MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ quyền con người là một nhân tố quan trọng cho sự phát
triển bền vững của một quốc gia. Mỗi quốc gia đều xây dựng một hệ
thống pháp luật riêng cho quốc gia của mình dựa trên các điều kiện
chính trị, kinh tế - xã hội và các giá trị truyền thống văn hóa của quốc
gia để bảo đảm các quyền con người được thực hiện một cách tốt nhất
và đầy đủ nhất. Bảo đảm quyền con người không chỉ dừng lại ở việc
ghi nhận nó mà còn phải thực thi nhiều biện pháp đồng bộ, được mọi
cấp, mọi ngành, mọi người tham gia.
Hoạt động áp dụng BPNC bắt người là hoạt động phức tạp,
nhạy cảm, là hoạt động mà quyền con người dễ bị xâm phạm nhất. Bắt
người là một chế định pháp lý trong luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Đây thực chất là các biện pháp ngăn chặn nhằm hạn chế một số quyền
của công dân, quyền của con người. Mục đích của các BPNC là để
đảm bảo cho các CQTHTT thực hiện được tốt chức năng, nhiệm vụ
của mình trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm,
đảm bảo trật tự pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các biện pháp
ngăn chặn này cũng nhằm bảo vệ các quyền con người, quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân. Nhưng mặt khác, những BPNC cũng như
các hoạt động của các CQTHTT, NTHTT cũng rất dễ ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích của công dân, đến quyền con người. Cho nên vấn đề
đặt ra là CQTHTT, NTHTT cần có nhận thức đầy đủ về quyền con
người và tầm quan trọng của việc bảo đảm nó. Đồng thời cần phải hiểu
rõ các quy định pháp luật về việc đảm bảo quyền con người, bên cạnh
nó cần nắm bắt trình tự thủ tục cũng như điều kiện áp dụng BPNC bắt
người. Đây vấn đề rất quan trọng để các chủ thể thực thi pháp luật
tránh những vi phạm về quyền con người, các quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân mà Hiến pháp đã quy định. Ngoài ra còn nâng cao
1
2
khảo: “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người”, năm 2011 do GS,
TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội. Sách:“Bảo đảm
quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam”, năm 2010, NXB
Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh. Sách: “Bảo vệ quyền con người
trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam”, của tác giả Trần
Quang Tiệp (2004), NXB chính trị quốc gia Hà Nội. Sách: “Một số
vấn đề về bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam”,
của tác giả Vũ Văn Nhiêm (2010), NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí
Minh. Ngoài ra còn có các công trình tiêu biểu khác như: Luận án tiến
sĩ luật học của tác giả Đặng Công Cường (2013), “Vai trò của Tòa án
trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay”,của tác giả
Lại Văn Trình (2011), Bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam. Ở cấp độ các bài báo, tạp chí
khoa học có thể kể đến: Bài viết của tác giả Nguyễn Tiến Đạt (2006),
Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, Tạp chí
khoa học pháp lý số 3 (34); Bài viết của tác giả Đắc Minh (2014),
Công dân có quyền im lặng khi bị bắt, TANDTC - Công lý số 86, thứ
6 ngày 24/10; Bài viết của tác giả Bình Sơn (2014), Sôi động về quyền
im lặng, Tạp chí dân chủ và pháp luật-BTP, số 11 (272);
Các công trình trên các tác giả đã nghiên cứu về vấn đề bảo đảm
quyền con người trong tư pháp hình sự nói chung và trong tố tụng hình
sự nói riêng. Bước đầu đã đặt nền móng cho việc đặt quyền con người
lên hàng đầu. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học nào tiếp
cận một cách trọn v n, toàn diện, hệ thống, đồng bộ về vấn đề bảo đảm
quyền con người của người bị bắt theo pháp luật tố tụng hình sự từ thực
tiễn một địa bàn nghiên cứu, cụ thể là tại tỉnh Quảng Bình.
Trên cơ sở kế thừa những tri thức lý luận nền tảng, cũng như
được bao quát trong phạm vi liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền con
người của người bị bắt trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt
người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tại tỉnh
Quảng Bình giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016. Do giới hạn của
luận văn chỉ nghiên cứu bảo đảm quyền của người bị bắt theo quy định
của BLTTHS nên tác giả chỉ nghiên cứu bảo đảm quyền của người bị
bắt gồm: Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, quả tang, truy nã,
4
bắt bị can, bị cáo để tạm giam và bắt người bị yêu cầu dẫn độ.
5. Ph ng ph p u n và ph ng ph p nghiên cứu
5. . hương pháp luận: Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương
pháp luận, thế giới quan của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật.
5.2. hương pháp nghi n c u
Các phương pháp cụ thể được s dụng trong quá trình nghiên
cứu kết hợp việc s dụng các phương pháp như phương pháp lý luận,
phân tích, so sánh, chứng minh được s dụng để làm rõ những vẫn
đề lý luận chung về bảo đảm quyền con người của người bị bắt.
Phương pháp nghiên cứu, lý luận, phân tích, hệ thống, đối chiếu,
suy luận, logic
được s dụng để làm rõ các vấn đề thực trạng về
quyền con người của người bị bắt từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình.
Phương pháp t ng kết kinh nghiệm, phân tích, suy luận logic
được s dụng để kiến nghị hoàn thiện các giải pháp bảo đảm quyền
con người của người bị bắt.
6. ngh a
u n và thực ti n của u n v n
6. . Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã góp phần làm rõ thêm nhiều
Quyền con người là những nhu cầu, l i ích vốn có, tự nhi n. ư c
áp dụng cho tất cả mọi cá nhân, không thể bị tước bỏ hay hạn chế một
cách tùy tiện bởi bất c chủ thể nào. Mọi quyền con người đều có tầm
quan trọng như nhau, việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc
một phần, nằm trong mối li n hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. ư c
ghi nhận trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Bảo đảm quyền còn người là: là sự ghi nhận, thực hiện và bảo vệ
quyền con người, để quyền con người đư c tôn trọng và thực thi tr n
thực tế, mặt khác có những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn những
nguy cơ, hành vi có thể xâm phạm đến quyền con người. B n cạnh đó
bảo đảm cũng có thể hiểu là phải chắc chắn và luôn đư c thực hiện.
1.1.2. Khái niệm người bị bắt, phân loại người bị bắt
Người bị bắt là người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự, bao gồm bị can, bị cáo, người đang bị truy nã, người
6
đang bị dẫn độ hoặc thậm chí là người chưa bị khởi tố về hình sự có
thể bị áp dụng trong những trường h p khẩn cấp hoặc phạm tội quả
tang, nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ
trốn tránh pháp luật tạo điều kiện thuận l i cho việc điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án hình sự.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 quy định: “Các trường h p bắt người gồm bắt người bị tạm giữ
trong trường h p khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người
đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị y u cầu
dẫn độ”.
1.1.2.1. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình
sự hoặc người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét x để tạm giam nhằm
1.2.1. Các quyền con người của người bị bắt theo pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam
.2. . .Các quyền con người, quyền công dân của người bị bắt
Quyền được tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân
(Điều 4),Quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 5); Quyền bất khả
xâm phạm về thân thể (Điều 6); Quyền được bảo hộ tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản (Điều 7); Quyền bất khả xâm phạm
về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín (Điều 8); Quyền
được suy đoán vô tội (Điều 9); Quyền được bào chữa (Điều 11);
Quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự quyền lợi khi bị
oan, sai (Điều 29, 30); Quyền được khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình
sự (Điều 31); Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 còn qui định b sung các
quyền con người, quyền công dân mà người bị bắt được hưởng gồm:
Quyền được tôn trọng và bảo vệ quyền con người và lợi ích hợp pháp
(Điều 8); Quyền được Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời sống
riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 12); Bên cạnh đó
BLTTHS 2015 còn quy định về quyền im lặng, chi tiết cụ thể tại các
Điều 58 khoản 1 điểm d, Điều 59 khoản 2 điểm c, Điều 60 khoản 1
8
điểm d, Điều 61 khoản 2 điểm h. Một trong những điểm mới đáng chú
ý, thể hiện tinh thần bảo hiến một cách rõ ràng là việc người bị bắt
“đư c thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật bầu cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý
dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân” (quy định tại điểm b,
khoản 1, Điều 9 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam)
.2. .2 Các quyền tố tụng của người bị bắt
* Quyền đư c biết lý do mình bị bắt: Người bị nghi ngờ phạm
tội cần được biết lý do mình bị cơ quan có thẩm quyền bắt giữ về hành
* Quyền khiếu nại v việc bắt, quyết định, hành vi tố tụng của
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Người bị bắt thực
hiện quyền này nếu thấy việc mình bị bắt là sai, trái với quy định của
pháp luật và không có căn cứ, các quyết định khác có liên quan như
khám nhà, khám người, tạm giữ đồ vật, tài liệu khi khám xét; trong
quá trình lấy lời khai, cán bộ điều tra đã có những hành vi bức cung,
mớm cung, nhục hình hoặc không bảo đảm các quyền của người bị bắt
theo quy định của pháp luật.
1.2.2. Nội dung bảo đảm quyền con người của người bị bắt
theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
.2.2. . Bảo đảm các quyền con người, quyền công dân chung
của người bị bắt
Một là, quy định đúng đắn, hợp lý về nội dung và thực hiện các
nguyên tắc tố tụng hình sự. Hai là, cần phải quy định đầy đủ, hợp lý
địa vị pháp lý của các chủ thể tố tụng hình sự. Ba là, quy định hợp lý
các biện pháp cưỡng chế tố tụng. Tính cưỡng chế trong tố tụng hình sự
hiển diện ở nhiều hình thức, biện pháp tố tụng khác nhau như các biện
pháp ngăn chặn, thủ tục tiến hành các biện pháp điều tra (khám xét,
xem xét dấu vết, thu giữ vật chứng ). Bốn là, quy định các thủ tục tố
tụng hình sự dân chủ, công khai. Dân chủ hóa các mặt đời sống xã hội,
trong đó có hoạt động tố tụng là xu thế tất yếu của Nhà nước pháp
quyền. Năm là, quy định và thực hiện việc giám sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động của cơ quan, người tiến hành tố tụng; Sáu
10
là, quy định cụ thể quyền khiếu nại của người bị bắt người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo đối với hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành
tố tụng; Bảy là, quy định đầy đủ và chặt chẽ chế độ trách nhiệm đối
với việc vi phạm quyền con người trong tố tụng hình sự.
Th hai, phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham
gia quá trình bắt, giải quyết vụ án đảm bảo tính khách quan, đúng pháp
luật.
Th ba, bảo đảm trách nhiệm chứng minh tội phạm và bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt.
Th tư, đối với VKS chỉ phê chuẩn lệnh bắt khi đã xác định rõ
căn cứ chứng tỏ người bị bắt đó sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra
vụ án.
1.2.3.3. Bảo đảm về mặt nhận th c, năng lực thực hiện của các
chủ thể bảo đảm quyền con người của người bị bắt
Th nhất, cần nâng cao nhận thức của CQTHTT, NTHTT trong
việc nhận thức đúng tầm quan trọng về quyền của người bị bắt và bảo
đảm các quyền của người bị bắt được thực hiện.
Th hai, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cần
phải bảo đảm thực hiện một cách triệt để hiệu quả và được các chủ thể
THTT nhận thức đúng nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng của nó.
Th ba, thực tiễn trong hoạt động TTHS vẫn còn xuất hiệu nhiều
trường hợp, tư tưởng xem nh vai trò của người bào chữa và một số biểu
hiện cản trở gây khó khăn cho luật sư khi tham gia tố tụng điều này vô
tình làm giảm đi hiệu quả trong công cuộc đấu tranh chống tội phạm.
12
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI
BỊ BẮTTRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1. Tổng quan thực tr ng bảo đả quyền con ng ời của
ng ời bị bắt trong t t ng hình sự trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
2.1.1. Tổng quan tình hình chính trị, kinh tế và công tác đấu
phê chuẩn áp dụng các biện pháp ngăn chặn sau đó bị oan sai hoặc từ
chối phê chuẩn không có căn cứ dẫn đến người bị bắt bỏ trốn gây khó
khăn cho công tác điều tra, thời hạn tố tụng nhìn chung được bảo đảm.
VKS thực hiện tốt các chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, kịp thời hủy bỏ các quyết định
trái pháp luật, xâm phạm quyền con người của người bị bắt.
2.2. Thực tr ng c c yếu t bảo đả thực hi n quyền con
ng ời của ng ời bị bắt trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
2.2.1. ếu tố c sở pháp l và tri n khai hư ng d n pháp luật
Hiện nay khung pháp lý cho hoạt động bảo vệ quyền con người
của người bị bắt trong tố tụng hình sự ngày một được hoàn thiện.
Ngoài các quy định trong BLTTHS 2003, các nghị định và trong thời
gian tới BLTTHS 2015, Luật tạm giữ, tạm giam năm 2015 có hiệu lực
thi hành sẽ góp phần hoàn thiện hơn trong việc bảo đảm quyền con
người của người bị bắt, là cơ sở pháp lý cao hơn những văn bản pháp
lý hiện hành nhằm bảo vệ đầy đủ quyền lợi cho người bị bắt.
2.2.2. ếu tố về mặt tổ chức, c chế thực thiện
2.2.2. . Công tác tổ ch c cán bộ
Nhằm thực hiện yêu cầu về công tác cán bộ theo tinh thần Nghị
quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách công tác
tư pháp đến năm 2020, trong thời gian qua các cơ quan tiến hành tố tụng
trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã kiện toàn t chức cán bộ, bồi dưỡng
nâng cao năng lực công tác; thực hiện công tác điều động, luân chuyển,
sắp xếp b nhiệm, tái b nhiệm và tuyển dụng mới cán bộ đáp ứng yêu
cầu thực hiện nhiệm vụ. Chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức
14
được đảm bảo theo đúng quy định của Nhà nước, của các Ngành.
2.2.2.2. Về cơ sở vật chất
hành những điều có lợi cho người thực hiện hành vi phạm tội.
2.3.1. Những kết quả đạt được
Bảng 2. : Bảng thống k các trường h p bắt và tạm giữ
từ năm 2 2 – 2016
N
Khẩn cấp
Quả tang
Truy nã
T ng số
Đầu thú, tự thú
Tổng s t
giữ
Khởi tố áp dụng biện
pháp ngăn chặn khác
Giải
Trả tự do
quyết
(x lý hành chính)
Chuyển tạm giam
Tỷ lệ giải quyết
Các
hình
thức bắt
2012 2013
184 125
117 115
26
12
218
8
226
2016
90
161
9
260
4
264
50
37
44
7
8
179
98%
212
100%
225
100%
Thay đ i biện pháp ngăn chặn
Hình
Hội đồng xét x trả tự do
thức
(Cho hưởng án treo; Hình phạt tù
giải
bằng hoặc ngắn hơn thơi gian tạm
quyết
giam)
Án có hiệu lực chuyển trại
Tỷ giải quyết
2012
717
187
507
06
126
24
2013 2014 2015 2016
560 582 647 519
180 190 251 161
457 397 489 387
07
11
115 112 192 116
12
5
người bị bắt bị tình nghi thực hiện tội phạm vẫn còn nhiều hạn chế, từ
đó dẫn đến tình trạng cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ hình
sự sau phải trả tự do cho người bị tạm giữ vẫn còn xảy ra.
Thứ hai, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy các cơ quan tiến
hành tố tụng đã quá lạm dụng biện pháp ngăn chặn bắt.
Thứ ba, chúng ta có thể thấy người bị bắt là người chỉ bị nghi
thực hiện tội phạm (trừ trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam, hay
bắt theo lệnh truy nã) cho nên việc họ bị cơ quan tiến hành tố tụng bắt
sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tính, danh dự, ảnh hưởng không nhỏ đến
cuộc sống của họ.
Thứ tư, chúng ta cần nhận thấy rằng bắt bị can, bị cáo để tạm
giam và tạm giam là hai biện pháp ngăn chặn hoàn toàn độc lập với
nhau. Thế nhưng thực tế cơ quan tiến hành tố tụng lại không có sự
phân định rõ ràng giữa hai quy định này mà gộp thành một đó là bắt để
tạm giam luôn như vậy thực tế thời điểm tạm giam được tính từ thời
điểm bắt.
Thứ năm, thực tế trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian
qua các trường hợp bắt quả tang lập biên bản nhưng không có chữ ký
của người bị hại, người làm chứng hoặc lập biên bản bắt khẩn cấp mà
không có chữ ký của đại diện chính quyền địa phương, người láng
giềng làm chứng.
Thứ sáu,thực tế cho thấy vẫn còn tình trạng lạm dụng biện pháp
bắt tạm giam. Nhiều trưởng hợp, căn cứ tạm giam chưa thể hiện cụ
thể.
18
Thứ bảy, người bị tạm giữ, tạm giam sau khi bị bắt là người bị
nghi thực hiện tội phạm, chưa phải là người bị kết tội theo bản án của
Tòa án, việc họ bị hạn chế một số quyền nhất định như việc người bị
đả quyền con ng ời đ i với ng ời bị bắt
3.1.1. Hoàn thiện nguyên tắc bất khả xâm phạm về thân th
Th nhất, Cần phải tôn trọng quyền bất khả xâm phạm về thân
thể của công dân, Nhà nước quy định chỉ trong trường hợp phạm tội
quả tang thì công dân mới bị bắt.
Th hai, Việc bắt và giam giữ người phải theo quy định của bộ
luật TTHS. Bên cạnh việc yêu cầu về thẩm quyền ra quyết định bắt
người và trường hợp đặc biệt được bắt khi chưa có lệnh bắt thì luật còn
quy định về trình tự, thủ tục tiến hành chưa rõ ràng và cụ thể.
Th ba, Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình. Khi
một người bị bắt hay giam giữ thì quyền công dân hay các quyền cơ
bản khác của con người vẫn được pháp luật bảo vệ và buộc các cá
nhân, t chức tôn trọng.
3.1.2. Hoàn thiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, quyền
có người bào chữa của người bị bắt
Th nhất: Điều 16 BLTTHS 2015 quy định vẫn chưa có chế tài
cụ thể với việc trách nhiệm giải thích của CQTHTT về quyền của
người bị buộc tội vì thế cần phải thêm quy định chế tài đối với các
hành vi quên hoặc cố tình quyên việc thông báo, giải thích các quyền
lợi của người bị bắt
Th hai: việc quy định về chủ thể là “người bị buộc tội” là một
quy định vắn tắt và quá chung chung. Pháp luật nên quy định rõ ràng và
chi tiết hơn cho từng đối tượng bị bắt, có thể nhiều câu chữ hơn nhưng
người dân, người bị bắt sẽ dễ hiểu hơn để áp dụng quyền lợi của mình
Th ba: BLTTHS mới chỉ quy định quyền và nghĩa vụ của
20
người bào chữa khi bào chữa chứ chưa quy định cơ chế để họ thực
hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Thứ hai, Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát trong quá trình
khởi tố, điều tra, x lý án hình sự.
Thứ ba, Hoàn thiện hệ thống quy chế nghiệp vụ công tác kiểm
sát VKS nhân dân tỉnh chỉ đạo việc nghiên cứu t ng hợp, đề xuất
VKSNDTC từng bước hoàn thiện các quy chế công tác thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong kiểm sát điều
tra, kiểm sát xét x các vụ án hình sự.
3.2.2. Tăng cường giải thích, hư ng d n áp dụng pháp luật
TTHS
Th nhất, tăng cường hướng dẫn áp dụng BLTTHS:
Hướng dẫn chi tiết, cụ thể các biện pháp ngăn chặn không giam
giữ như bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị
để bảo đảm nhằm giúp cho CQTHTT nên tăng cường áp dụng các
biện pháp này.
Các cơ quan tiến hành tố tụng cần hướng dẫn cụ thể thủ tục cấp
giấy chứng nhận bào chữa; sự tham gia của người bào chữa vào quá
trình tố tụng và nhất là trong giai đoạn điều tra.
Th hai, cần chú trọng công tác nâng cao nhận thức, trình độ
của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Để bảo đảm quyền con người của
người bị bắt phụ thuộc nhiều vào sự hoàn thiện của các quy định pháp
luật và việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.
Th ba, chú trọng tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên
môn, nghiệp vụ nhất là về các kỹ năng tố tụng cho đội ngũ ĐTV, KSV.
3.2.3. Hoàn thiện chế độ trách nhiệm đối v i người tiến hành
tố tụng
Đẩy mạnh hoàn thiện chế độ trách nhiệm đối với NTHTT. Nâng
cao trách nhiệm của Nhà nước trước công dân giải pháp quan trọng
trong việc bảo đảm thực hiện các quyền của công dân.
Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các
22
23
dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì bảo đảm quyền
con người là một trong những nội dung cũng như mục đích chính của
công cuộc xây dựng nhà nước. Bảo đảm quyền con người chính là bảo
đảm nền dân chủ, bảo đảm được hiệu quả, hiệu lực của Nhà nước cũng
như quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân. Để đánh giá chất
lượng cuộc sống, trình độ văn minh của một quốc gia thì được thể hiện
ở sự dân chủ, sự thoả mãn và bảo đảm quyền tự do cá nhân của mỗi
công dân của quốc gia đó, cho nên hơn bất kỳ một hoạt động nào khác,
trong hoạt động tố tụng hình sự mà đặc biệt là việc áp dụng BPNC thì
quyền con người luôn phải được đặt lên hàng đầu theo đó hoạt động áp
dụng BPNC bắt người là hoạt động đầu tiên, làm cơ sở nền tảng cho
các hoạt động tố tụng tiếp theo, với tầm quan trọng đó đòi hỏi hoạt
động này cần phải khách quan, chính xác, nhạy bén và đặc biệt quyền
con người của những người bị bắt phải được bảo đảm. Việc bảo đảm
quyền con người là nhân tố cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc
gia.Luận văn đã đạt được một số kết quả, đó là: Đã góp phần làm rõ
thêm một số vấn đề lý luận chung về bảo đảm QCN trong TTHS; Đã
phân tích các quy định của BLTTHS hiện hành và những điểm mới
BLTTHS 2015 về bảo đảm quyền của người bắt, trên cơ sở đánh giá
thực tiễn và đưa ra những kết quả đạt được,đồng thời nêu lên những
hạn chế, bất cập tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại bất cập; Những
ý kiến góp phần hoàn thiện các quy định trong pháp luật TTHS Việt
Nam và các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm
quyền con người của người bị bắt. Luận văn là công trình khoa học
đầu tiên nghiên cứu bảo đảm quyền con người của người bị bắt thực
tiễn tại tỉnh Quảng Bình, mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong quá
trình nghiên cứu thực hiện luận văn nhưng không thể tránh khỏi những