VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TRUNG HIẾU
KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC
TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TRUNG HIẾU
KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC
TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành
: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
phạm ................................................................................................................ 27
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN
BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI ................................................................................... 40
2.1. Khái quát về các yếu tố tác động đến công tác kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm. ................................................................................. 40
2.2. Thực tiễn thi hành công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ....................................... 44
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM
SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM CỦA
VIỆN KIỂM SÁT TỈNH QUẢNG NGÃI ................................................... 63
3.1. Dự báo các yếu tố tác động đến hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới .... 63
3.2. Các giải pháp tăng cường công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố
giác về tội phạm tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ...................... 65
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT
dân năm 2014, có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, bảo vệ
công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm
tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm
minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội,
không để lọt tội phạm và người phạm tội; không để người nào bị khởi tố, bị
bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật.
Với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân
kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động tố tụng hình sự nói
riêng, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về
tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm
sát có vị trí, vai trò và ý nghĩa tiên quyết để bảo đảm mọi hành vi phạm tội,
người phạm tội đều được phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp luật. Thực
tiễn thực hành quyền công tố cho thấy, kiểm sát tốt việc giải quyết tin báo, tố
giác về tội phạm sẽ quyết định chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát
điều tra, kiểm sát xét xử để có thể khẳng định có hay không có hành vi phạm
tội xảy ra, người nào thực hiện hành vi phạm tội, tính chất, mức độ và hậu quả
do hành vi phạm tội đó gây ra như thế nào.
1
Trong những năm vừa qua, trên cơ sở quy định của pháp luật về chức
năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân, công tác kiểm sát việc giải quyết
tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được những
kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên trước sự thay đổi của các điều kiện kinh tế
xã hội, đặc biệt trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình
thông tin điện tử VKSND tối cao, Hà Nội; Lưu Trọng Nguyên (2009), Một số
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Tạp chí kiểm sát, số
12; Vũ Việt Hùng (2009), Quy định của pháp luật về kiểm sát việc giải quyết
tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố - Thực trạng và một số đề
xuất kiến nghị, Tạp chí kiểm sát, số 12; ThS. Lê Ra (2012), Cần thống nhất
nhận thức về các khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và
các nguồn thông tin về tội phạm, Tạp chí kiểm sát, số 20;...
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về tin báo, tố giác về tội
phạm, công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
dưới các góc độ Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Dương Tiến Mạnh với
đề tài “Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong luật tố tụng
hình sự Việt Nam (Hà Nội – 2015)”; Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả
Trương Văn Chung với đề tài “Tin báo, tố giác về tội phạm theo pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang (Hà Nội- 2015)”; Luận
văn thạc sĩ Luật học của tác giả Phạm Anh Đức với đề tài “Nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện kiểm sát trong giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến
nghị khởi tố (Hà Nội 2016)”…
Như vậy, việc nghiên cứu vấn đề lý luận về kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm không phải mới nhưng chưa có một công trình khoa
học dưới góc độ pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nào nghiên cứu có tính
chất hệ thống, toàn diện, sâu sắc cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn những
kết quả đã đạt được và những vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác
3
tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm tại địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
để từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc tiếp nhận,
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm.
những tồn tại, hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân cơ
bản của tồn tại, hạn chế đó.
- Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm cho VKSND tỉnh Quảng Ngãi.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Cùng với việc nghiên cứu và giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản và
quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân và những văn bản hướng dẫn khác có liên quan xung quanh chức
năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kết hợp với việc
nghiên cứu đánh giá thực tiễn việc thực hiện công tác trên của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, tìm ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để
kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu
quả thực hiện trong thực tiễn. Luận văn không nghiên cứu quy định pháp luật
nước ngoài về vấn đề này.
Mặc dù BLTTHS năm 2015 đã được ban hành, nhưng theo Nghị quyết
số 144/2015/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của BLTTHS số
101/2015/QH13 từ ngày 01/7/2016 đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành, luận văn
này ngoài việc phân tích các quy định của BLTTHS năm 2003 về chức năng
kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát thì tác
giả còn đối chiếu với BLTTHS năm 2015, chỉ ra những điểm mới đã được
khắc phục và đề xuất tiếp tục hoàn thiện.
Về phạm vi nghiên cứu thực tiễn: Đề tài nghiên cứu thực tiễn thực hiện
công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong 05 năm
(2012 – 2016) trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
5
4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
CHƯƠNG 1
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT
VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1. Các vấn đề lý luận về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về
tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.1. Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm và kiểm sát việc giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.1.1. Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm
Tin báo, tố giác về tội phạm là nguồn thông tin quan trọng góp phần giúp
các cơ quan tố tụng có cơ sở, căn cứ để tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra
các vụ án hình sự. Quy định của pháp luật về tin báo, tố giác về tội phạm góp
phần tăng cường trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội đối
với việc đấu tranh phòng, chống tội phạm đồng thời góp phần tạo sự rõ ràng
và minh bạch cho các chủ thể này có thể tố cáo hành vi phạm tội hoặc thông
tin về hành vi phạm tội của người khác đến cơ quan có thẩm quyền. Do vậy,
việc đưa ra một khái niệm chính xác về tố tin báo, tố giác về tội phạm sẽ giúp
các cơ quan tiến hành tố tụng thuận lợi hơn khi thực thi nhiệm vụ.
Để nắm rõ ràng, chính xác khái niệm về tin báo, tố giác về tội phạm
cần phải phân biệt được các khái niệm: tố cáo, tố giác về tội phạm, tin báo về
tội phạm vì những khái niệm này có những điểm tương đồng nhất định, có
thể gây nhầm lẫn trong quá trình tiếp cận và thực hiện.
Dưới góc độ ngôn ngữ học, các thuật ngữ: Tố cáo, tố giác, tin báo được
hiểu là:
Theo từ điển tiếng Việt, khái niệm “tố cáo” được hiểu theo hai nghĩa.
7
Tố cáo và tố giác về tội phạm có một số điểm tương đồng nhất định
như: Thứ nhất, chủ thể tố cáo và tố giác tội phạm đều là cá nhân, có tên tuổi,
địa chỉ rõ ràng. Người tố cáo và tố giác tội phạm phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về nội dung tố cáo, tố giác của mình, trường hợp tố cáo, tố giác sai
sự thật thì tùy theo mức độ có thể bị xử lý về hành chính hoặc truy cứu trách
nhiệm hình sự. Việc tố cáo, tố giác tội phạm có thể được thực hiện bằng lời
nói hoặc bằng văn bản. Thứ hai, tố cáo và tố giác về tội phạm đều là việc
công dân thực hiện quyền của mình báo tin cho cơ quan có thẩm quyền về
hành vi vi phạm pháp luật ở một lĩnh vực nhất định.
Tố cáo và tố giác về tội phạm có những điểm khác biệt nhất định như:
Thứ nhất, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, không phân biệt tính chất, mức
độ vi phạm. Còn tố giác về tội phạm chỉ bao gồm hành vi vi phạm pháp luật
có thể cấu thành tội phạm đã được quy định trong BLHS. Do đó, có thể nói
khái niệm tố cáo rộng hơn và cơ bản đã bao hàm cả khái niệm tố giác về tội
phạm, trong TTHS tố cáo hành vi phạm tội được gọi là tố giác về tội phạm.
Thứ hai, tố cáo là quyền của công dân, còn tố giác về tội phạm vừa là quyền,
vừa là nghĩa vụ của công dân. Quan hệ pháp luật về tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật chỉ phát sinh sau khi công dân thực hiện quyền tố cáo, còn quan hệ
pháp luật tố giác về tội phạm thì phát sinh ngay sau khi công dân biết về tội
phạm. Công dân có quyền quyết định việc mình sẽ tố cáo hay không tố cáo
một hành vi vi phạm pháp luật nhưng bắt buộc phải tố giác tội phạm nếu đã
biết rõ về một số tội phạm quy định tại Điều 313 BLHS đang được chuẩn bị
hoặc đã được thực hiện [17].
Dưới góc độ pháp lý, định nghĩa tin báo, tố giác về tội phạm được nêu
tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT - BCA - BQP - BTC BNN&PTNT - VKSNDTC ngày 02 tháng 8 năm 2013 của Bộ Công an - Bộ
Quốc phòng - Bộ tài chính - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn - Viện
9
Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do
các cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo cho cơ quan có thẩm quyền tiếp
nhận, giải quyết theo quy định của BLTTHS hoặc thông tin về tội phạm trên
phương tiện thông tin đại chúng.
Và có thể rút ra khái niệm chung về tố giác và tin báo về tội phạm như
sau: Tin báo, tố giác về tội phạm là những thông tin có dấu hiệu tội phạm
được quy định trong BLHS do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp bằng các
hình thức thông tin khác nhau hoặc do các phương tiện thông tin đại chúng
nêu lên để cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo quy định
của BLTTHS.
Từ khái niệm và các quy định nêu trên, có thể nhận thấy tin báo, tố giác
về tội phạm có một số đặc trưng sau:
Thứ nhất, tố giác và tin báo về tội phạm tồn tại dưới nhiều hình thức rất
đa dạng bao gồm các thông tin được lưu giữ bằng các đối tượng vật chất, tài
liệu, các bản ảnh, băng ghi hình, ghi âm… và những phản ánh bằng tinh thần,
tức là những thông tin còn lưu giữ trong trong trí nhớ của con người đã tri
giác về những tình tiết phản ánh về hành vi có dấu hiệu tội phạm [10]. Tin
báo, tố giác về tội phạm có thể phản ánh về tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn
bị (sẽ xảy ra) đang xảy ra và đã xảy ra. Điều này khẳng định vai trò to lớn của
tin báo, tố giác về tội phạm trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
hiện nay.
Thứ hai, tố giác và tin báo về tội phạm là những thông tin đầu tiên về
tội phạm được phản ánh qua những hình thức khác nhau. Chính vì vậy, tin
báo, tố giác về tội phạm thường chưa được xử lý, diễn giải nên chất lượng
thông tin có những giá trị khác nhau. Tại thời điểm nhận được thông tin về tội
phạm các cơ quan tiến hành tố tụng không thể ngay lập tức xác định được sự
việc xảy ra có phải là tội phạm hay không, đồng thời tại khoản 4 Điều 8
12
khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát các
hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ
quan tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp
luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất. Bản chất pháp lý của chức
năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS là kiểm tra tính có căn cứ và
tính hợp pháp trong hành vi, quyết định của các chủ thể bị kiểm sát. Khi thực
hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, VKS được giao một số quyền năng
theo quy định của pháp luật mà chỉ riêng VKS mới có, các quyền này cũng đồng
thời là nghĩa vụ của VKS, tạo nên sự khác biệt về phương thức thực hiện hoạt
động kiểm sát mà các chủ thể khác không có [18, tr.18].
Theo Từ điển tiếng Việt: “Giải quyết là làm cho không thành vấn đề
nữa” [31,tr.103]. Giải quyết là làm cho xong, kết thúc một vấn đề, công việc
nào đó của cơ quan có thẩm quyền.
Hoạt động giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của cơ quan có thẩm
quyền được diễn ra thông qua các hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau,
không tách rời, gồm: việc tiếp nhận, phân loại vụ việc và thụ lý giải quyết;
tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin; phân công Điều tra viên tiến hành thu
thập các tình tiết, chứng cứ có ý nghĩa chứng minh tội phạm; kết luận và ra
quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Như vậy, giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận
nguồn tin về tội phạm để tổ chức kiểm tra, xác minh nguồn tin, thu thập
chứng cứ phục vụ cho việc kết luận có hay không có sự việc phạm tội, qua đó
quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.
Theo đó, kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là việc
VKS bằng quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền kiểm sát do pháp luật tố
tụng hình sự quy định thực hiện việc kiểm tra, giám sát trực tiếp, cụ thể và
tội, người phạm tội đều được phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp luật.
Thực tiễn thực hành quyền công tố cho thấy, kiểm sát tốt việc giải quyết tố
14
giác, tin báo tội phạm sẽ quyết định chất lượng thực hành quyền công tố,
kiểm sát điều tra, kiểm sát xét để có thể khẳng định có hay không có hành vi
tội phạm xảy ra, người nào thực hiện hành vi phạm tội, tính chất, mức độ và
hậu quả do hành vi phạm tội đó gây ra như thế nào.
Kiểm sát tốt việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm góp phần đảm bảo
các quyết định tố tụng, hoạt động tố tụng của các cơ quan có thẩm quyền tiếp
nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm đúng theo quy định của pháp
luật, các chứng cứ, tài liệu được thu thập theo một trình tự thủ tục khách quan,
toàn diện, đầy đủ, chính xác; những vi phạm pháp luật trong quá trình giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm phải được phát hiện kịp thời, khắc phục và
xử lý nghiêm minh. Mặt khác, tin báo, tố giác về tội phạm phản ánh hoạt
động của các tội phạm trong đời sống xã hội, kiểm sát tốt việc tiếp nhận, phân
loại, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm sẽ giúp đánh giá được diễn biến,
tình hình, xu hướng của tội phạm diễn ra trên địa bàn từ đó có biện pháp can
thiệp, tác động và xây dựng biện pháp phòng ngừa đạt hiệu quả. Như vậy, có
thể khẳng định hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình tố tụng hình sự vì nó là cơ sở
bảo đảm cho việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật và không bỏ lọt tội phạm.
1.1.2. Nội dung của kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.2.1. Chủ thể có quyền kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm
Theo Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
phải là chức năng hoạt động giống như VKS mà nó chỉ là quyền, nghĩa vụ
phái sinh từ những chức năng, hoạt động của chủ thể đó. Sự khác nhau cơ bản
giữa hoạt động kiểm sát của VKS và hoạt động giám sát của các chủ thể khác
chính là hình thức thực hiện, cụ thể là phương thức và các quyền năng mà
16
pháp luật TTHS cho phép khi thực hiện. Nhờ những nhiệm vụ, quyền hạn luật
định mà VKS có đầy đủ căn cứ pháp lý để giám sát chặt chẽ hoạt động tiếp
nhận, thụ lý, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của cá nhân, tổ chức, cơ
quan có thẩm quyền, phát hiện và khắc phục kịp thời những hành vi trái với
quy định của pháp luật.
Như vậy, có thể khẳng định chủ thể duy nhất có chức năng kiểm sát hoạt
động giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là Viện kiểm sát nhân dân. Điều này
đã được thể hiện trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, Bộ luật TTHS và
những văn bản khác xuất phát từ chính bản chất của hoạt động kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp của VKSND là đảm bảo tính hợp
pháp của các hành vi, quyết định của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong
hoạt động tư pháp.
1.1.2.2. Đối tượng và phạm vi của hoạt động kiểm sát việc giải quyết
tin báo, tố giác về tội phạm
Khi xác định đối tượng của hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm cần làm rõ hai vấn đề: Thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm. Thứ hai, hệ thống pháp luật được sử
dụng trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm. Bởi vì, đối tượng
của công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm chính là hoạt
động tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật TTHS. Đó
là sự tuân theo các quy định của pháp luật về thủ tục, trình tự, cách thức giải
- Bên cạnh các CQĐT chuyên trách thì các cơ quan được giao tiến hành
một số hoạt động điều tra như: các cơ quan của Bộ đội Biên phòng, các cơ
quan của Hải quan, các cơ quan của Kiểm lâm, các cơ quan của lực lượng
Cảnh sát biển, cơ quan của Kiểm ngư và các cơ quan khác của Công an nhân
dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
18
tra… được quy định tại Điều 111 BLTTHS năm 2003, cũng có thẩm quyền
tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong lĩnh vực quản lý của
mình. Đây là các cơ quan quản lý hành chính trong ngành, lĩnh vực được pháp
luật cho phép tiến hành một số hoạt động điều tra các vụ án hình sự phát sinh
từ lĩnh vực đó. Do đó, các cơ quan trên cũng là đối tượng của hoạt động kiểm
sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm.
Hệ thống pháp luật được sử dụng để giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm đầu tiên là pháp luật tố tụng hình sự mà ở đây chủ yếu được quy định trong
BLTTHS 2003, quy định về trình tự tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức cá nhân khác có liên quan đến việc tiếp
nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm. Ngoài pháp luật tố tụng hình sự còn
có các quy định của pháp luật về nội dung như pháp luật hình sự cũng đóng vai
trò quan trọng mà các chủ thể giải quyết cần phải tuân theo.
Phạm vi công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết đối với tin báo, tố
giác về tội phạm được bắt đầu từ khi CQĐT, Cơ quan được giao tiến hành
một số hoạt động điều tra tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm đến khi ra
quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự và ban hành
thông báo kết quả giải quyết theo luật định. Việc ra một trong hai loại quyết
định nói trên thể hiện kết quả giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, đồng
thời cũng kết thúc quá trình giải quyết này để chuyển sang hoạt động tố tụng
và cuối cùng là kiểm sát kết quả giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm. Tuy
nhiên, việc phân chia các giai đoạn như đã nêu trên chỉ mang tính chất tương
đối, phục vụ cho việc nghiên cứu bởi vì hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm là một quá trình xuyên suốt từ khi cơ quan có thẩm
quyền tiếp nhận đến khi ra quyết định giải quyết tin báo,tố giác về tội phạm.
Ở mỗi giai đoạn khác nhau thì phương thức, phạm vi tác động của VKS đến
các chủ thể có thẩm quyền cũng khác nhau. Ngoài ra, tùy thuộc vào nội dung,
20