BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THỊ PHƢƠNG
ĐỀ TÀI
CÔNG ĐOÀN VỚI VIỆC BẢO VỆ QUYỀN VÀ
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TỪ
THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số:
60380107
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Xuân Thu
Hà Nội - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
được trách dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tác giả luận văn
việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
2.1.1. Hướng dẫn, tư vấn cho người lao động giao kết, thực hiện hợp
đồng lao động
2.1.2. Tổ chức hoạt động tư vấn pháp luật cho người lao động
2.1.3. Đối thoại với đơn vị sử dụng lao động để giải quyết các vấn
đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động, bảo đảm
việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
2.1.4. Tham gia thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện
thoả ước lao động tập thể
2.1.5. Tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện thang, bảng lương,
định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động
2.1.6. Tham gia giải quyết tranh chấp lao động để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người lao động
2.1.7. Kiến nghị với tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem
xét, giải quyết khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể
người lao động hoặc của người lao động bị xâm phạm
Trang
1
6
6
6
12
13
15
15
20
23
24
người lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật
3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn trong
việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang
Kết luận chƣơng 3
KẾT LUẬN
47
48
50
50
51
51
59
70
71
71
77
77
82
88
89
1
LỜI MỞ ĐẦU
2
chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh
nghiệp, cơ quan, tổ chức; xử lý kỷ luật lao động; tham gia thương lượng tập
thể, ký kết và giám sát thực hiện thỏa ước lao động tập thể; hỗ trợ giải quyết
tranh chấp lao động, đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng
quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức.
Việc tham gia của tổ chức công đoàn trên các lĩnh vực nhằm bảo đảm hơn
quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động khi tham gia quan hệ lao động.
Từ đó, giúp các bên hiểu biết nhau hơn nhằm duy trì quan hệ lao động lâu dài.
Tuy nhiên, bản thân quy định của pháp luật và thực tế hoạt động công đoàn
thời gian qua cho thấy còn không ít bất cập, vướng mắc cần tiếp tục nghiên cứu
để có bước đi vững chắc hơn trong thời gian tới.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, số lượng người lao động ngày càng
tăng, trong đó chủ yếu tăng người lao động thuộc khối sản xuất, kinh doanh
thuộc các thành phần kinh tế. Với phương châm: “Ở đâu có người lao động, ở
đó có tổ chức công đoàn", Công đoàn tỉnh Bắc Giang đã và đang thực hiện tốt
những chức năng của mình trong vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người lao động. Mặc dù, đã có nhiều giải pháp nhằm nâng cao vị thế của mình
trong quan hệ lao động nhưng trên thực tế Công đoàn các cấp tỉnh Bắc Giang
vẫn gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong quá trình hoạt động.
Thực tế đó cho thấy, hoàn thiện pháp luật về hoạt động của công đoàn,
nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của người lao động nói chung và người lao động trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang nói riêng là thực sự cần thiết. Đây cũng là lý do cơ bản của học viên khi
lựa chọn đề tài "Công đoàn với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người lao động từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang" làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động hoặc của người lao động
bị xâm phạm; đại diện cho tập thể người lao động tham gia giải quyết yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp; tổ chức và lãnh đạo đình công.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: Luận văn làm sáng tỏ về mặt lý luận và pháp luật
Việt Nam về định nghĩa, chức năng, tính chất của công đoàn, nguyên tắc tổ chức
và hoạt động, trách nhiệm của Công đoàn Việt Nam trong việc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người lao động, thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang. Trên cơ sở đó, Luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn nói chung và công đoàn tỉnh Bắc
Giang nói riêng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận
về công đoàn; phân tích các quy định pháp luật về trách nhiệm của công đoàn
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và thực tiễn
thực hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, chỉ rõ thành tựu, những tồn tại và nguyên
nhân. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động
của công đoàn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phép biện chứng của
Triết học Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở cho quá trình
nghiên cứu. Ngoài ra, các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh
các số liệu báo cáo của hàng năm, chuyên đề của Tổng Liên đoàn Lao động,
Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Giang. Các Nghị quyết Đảng Cộng sản Việt
Nam, các quy định của Hiến pháp, Bộ luật Lao động, Luật công đoàn... được
sử dụng với tư cách là cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý cho quá trình nghiên cứu.
1.1.1. Khái niệm công đoàn
Lịch sử phát triển hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa đã chứng
minh rằng, trong xã hội tư bản đã xuất hiện và tồn tại hai giai cấp mâu thuẫn
đối kháng với nhau về lợi ích. Để bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời hạn
chế sự bóc lột dã man của các ông chủ tư bản tất yếu những người công nhân
phải đứng lên đấu tranh. Do đó, nhu cầu liên kết của những người công nhân
cùng bị bóc lột trở nên cần thiết hơn bao giờ hết và mang tính tất yếu, lúc đầu
họ chỉ cùng nhau đấu tranh chống lại chủ tư bản, về sau đã phát triển hình
thành một tổ chức đại diện cho NLĐ – Tổ chức công đoàn.
Theo cuốn Lịch sử chủ nghĩa Công đoàn (History of Trade Unionism)
(1984) của Sidney và Beatrice Webb, công đoàn là “một hiệp hội của những
người làm công ăn lương có mục đích duy trì hay cải thiện các điều kiện thuê
mướn họ”. Có một định nghĩa khác của Cục Thống kê Úc cho rằng, công đoàn
là “một tổ chức hợp thành chủ yếu bởi những người làm thuê, hoạt động cơ
bản là thương lượng về lương bổng và điều kiện thuê mướn cho các thành viên
của nó”1. Trải qua hàng trăm năm, các công đoàn phát triển hình thành nhiều
dạng thức dưới sự ảnh hưởng của các thể chế chính trị và kinh tế. Mục tiêu và
hoạt động cụ thể của các công đoàn có khác nhau, nhưng thường bao gồm:
- Cung cấp lợi ích dự phòng: Các công đoàn thời xưa thường cung cấp
nhiều lợi ích để bảo trợ cho các thành viên trong trường hợp thất nghiệp, ốm
đau, tuổi già hay chết. Ngày nay ở các nước phát triển những chức năng này
được coi là nhà nước, nhưng những quyền lợi khác như đào tạo huấn luyện, tư
vấn và đại diện về luật pháp vẫn còn là những lợi ích quan trọng đối với thành
viên công đoàn.
1
Nguyễn Văn Bình (2012), “Tăng cường và bảo đảm tính độc lập, đại diện của công đoàn để tham
gia một cách thực chất, hiệu quả vào các quá trình của quan hệ lao động”, Tài liệu thảo luận của Tổ chức lao
động quốc tế ILO, Quyển 1, TSBN 978-92-2-824773-2, tháng 2/2011.
nghĩa xã hội và những người vô chính phủ đóng vai trò nổi bật trong việc tạo
lập và xây dựng các công đoàn, đặc biệt là kể từ những năm 1870 về sau.
Công đoàn có thể tổ chức dựa trên một nhóm công nhân có cùng kỹ năng (chủ
nghĩa công đoàn nghề nghiệp), những công nhân thuộc các ngành nghề khác
nhau (chủ nghĩa công đoàn toàn thể), hay các công nhân trong toàn bộ một
8
ngành công nghiệp (chủ nghĩa công đoàn ngành). Các công đoàn này thường
phân chia theo địa phương và thống nhất với nhau thành các nghiệp đoàn
quốc gia. Các nghiệp đoàn này lại liên kết với nhau thành các tổ chức quốc tế
như Liên hiệp Công đoàn Tự do Quốc tế (International Confederation of Free
Trade Unions).
Ở nhiều quốc gia, công đoàn có thể có vị thế như một pháp nhân, được ủy
quyền thương lượng với giới chủ thay cho các công nhân mà công đoàn đại diện.
Công đoàn có quyền quan trọng nhất là quyền thương lượng tập thể với người
thuê mướn lao động về lương, giờ làm cũng như các điều kiện thuê lao động
khác. Việc hai bên không thể đạt đến thỏa thuận có thể dẫn đến những hành
động gây áp lực, đỉnh điểm là đình công hay đóng cửa nhà máy không cho công
nhân vào làm. Trong một số trường hợp cực đoan, từ những sự việc này có thể
nảy sinh bạo lực hay nhiều hành vi bất hợp pháp. Tuy nhiên, trong nhiều trường
hợp khác, các công đoàn có thể không có quyền đại diện hợp pháp cho công
nhân. Sự thiếu vị thế của công đoàn có thể ở mức độ không được thừa nhận cho
đến việc truy tố các nhà hoạt động công đoàn như tội phạm.
Ngày nay, vấn đề về công đoàn cũng đã được Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) quy định trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công ước như: Công ước số
87 về quyền tự do liên kết và về việc bảo vệ quyền được tổ chức, năm 1948;
Công ước số 98 về áp dụng những của quyền tổ chức và thương lượng tập thể,
năm 1949; Công ước số 135 về việc bảo vệ những thuận lợi dành cho đại diện
theo luật pháp quy định” (Điều 2, Luật công đoàn của Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Trung Hoa năm 2001).
Như vậy, pháp luật Trung Quốc xác định tổ chức công đoàn là tổ chức
duy nhất được thực hiện chức năng đại diện quyền lợi cho tập thể lao động.
Trong khi đó, pháp luật Campuchia và Indonesia lại có những quy định khác
về phạm vi đại diện cho tập thể lao động
Pháp luật Việt Nam quy định vị trí, vai trò của tổ chức công đoàn được ghi
nhận như sau: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công
nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên
trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những
người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan
2
Nguyễn Hữu Chí, Đào Mộng Điệp (2010), “Pháp luật công đoàn một số nước và kinh nghiệm với
Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (06), trang 3-9.
10
nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế
- xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước,
tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập
nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Điều 1, Luật công đoàn năm 2012).
Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, xét trên phương diện xã
hội, công đoàn là một tổ chức xã hội có đầy đủ các tính chất như những tổ chức
xã hội khác, được hình thành và tồn tại trên cơ sở tự nguyện của các thành
viên, công đoàn còn là một tổ chức xã hội có tính chất nghiệp đoàn. Điều đó
nhau về công đoàn trên các phương diện như: phạm vi chủ thể được phép tham
gia thành lập công đoàn, cách thức tổ chức công đoàn, sự thừa nhận của pháp
luật cũng như chức năng của tổ chức công đoàn.
Một là, về mặt phạm vi các chủ thể được gia nhập thành lập công đoàn:
Có quốc gia thừa nhận chủ thể được tham gia chỉ bao gồm những NLĐ và cán
bộ công nhân viên (Trung Quốc), cũng có quốc gia cho phép mọi NLĐ được
tham gia thành lập tổ chức công đoàn (Nga), có quốc gia lại quy định công
đoàn do NLĐ tự nguyện lập ra (Singapore, Việt Nam, Campuchia). Một số
các quốc gia khác lại quy định độ tuổi và các điều kiện khác khi tham gia
thành lập công đoàn (Thái Lan, Chi Lê), hoặc có quốc gia thừa nhận NLĐ
trong nước và ngoài ra đều được tham vào tổ chức công đoàn (Nga).
Hai là, về cách thức tổ chức hệ thống công đoàn: Có những quốc gia lựa
chọn mô hình công đoàn theo hệ thống hành chính khu vực, hoạt động theo
chiều dọc, cấp dưới phục tùng cấp trên. Cách thức này chủ yếu tồn tại ở các
nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa (Việt Nam, Trung Quốc), nhưng cũng có
những quốc gia thiết lập hệ thống theo ngành nghề, vùng lãnh thổ, khu vực
(Nga, Đức, Đan Mạch, Mỹ, Pháp, Cộng hòa Séc…).
Ba là, sự thừa nhận của pháp luật đối với công đoàn: Hệ thống pháp luật
của các quốc gia có sự khác nhau trong việc quy định về công đoàn. Có quốc
gia quy định tổ chức công đoàn là tổ chức mang tính chất nghề nghiệp được
thành lập ra để bảo vệ quyền lợi NLĐ (Trung Quốc, Nga), nhưng cũng có
quốc gia lại xác định công đoàn là tổ chức bảo vệ giới lao động (Mỹ, Đức,
Pháp), trong khi đó Việt Nam lại thừa nhận công đoàn là tổ chức chính trị - xã
hội rộng rãi của giai cấp công nhân và của NLĐ.
Bốn là, về chức năng của công đoàn: Quyền đại diện lao động của tổ
chức công đoàn trong QHLĐ thường thể hiện trên các phương diện đàm phán,
12
phong trào công nhân đã được mang một màu sắc mới đó là đấu tranh chính trị
13
cùng với phong trào đấu tranh của Đảng cộng sản. Lênin cho rằng: “Trong hệ
thống chuyên chính vô sản, công đoàn có một vị trí ở giữa đảng và chính quyền
Nhà nước... Đảng thu hút đội tiên phong của giai cấp vô sản vào hàng ngũ của
mình, và đội tiên phong đó thực hiện chuyên chính vô sản, nhưng không có một
nền móng như các tổ chức công đoàn, thì không thể thực hiện được chuyên
chính, không thể thực hiện được các chức năng nhà nước”3.
Có thể thấy, tại một số nước, có những công đoàn (nghiệp đoàn) độc lập
với chính Đảng (nghiệp đoàn của Mỹ, Pháp...), có nghiệp đoàn chi phối chính
Đảng (nghiệp đoàn Anh), lại có nghiệp đoàn lệ thuộc chính Đảng (nghiệp
đoàn ở các quốc gia theo chủ nghĩa xã hội)4.
Ở Việt Nam, công đoàn do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, thực hiện
một số nhiệm vụ chính trị Đảng giao cho. Công đoàn là tổ chức đại diện của
giai cấp công nhân và của NLĐ. Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai
cấp công nhân, một số những đảng viên của Đảng có những người công nhân
ưu tú nhất. Đồng thời, một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và
hoạt động của công đoàn Việt Nam là nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên
tắc này cũng là nguyên tắc chung trong tổ chức, hoạt động của hệ thống chính
trị Việt Nam. Ở xã hội tư bản, một đảng muốn giành được càng nhiều quyền
lực chính trị về tay mình bao giờ cũng tìm cách lôi kéo các tổ chức, đoàn thể
xã hội. Do vậy, về thực chất thường không có một tổ chức đoàn thể nào hoạt
động độc lập một cách tuyệt đối mà thường đứng sau là một lực lượng chính
trị, một đảng phái nào đó.
1.1.3. Chức năng của công đoàn
Chức năng của công đoàn bao gồm: Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của NLĐ; xây dựng mối QHLĐ hài hòa ổn định và phát triển; giải quyết
chức công đoàn còn thực hiện chức năng bảo vệ các quyền kinh tế xã hội
khác của NLĐ (Phần 1, Luật lao động Lat-via năm 1990).
Cũng giống như Lat-via, Luật công đoàn của Singapore cũng mở rộng và
quy định cụ thể một số chức năng của công đoàn như: Thúc đẩy QHLĐ hài
hòa giữa NLĐ và NSDLĐ; nâng cao điều kiện làm việc của NLĐ hoặc vị trí
xã hội, kinh tế của họ; đạt được việc tăng năng suất vì lợi ích của NLĐ, chủ
sử dụng lao động và nền kinh tế Singapore và cả công đoàn (Điều 2, Phần I
Luật công đoàn Singapore năm 2004).
Ở Trung Quốc hiện nay, có quan điểm ngoài việc đảm nhiệm vai trò là người
đại diện, bảo vệ lợi ích của NLĐ, công đoàn có vai trò là chủ thể điều hòa xã hội.
Ở Việt Nam, chức năng của công đoàn thể hiện trên các phương diện sau:
- Chức năng đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ: Đây là
chức năng cơ bản, trung tâm và hàng đầu của tổ chức công đoàn. Tại Văn
kiện Đại hội Công đoàn VI (10/1998) đã chỉ rõ: “Công đoàn sinh ra, tồn tại,
5
Nguyễn Thị Ngân (2014) “Pháp luật về công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người lao động tại doanh nghiệp”, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, trang 10.
15
phát triển là để bảo vệ lợi ích cơ bản, lâu dài và lợi ích hàng ngày của người
lao động”.
- Chức năng đại diện cho NLĐ tham gia quản lý kinh tế xã hội, quản lý
công việc nhà nước: Trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đang trong điều
kiện tổ chức nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề
tham gia quản lý công việc nhà nước đã trở thành một chức năng cơ bản của
công đoàn. Sự tham gia quản lý của công đoàn chính là hoạt động thiết thực
bảo vệ lợi ích trước mắt và lâu dài của công nhân, viên chức lao động, của tập
mọi thời kỳ. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Công đoàn Việt Nam đã đặt
hoạt động của mình dưới sự lãnh đạo của Đảng. Điều lệ Công đoàn Việt Nam
năm 2003 đã ghi rõ: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kể từ
ngày thành lập đến nay, Công đoàn Việt Nam đã tổ chức, vận động công nhân,
viên chức lao động đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của tổ
quốc, vì hạnh phúc của người lao động”6.
Hoạt động công đoàn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng là một tất yếu khách
quan và đây cũng là nguyên tắc hoạt động ở mọi cấp công đoàn. Nếu phủ nhận
nguyên tắc này là phủ nhận công đoàn về bản chất cách mạng. Nguyên tắc này
còn đóng vai trò thúc đẩy hiệu quả của hoạt động công đoàn và làm cho tổ
chức công đoàn ngày càng vững mạnh, có vị trí vững chắc trong hệ thống
chính trị - xã hội.
Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động tức là đảm bảo hoạt
động công đoàn luôn theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách, công tác tổ
chức cán bộ của Đảng. Đồng thời, công đoàn còn vận dụng chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng vào chương trình hoạt động của mình và
thường xuyên tranh thủ sự lãnh đạo của Đảng thông qua việc thông báo tình
hình và kết quả hoạt động.
Các cấp công đoàn cần kiện toàn bộ máy tổ chức của mình, cơ cấu ban
chấp hành công đoàn cần có người là đảng viên có uy tín, có năng lực công tác.
Cần có cán bộ công đoàn là đảng viên ưu tú tham gia cấp ủy. Như vậy, tổ chức
công đoàn mới nâng cao hiệu quả công tác và luôn đi đúng đường lối của
Đảng, thực hiện tốt các chức năng của mình, đồng thời làm tốt vai trò là sợi dây
nối liền Đảng với quần chúng.
6
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2003), Điều lệ công đoàn, NXB. Lao động, trang 3.
chúng, nhu cầu, nguyện vọng, những ý nghĩ thực sự của họ... Biết chiếm được
7
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2002), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 15.
18
lòng tin cậy vô bờ bến của quần chúng bằng một thái độ hữu ái đối với họ
bằng cách quan tâm thỏa đáng những nhu cầu của họ8.”
Ba là, đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng. Tính tự nguyện của quần
chúng trong hoạt động công đoàn thể hiện ở chỗ người đoàn viên tự nguyện
gia nhập tổ chức công đoàn, tham gia hoạt động, thực hiện các nhiệm vụ được
giao trên cơ sở nhận thức được trách nhiệm và lợi ích công việc của mình.
Đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng trong hoạt động công đoàn có
nghĩa là không nên gò ép đoàn viên tham gia hoạt động. Vấn đề này trở thành
nguyên tắc hoạt động của công đoàn vì công đoàn là tổ chức do viên chức và
NLĐ tự nguyện tham gia và hoạt động vì lợi ích của chính họ. Nếu phủ nhận
nguyên tắc này là phủ nhận vấn đề hết sức cơ bản thuộc về bản chất của tổ chức
công đoàn. Trong hoạt động công đoàn, tính tự nguyện của quần chúng là động
lực thực sự để khơi dậy lòng nhiệt tình tham gia hoạt động của đoàn viên. Để
phát huy được tính tự nguyện của quần chúng, người cán bộ công đoàn cần có
lòng tin thực sự ở mỗi NLĐ. Trước khi làm việc gì dù lớn hay nhỏ, cũng cần
phải có sự giải thích hay giáo dục, thuyết phục làm cho mỗi đoàn viên hiểu ý
nghĩa và trách nhiệm trong mỗi công việc mà họ có nghĩa vụ hoàn thành.
Trong hoạt động công đoàn hiện nay, nguyên tắc này càng được đề cao.
Bởi lẽ, xã hội càng phát triển thì trình độ nhận thức của NLĐ ngày càng được
nâng lên. Một khi họ đã nhận thức được vấn đề thì họ sẽ tự nguyện, tự giác
tham gia các hoạt động do công đoàn tổ chức. Muốn vậy, những hoạt động của
các cấp thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách nghị quyết
thông qua đa số.
- Nghị quyết của công đoàn cấp trên phải được thi hành nghiêm chỉnh.
Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên.
- Ban chấp hành công đoàn các cấp có trách nhiệm báo cáo về hoạt động
của mình với đại hội công đoàn cùng cấp và với công đoàn cấp trên, thông báo
kết quả hoạt động của công đoàn cấp dưới. CĐCS định kỳ thông báo công việc
với các công đoàn bộ phận, các tổ công đoàn trực thuộc9.
Như vậy, tập trung dân chủ trong hoạt động công đoàn là sự kết hợp đúng
đắn giữa người cán bộ với đoàn viên công đoàn, giữa chủ trương và hành động.
Đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, đồng thời phát huy tính tích cực sáng
tạo của mỗi thành viên trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ mục tiêu của mình
với mục tiêu xây dựng tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh.
9
Hà Nội.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2005), Tài liệu bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở, Nxb. Lao động,
20
1.2.2. Cơ cấu tổ chức của Công đoàn Việt Nam
Cơ cấu tổ chức là vấn đề cơ bản nhất trong công tác tổ chức. Cơ cấu tổ
chức phản ánh sự phân công lao động trong một tổ chức, hoặc là sự phân bổ
nhiệm vụ của bộ máy tổ chức cho các cơ sở tổ chức trực thuộc. Khi nhìn vào
cơ cấu bộ máy tổ chức đó có thể thấy được các nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức,
trên cơ sở đó mà phân biệt tổ chức này với tổ chức khác.
Cơ cấu tổ chức còn phản ánh mối quan hệ công tác giữa các bộ phận cấu