong đó có những giải pháp đề xuất đối với các cơ quan cấp trung
ương xem xét quyết định, có những giải pháp đề xuất với cơ quan cấp tỉnh quyết
định. Có một số giải pháp mang tính chất đáp ứng trước mắt, tạm thời (như đáp
ứng cơ sở vật chất về phương tiện...) vì hiện nay Viện kiểm sát nhân dân đang
chuẩn bị từng bước kiện toàn theo hướng cải cách tư pháp trên cơ sở định hướng
của Nghị quyết 49-NQ/TW, và Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ chính trị, có một
số giải pháp mang tính chất lâu dài xuyên suốt như các giải pháp nghiệp vụ...
78
KẾT LUẬN
1. Kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng cơ bản, quan trọng
của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự. Trên cơ sở nghiên cứu các quan
điểm khác nhau về kiểm sát hoạt động tư pháp, luận văn đã xây dựng khái niệm khoa
học “Kiểm sát điều tra các vụ án các vụ án cướp tài sản” làm cơ sở cho việc nghiên
cứu các nội dung tiếp theo. Theo đó, kiểm sát điều tra các vụ án các vụ án cướp tài
2. Bộ chính trị, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020.
3. Bộ y tế - Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12.6.2014 quy định “tỉ lệ
tổn thương cơ thể sử dụng trong quy định pháp y, giám định pháp y tâm thần”.
4. Bùi Mạnh Cường (2007), Áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố các
vụ án ma túy theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ,
Hà Nội.
5 Nguyễn Chí Cường - “Một số đề xuất, kiến nghị thực tiễn thi hành Điều
104 Bộ luật hình sự” - Tạp chí kiểm sát số 05 (tháng 3/2011).
6. Nguyễn Đăng Dung, (2008), Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện của
nhà nước pháp quyền, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10, Hà Nội.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X.
8. Đại học Huế (2006), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB
Công an nhân dân.
9. Ngô Văn Đọn chủ biên (2004), “Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt
động tư pháp và thực hành quyền công tố với vấn đề thông khâu và chuyên khâu
trong công tác kiểm sát hình sự”, đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Hà Nội.
10. Ngô Văn Đọn chủ biên (2004), “Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt
động tư pháp và thực hành quyền công tố với vấn đề thông khâu và chuyên khâu
trong công tác kiểm sát hình sự”, đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Hà Nội.
11. Trần Văn Độ (1999), Một số vấn đề về quyền công tố, Kỷ yếu đề tài:
Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt
Nam từ năm 1945 đến nay của VKSNDTC.
12. Đỗ Văn Đương (2004), “Những biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003”, thông tin khoa học pháp lý.
13. Học Viện Tư pháp (2006), Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
14. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao - Nghị quyết số
năm 2003, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
26. Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (2013), Luật tổ chức
VKSND năm 2014.
27. Lê Hữu Thể (2008), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp trong giai đoạn điều tra, NXB Tư pháp, Hà Nội.
28. Lê Hữu Thể (chủ biên), Đỗ Văn Đương, Nông Xuân Trường, (2008),
''Quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp'', Hà Nội.
29. Lê Hữu Thể, Đỗ văn Đương, Nguyễn Thị Thủy (Đồng chủ bên),
(2013), những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mới thủ tục tố
tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Nhà xuất bản Chính Trị Quốc
gia, Hà Nội.
30. Phạm Thị Thùy- “Đôi điều rút ra qua công tác kiểm sát điều tra các
vụ án cố ý gây thương tích của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương”- Tạp
chí kiểm sát số 19 (tháng 10/2011).
31. Nguyễn Anh Thương (2017), Kiểm sát điều tra tội giết người theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn
Thạc sĩ.
32. Hà Mạnh Trí (2003), Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đẩy mạnh cải cách tư pháp", Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, số 1, Hà Nội.
33. Nguyễn Đình Trung - “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố
và kiểm sát hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố”- Tạp chí kiểm sát số 07 (phát hành ngày 05/4/2012).
34. Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1996), Giáo trình công tác kiểm
sát, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
35. Trường Đại học luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật Tố tụng hình sự
Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
36. Trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình luật
48. Viện kiểm sát nhân dân tỉnhQuảng Bình (2015), Báo cáo kết quả công
tác kiểm sát năm 2015, Quảng Bình.
49. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình (2016), Báo cáo kết quả
công tác kiểm sát năm 2016, Quảng Bình.
50. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình (2017), Báo cáo kết quả
công tác kiểm sát sáu tháng đầu năm 2017, Quảng Bình.
51. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình (2011), Báo cáo 5 năm thực
hiện BLTTHS năm 2003.
52. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình (2015), Cáo trạng số 83/VKS
-P1 ngày 28.3.2015.
53. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, Cáo trạng
số 23/THQCT-KSĐT ngày 18/7/2013.
54. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, Cáo
trạng số 64/THQCT-KSĐT-KT ngày 28/6/2014.
55. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, Cáo trạng
số 14/THQCT - KSĐT - KT ngày 15/4/2014.
56. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, Cáo trạng số 278/THQCT KSĐT - P2 ngày 13/12/2014.
57. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2015), “Tờ trình về Dự thảo
BLTTHS” (sửa đổi) ngày 23/3/2015, Hà Nội.
58. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2008), Quy chế công tác thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án
hình sự, ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSNDTC ngày
02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng quy định
nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm
sát điều tra vụ án hình sự.
59. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý (2001), Bình luận khoa học Bộ luật
tố tụng hình sự, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
60. Võ Khánh Vinh (chủ biên) - “Bình luận khoa học Bộ luật TTHS”- Nhà