VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ NGỌC DIỆN
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ BẮT
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ NGỌC DIỆN
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ BẮT
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG BÌNH
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
:
60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
2.2. Thực trạng các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền con người của người
bị bắt trên địa bàn tỉnh Quảng Bình ................................................................ 44
2.3. Những kết quả, vi phạm, sai lầm và nguyên nhân ................................... 47
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
CỦA NGƯỜI BỊ BẮT ................................................................................... 64
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con
người đối với người bị bắt ............................................................................... 64
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật tố tụng hình sự vềbảo
đảm quyền con người của người bị bắt ........................................................... 70
3.3. Một số giải pháp khác .............................................................................. 76
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
BPNC
: Biện pháp ngăn chặn
CQĐT
: Cơ quan điều tra
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
2.1:
2.2:
Bảng thống kê các trường hợp bắt và tạm giữ từ năm
2012 – 2016
Bảng thống kê các trường hợp bắt và tạm giam từ năm
2012 – 2016
Trang
51
54
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ quyền con người là một nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền
vững của một quốc gia. Mỗi quốc gia đều xây dựng một hệ thống pháp luật
riêng cho quốc gia của mình dựa trên các điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội và
các giá trị truyền thống văn hóa của quốc gia để bảo đảm các quyền con người
được thực hiện một cách tốt nhất và đầy đủ nhất. Trong quá trình xây dựng và
bảm quyền con người hơn nữa trong hoạt động tố tụng của mình. Thực tiễn tại
tỉnh Quảng Bình trong những năm qua cho thấy có nhiều trường hợp vi phạm
QCN đối với người bị bắt trong quá trình tiến hành tố tụng. Những vi phạm đó
xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những bất cập, hạn chế của pháp
luật, cơ chế, nhận thức, thái độ của người tiến hành tố tụng, các quy định về chế
độ trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng đối với người bị bắt. Vì vậy
trên cơ sở thực tiễn, những quy định của pháp luật tố tụng về việc áp dụng
BPNC bắt người cũng như việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động này,
nhận thấy đây là vấn đề cấp thiết và vô cùng quan trọng cho sự phát triển bền
vững. Đặc biệt trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
thì đây là yếu tố cần được chú ý quan tâm hơn nữa. Với lý do nêu trên tác giả
chọn nghiên cứu đề tài: “Bảo đảm quyền con người của người bị bắt theo pháp
luật tố tụng hình sự Việt nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình” làm luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý nước ta vấn đề quyền con người và bảo đảm
quyền con người trong hoạt động tư pháp nói chung và trong hoạt động tố tụng
nói riêng đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ các mức độ và góc độ khác nhau.
Đối với người bị buộc tội nói chung, người bị bắt trong tố tụng hình sự nói riêng
cũng có nhiều công trình đã đề cập nghiên cứu.
Ở phạm vi nghiên cứu về quyền con người và bảo đảm quyền con
2
người nói chung trong tố tụng hình sự, cụ thể có nhiều công trình đã công bố
như: Sách chuyên khảo: “Quyền con người”, năm 2015 do GS,TS Võ Khánh
Vinh chủ biên, NXB Khoa học xã hội. Sách chuyên khảo: “Cơ chế bảo đảm và
bảo vệ quyền con người”, năm 2011 do GS, TSVõ Khánh Vinh chủ biên, Nxb
Khoa học xã hội. Sách:“Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt
Nam”, năm 2010, NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh. Sách: “Bảo vệ quyền
đảm quyền con người của người bị bắt theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình.
3.2. Nhiệm vụ nghi n c u
Một là làm sáng tỏ một số cơ sở lý luận quy định về bảo đảm quyền con
người trong hoạt động tố tụng nói chung và trong việc áp dụng biện pháp ngăn
chặn bắt người nói riêng.
Hai là đánh giá thực tiễn bảo đảm quyền con người trong hoạt động áp
dụng biện pháp ngăn chặn bắt người của cơ quan tiến hành tố tụng tại tỉnh
Quảng Bình qua đó chỉ ra những điểm còn thiếu sót, chưa hợp lý trong quy định
của pháp luật áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người với việc bảo đảm quyền
con người.
Ba là đề xuất những giải pháp hoàn thiện các quy định của bộ luật tố tụng
hình sự và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người
trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người.
4. Đối t
ng và ph m vi nghiên cứu
4.1. ối tư ng nghi n c u
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là bảo đảm quyền con người của người bị
bắt theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình.
4.2. hạm vi nghi n c u
Đề tài mà tác giả chọn để nghiên cứu được bao quát trong phạm vi liên
quan đến vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực
tiễn tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016. Do giới hạn của
4
luận văn chỉ nghiên cứu bảo đảm quyền của người bị bắt theo quy định của
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã góp phần làm rõ thêm nhiều vấn đề lý luận về quyền con
người và bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong pháp luật tố tụng hình
sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã phân tích các quy định của pháp luật và đánh giá khách quan
thực tiễn bảo đảm quyền con người trong hoạt động áp dụng biện pháp ngăn
chặn bắt người, từ đó đã chỉ ra những bất cập, hạn chế trong hoạt động trên.
5
Đồng thời đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự quy định về áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt
người và tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong luật tố
tụng hình sự Việt nam.
7. C cấu của uận văn
Ngoài lời cam đoan, bảng chữ viết tắt, phần mở đầu, kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo, Luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người của người
bị bắt.
- Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị bắt trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình.
- Chương 3: Các giải pháp bảo đảm quyền con người của người bị bắt
6
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM
QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ BẮT
đối đầu và xung đột giữa họ trên cơ sở kết hợp tự do cá nhân với tự do của
những người khác, với hoạt động bình thường của nhà nước và xã hội. Những
quyền như quyền được sống, quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm, quyền
được bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được tự do ngôn luận, tự do chính
kiến, tự do tín ngưỡng, được tham gia vào các quá trình chính trị là những điều
kiện cần thiết để con người tổ chức đời sống trong xã hội văn minh và cần phải
được nhà nước thừa nhận và bảo vệ một cách vô điều kiện [48, tr.13].
Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng
được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và
tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân
loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người. Nhờ có những chuẩn mực
này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và
mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một
con người.
Từ việc đánh giá làm rõ khái niệm về quyền con người tác giả luận văn xây
dựng khái niệm quyền con người như sau: Quyền con người là những nhu cầu, l i
ích vốn có, tự nhi n. ư c áp dụng cho tất cả mọi cá nhân, không thể bị tước bỏ
hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất c chủ thể nào. Mọi quyền con người đều
có tầm quan trọng như nhau, việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc
một phần, nằm trong mối li n hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau.
ư c ghi
nhận trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
1.1.1.2. Khái niệm bảo đảm quyền con người
Có thể thấy quyền con người chỉ có giá trị khi nó được bảo đảm. Và vì
vậy, khái niệm bảo đảm quyền con người là khái niệm luôn gắn với khái niệm
8
thông qua biện pháp pháp luật. “Đảng ta đã nhiều lần khẳng định mục tiêu và
động lực chính của sự phát triển là do con người và vì con người. Do vậy việc
hướng đến mục tiêu giải phóng con người, tôn trọng và bảo vệ quyền con người
chính là mục đích nội tại của Đảng và Nhà nước ta” [30, tr.163].
Qua nghiên cứu khái niệm bảo đảm quyền con người mà các nhà khoa
học đã đưa ra thì ta có thể nhận thấy việc bảo đảm quyền con người nói chung
và trong tố tụng hình sự nói riêng bao hàm các đặc điểm: Đó là sự điều chỉnh về
mặt lập pháp, sự thực thi về mặt hành pháp, và sự đảm bảo tối đa về mặt tư pháp,
nhằm mục đích làm cho quy định của pháp luật các quốc gia phù hợp với các
nguyên tắc, các quy phạm pháp luật quốc tế, làm cho các quy định pháp luật này
được tuân thủ, chấp hành và áp dụng nghiêm chỉnh, thống nhất và triệt để, tạo
lòng tin ở công dân. Cho nên việc bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực này
không thể chỉ quy định chung chung mà cần phải rõ ràng, cụ thể. Hơn nữa trong
lĩnh vực tố tụng hình sự thì vấn đề bảo đảm quyền con người càng quan trọng hơn
nữa. Bởi lẽ hoạt động tố tụng là hoạt động linh hoạt, nhạy cảm, áp dụng quy phạm
pháp luật cho nên quyền con người dễ bị vi phạm hơn hết vậy nên bảo đảm quyền
con người trong tố tụng hình sự là nhiêm vụ hàng đầu và vô cùng quan trọng.
Vì vậy, theo tác giả, bảo đảm quyền con người là sự ghi nhận, thực hiện
và bảo vệ quyền con người, để quyền con người đư c tôn trọng và thực thi trên
thực tế, mặt khác có những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn những nguy cơ,
hành vi có thể xâm phạm đến quyền con người. B n cạnh đó bảo đảm cũng có
thể hiểu là phải chắc chắn và luôn đư c thực hiện.
Việc bảo đảm tốt các quyền con người sẽ giúp giảm thiểu, ngăn ngừa
những mâu thuẫn xã hội, củng cố sự đoàn kết nhất trí, thúc đẩy sự phát triển về
mọi mặt của một đất nước, qua đó góp phần bảo đảm an ninh quốc gia.
1.1.2. Khái niệm người bị bắt, phân loại người bị bắt
Hoạt động bắt người luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị, xã
hội vì bắt người đúng hay không đúng các quy định của pháp luật có liên quan
10
11
quy định: “Các trường h p bắt người gồm bắt người bị tạm giữ trong trường
h p khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị
can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị y u cầu dẫn độ”.
Như vậy, người bị bắt được phân loại trong các trường hợp sau đây:
1.1.2.1. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình sự hoặc
người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét x để tạm giam nhằm ngăn chặn bị
can, bị cáo tiếp tục phạm tội, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra,
truy tố, xét x và thi hành án hình sự.
Đối tượng của việc bắt người để tạm giam chỉ có thể là bị can hoặc bị cáo.
Những người chưa bị khởi tố về hình sự hoặc người chưa bị Tòa án quyết định
đưa ra xét x không phải là đối tượng bắt tạm giam.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, bắt bị can, bị cáo để tạm giam không phải
là biện pháp ngăn chặn duy nhất, vì thế không phải mọi bị can, bị cáo đều bị bắt
để tạm giam. Việc quyết định bắt bị can bị cáo để tạm giam không phải căn cứ
vào tính chất của tội phạm đã xảy ra, nhân thân người phạm tội và thái độ của
người phạm tội sau khi thực hiện tội phạm. Điều đó có nghĩa là chỉ được bắt để
tạm giam đối với một người khi có đủ căn cứ để xác định người đó đã thực hiện
hành vi phạm tội mà xét thấy đáng bắt để tạo điều kiện cho việc điều tra x lý
tội phạm. Người phạm tội nhưng không đáng bắt thì kiên quyết không bắt.Đối
với họ có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Ví dụ: bị can, bị cáo phạm tội
lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng hoặc phạm tội do vô ý, không có hành động
cản trở việc điều tra, truy tố, xét x thì không cần bắt tạm giam. Đối với những
bị can, bị cáo phạm tội có tính chất nghiêm trọng như phạm các tội đặc biệt
nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia, giết người, cướp tài sản
hoặc phạm
ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.
Trong trường hợp này, cơ quan điều tra chưa có đủ tài liệu, chứng cứ xác
định một người phạm tội, mới phát hiện được những dấu vết của tội phạm ở
người hoặc tại chỗ ở của người đó và từ những dấu vết ấy mà người đó bị nghi
thực hiện một tội phạm. Nếu xét thấy cần bắt ngay để ngăn chặn việc họ trốn
13
hoặc tiêu hủy chứng cứ, thì phải ra lệnh bắt khẩn cấp.
1.1.2.3. Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã
Bắt người phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện tội
phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc đuổi bắt. Phạm
tội quả tang có đặc điểm là hành vi phạm tội cụ thể, rõ ràng không cần phải điều
tra, xác minh.
Trường hợp thứ nhất: Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện.
Đang thực hiện tội phạm là trường hợp phạm tội quả tang thường gặp trong thực
tế. Người đang thực hiện tội phạm là người đang thực hiện hành vi phạm tội
được quy định trong bộ luật hình sự nhưng chưa hoàn thành tội phạm hoặc chưa
kết thúc việc phạm tội thì bị phát hiện.
Trường hợp thứ hai: Ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện. Đây
là trường hợp kẻ phạm tội vừa thực hiện tội phạm xong chưa kịp chạy trốn hoặc
đang cất giấu công cụ, phương tiện, đang xóa những dấu vết của tội phạm trước
khi chạy trốn thì bị phát hiện.
Trường hợp thứ ba: Đang bị đuổi bắt. Trong trường hợp phạm tội quả
tang này, người phạm tội vừa thực hiện tội phạm xong hoặc đang thực hiện tội
phạm thì bị phát hiện nên đã chạy trốn và bị đuổi bắt.
Bắt người đang bị truy nã không nằm trong các trường hợp bắt người
phạm tội quả tang, vì hành vi của người đang bị truy nã là hành vi bỏ trốn sau khi
đã thực hiện tội phạm. Tuy vậy, trong thực tế việc ngăn chặn ngay người đang bị
truy nã trốn tránh pháp luật cũng mang tính chất cấp bách như đối với việc ngăn
cho phép dẫn độ công dân cho nước ngoài. Người phạm tội chỉ có thể bị dẫn độ
nếu yêu cầu dẫn độ đáp ứng các điều kiện về tội phạm, hình phạt và các quy
định khác theo quy định của ĐƯQT và pháp luật về dẫn độ của nước yêu cầu và
nước được yêu cầu dẫn độ.
1.1.3. Khái niệm bảo đảm quyền con người của người bắt
Việc bắt người đúng pháp luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công
cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời những hành vi phạm
15
tội cũng như hành vi trốn tránh pháp luật, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ
án của người phạm tội, đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét x và thi hành án
được thuận lợi. Trái lại, việc bắt người không đúng pháp luật sẽ gây tác hại
nhiều mặt như xâm phạm quyền tự do thân thể của công dân, làm giảm uy tín
của Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật, gây hoang mang trong dư luận.
Chính vì vậy, việc bắt người trong TTHS có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn.
Việc bắt người luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị - xã hội,
bắt người đúng hay không đúng quy định của pháp luật, bắt oan sai có ảnh
hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân, liên quan đến đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Việc bắt một số “đối tượng đặc
biệt” về chính trị ở trong nước và các đối tượng là người nước ngoài còn ảnh
hưởng đến chính sách đối nội và quan hệ đối ngoại của Nhà nước ta.Vì vậy, việc
hoàn thiện quy định về biện pháp bắt người trong TTHS là vấn đề cấp thiết trong
công cuộc cải cách tư pháp hiện nay.
Thông qua những phân tích trên thì theo tác giả, bảo đảm quyền con
người của người bị bắt theo pháp luật tố tụng hình sự như sau:
“Bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong tố tụng hình sự là việc
các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của
pháp luật nhằm bảo đảm cho một người trước và sau khi bị bắt đư c thực hiện
tr n thực tế các quyền con người một cách đầy đủ và h p pháp.
thời để bảo vệ người tham gia tố tụng và người thân thích của người bị bắt khi bị
đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản theo
quy định của pháp luật.
- Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại,
điện tín (Điều 8), theo đó “không ai đư c xâm phạm chỗ ở, an toàn và bí mật
thư tín, điện thoại, điện tín của công dân. Việc khám xét chỗ ở, khám xét, tạm
giữ và thu giữ thư tín, điện tín phải theo đúng quy định của Bộ luật TTHS”.
- Quyền được suy đoán vô tội (Điều 9) ghi nhận “không ai bị coi là có
tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực
17
pháp luật”. Khi chưa có bản án kết tội của Tòa án thì người bị nghi thực hiện tội
phạm vẫn được bảo đảm các quyền về con người.
- Quyền được bào chữa (Điều 11), theo đó người bị bắt có quyền tự bào
chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. CQĐT, VKS, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm
cho người bị bắt thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của BLTTHS.
- Quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự quyền lợi khi bị
oan, sai (Điều 29, 30), theo đó khi bị thiệt hại, bị oan do cơ quan hoặc người có
thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường
thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi. “Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt
động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự,
quyền l i cho người bị oan; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho
cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”.
- Quyền được khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự (Điều 31), “công
dân, cơ quan, tổ ch c có quyền khiếu nại, công dân có quyền tố cáo những việc
làm trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan và người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự hoặc bất c cá nhân nào thuộc các cơ
quan đó. Cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời,
đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết
trên, tuy không trực tiếp ghi nhận quyền im lặng cho người bị bắt khẩn cấp,
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nhưng trong thực tế khi làm việc với các cơ
quan tố tụng, họ có thể không trả lời một số câu hỏi mà họ cho là chống lại họ
và họ cũng không buộc phải khai nhận mình có tội. Đây có thể được coi là một
nội dung của quyền im lặng, quy định này nhằm bảo đảm tính minh bạch của
pháp luật, tạo sự nhận thức thống nhất trong quá trình lấy lời khai và hỏi cung.
Trên thực tế cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng luôn mong đợi
sự hợp tác của người bị bắt, nhưng nếu không nhận được sự hợp tác tích cực của
người bị bắt thì cũng không thể coi đó là tình tiết tăng nặng để sau này áp dụng
x lý đối với họ được.
Tuy nhiên, người bị bắt có quyền khai báo sau khi được giải thích về
19