tóm tắt luận án tiến sĩ đánh giá hiệu quả rừng trồng keo lai (acacia mangium x a. auriculiformis) ở một số vùng sinh thái tại việt nam - Pdf 22

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Keo lai là tên gọi chung của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (A.
mangium) với Keo lá tràm (A. auriculiformis). Keo lai tự nhiên ở Việt Nam được
Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng phát hiện từ đầu những năm 1990 và đã tiến
hành chọn lọc, nhân giống và khảo nghiệm từ năm 1993 tại Ba Vì. Keo lai là cây
sinh trwongr nhanh, có khả năng cố định đạm và khả năng cải tạo đất cao hơn Keo tai
tượng và Keo lá tràm, phù hợp với điều kiện đất trống đồi núi trọc ở nước ta. Vì thế
Keo lai đang là nhóm cây có diện tích trồng rừng lớn nhất ở nước ta những năm gần
đây.
Sau phát hiện và nghiên cứu nhiều mặt về Keo lai của Lê Đình Khả, đến nay
đã có nhiều nghiên cứu khác về Keo lai như nghiên cứu bổ sung kỹ thuật, xác định
tiêu chuẩn phân chia lập địa trồng rừng Keo lai… Tuy vậy, vẫn chưa có nghiên cứu
về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của cây Keo lai. Trên thực tế chủ yếu các
tác giả mới quan tâm đến khảo nghiệm giống, kỹ thuật trồng, hiệu quả kinh tế mà ít
quan tâm đến hiệu quả xã hội và môi trường một cách toàn diện.
Đề tài “Đánh giá hiệu quả của rừng trồng Keo lai ở một số vùng sinh thái
tại Việt Nam” được đặt ra nhằm mục đích đánh giá tổng thể thực trạng gây trồng,
cũng như hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và đề xuất một số giải pháp phù hợp
góp phần phát triển trồng rừng Keo lai ở nước ta.
2. Mục tiêu của đề tài
a) Về mặt lý luận: Góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho việc đánh giá hiệu quả (kinh
tế, xã hội và môi trường) của rừng trồng Keo lai.
b) Về mặt thực tiễn:
- Đánh giá được kỹ thuật trồng rừng Keo lai ở một số vùng sinh thái trên cơ sở
điều tra, đánh giá hiện trạng rừng trồng Keo lai;
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của rừng trồng Keo lai ở
một số vùng sinh thái của Việt nam;
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm phát triển cây Keo lai phù hợp với điều
kiện kinh doanh rừng bền vững hiện nay ở nước ta.

- Đặc tính sinh trưởng nhanh về đường kính, chiều cao và hình khối (thân cây
thẳng đứng, cành nhánh nhỏ, sức khỏe tốt), biên độ sinh thái rộng (được trồng ở
nhiều vùng sinh thái của nước ta: Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ,
Duyên Hải Miền Trung và Đông Nam Bộ).
- Khả năng sinh trưởng, chống chịu sâu bệnh hại tốt, có khả năng thích ứng với
nhiều điều kiện lập địa và các loại đất khác nhau.
- Keo lai còn có tác dụng cải tạo đất, cải tạo môi trường thông qua khả năng cố
định đạm, hấp thụ carbon và lượng cành khô rụng hàng năm trả lại cho đất lượng chất
hữu cơ đáng kể.
- Rừng trồng Keo lai cũng được đánh giá là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế
cao, nhanh thu hồi vốn, thời gian sinh trưởng ngắn hơn các loài cây trồng rừng khác
(từ 5 đến 7 năm đã được khai thác).
1.2. Tình hình nghiên cứu về Keo lai
1.2.1. Trên thế giới
Theo Lê Đình Khả (1999) các nghiên cứu về Keo lai trên thế giới là rất hạn chế.
Từ những năm 1980 đến nay, Keo lai đã được phát hiện, đã có một số công trình
nghiên cứu về Keo lai và tập trung chủ yếu vào công tác khảo nghiệm, chọn giống
Keo lai sinh trưởng nhanh.
Tuy trên thế giới đã có một số tác giả nghiên cứu về giống Keo lai tự nhiên,
nhưng đến nay luận án chưa cập nhật được các nghiên cứu được công bố về đánh giá
hiệu quả kinh tế, môi trường cũng như hiệu quả xã hội của cây Keo lai.
1.2.2. Ở Việt Nam
Ở nước ta hiện nay đã có một số nghiên cứu về điều kiện gây trồng cây keo lai Lê
Đinh Khả, Đỗ Đình Sâm, Phạm Thế Dũng, nghiên cứu về cải thiện giống của
Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh, Lê Đình Hải, Lưu Bá Thịnh…, nghiên cứu về
3
đặc điểm sinh trưởng Keo lai của Triệu Văn Hùng, Nguyễn Huy Sơn, Đoàn
Hoài Nam, nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật lâm sinh trồng rừng Keo lai của
Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh, Đỗ Đình Sâm, Phạm Thế Dũng…, nghiên cứu
về ảnh hưởng của mật độ, biện pháp tỉa cành đến sinh trưởng của Keo lai của

Chợ Mới - Bắc Kạn BV10
Cam Lộ - Quảng Trị Keo lai hạt, BV10, BV16, BV32
Phù Mỹ - Bình Định BV10, BV16, BV32, BV33, TB11
M'Đrắc - Đắc Lắk TB1, TB5, TB11, BV10
Bàu Bàng - Bình Dương TB11, TB12, BV10, BV32, BV33, AH
2.2.2. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu:Một số lâm phần trồng Keo lai 6-7 tuổi điển hình ở một số
vùng sinh thái ở Việt Nam.
4
-Giới hạn:
- Đề tài đánh giá thực trạng trồng và sinh trưởng của một số giống Keo lai với
luân kỳ kinh doanh 6 – 7 năm trồng ở một số vùng sinh thái của nước ta.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của một số giống Keo lai trồng ở một số
vùng sinh thái của nước ta.
- Hiệu quả môi trường đề tài chỉ tập trung vào đánh giá trữ lượng carbon của cây
Keo lai, thảm mục rơi rụng.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp tổng quát
•Quan điểm và phương pháp luận
Để phát triển trồng rừng sản xuất nói chung và Keo lai nói riêng, chúng ta cần
phải có cách tiếp cận tổng hợp theo chuỗi hành trình của sản phẩm từ khâu tạo
nguyên liệu cho tới khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.3.2.1. nghiên cứu trong phòng
- Sử dụng các kết quả nghiên cứu về Keo lai ở Việt Nam có liên quan đến đề tài.
- Tham khảo các số liệu về đất đai, tài nguyên, kết quả trồng rừng Keo lai ở các
vùng nghiên cứu.
2.3.2.2. Khảo sát hiện trường
1. Đánh giá thực trạng trồng, sinh trưởng của rừng trồng Keo lai
• Lựa chọn địa điểm nghiên cứu

Áp dụng các phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp để xử lý và
phân tích số liệu với sự trợ giúp của các phần mềm chuyên dụng như: SPSS, Excel:
* Thể tích thân cây (V) được tính theo công thức V= G.H.f (2.4)
Trong đó: G là tiết diện ngang ở vị trí 1,3m (m
2
)
H là chiều cao vút ngọn (m)
f là hệ số hình thân (f=0,5)
* Lượng lâm phần (M) được tính theo công thức:

=
=
n
i
i
VM
1
(m
3
/ha) (2.5)
* Tăng trưởng bình quân chung về Lượng:
A
M
o
A
M
=∆
(2.6)
Trong đó
o

Địa điểm
Yếu tố lập địa
Thực bì Độ dốc
Độ dầy tầng
đất (cm)
Loại đất
6
Chợ Mới - Bắc
Kạn
Trơ trọi, cỏ lông lợn 15-20
0
60-120 Fs
Cam Lộ - Quảng
Trị
Cỏ tranh, cỏ mỹ, tế
guột
14-25
0
75-100 Fs
Phù Mỹ-Bình Định Tế guột, cỏ tranh 10-15
0
80-100 Xp, Fp
M'Đrắc-Đắc Lắk
Cỏ tranh, cỏ mỹ, cây
bụi thấp
10 -18
0
70 – 100 Fs, Fa
Bàu Bàng - B.
Dương

giống từ 3 -4 tháng tuổi, nguồn gốc giống rõ ràng, đã được cấp giấy chứng nhận là
giống đạt tiêu chuẩn. Bên cạnh đó giống Keo lai hạt ở Quảng Trị không đạt tiêu
chuẩn.
3.1.3. Kỹ thuật trồng, chăm sóc
3.1.3.1. Kỹ thuật trồng
Hầu hết tất cả các nơi trồng rừng đúng kỹ thuật như xử lý thực bì, đào hố, mùa
vụ trồng, bón phân, chăm sóc, quản lý, bảo vệ đều tốt, nhưng vẫn còn một số nơi
người dân trồng chưa đúng kỹ thuật như ở Cam Lộ Quảng Trị, Phù Mỹ Bình Định,
trồng không đúng kỹ thuật ảnh hưởng đến năng suất của rừng trồng.
3.1.4. Sinh trưởng và năng suất của rừng trồng Keo lai
3.1.4.1. Sinh trưởng và năng suất của rừng Keo lai ở Chợ Mới – Bắc Kạn vùng
Đông Bắc
7
Ở vùng Đông Bắc, đề tài khảo sát Keo lai giống BV10 được trồng ở xã Nông
Thịnh, huyện Chợ Mới - Bắc Kạn. Mật độ ban đầu trồng khoảng 1660 cây/ha, sau 7
năm, mật độ còn lại dao động từ 1100 cây đến 1250 cây, trung bình là 1200 cây/ha.
Kết quả tính toán như sau, tăng trưởng bình quân chiều cao năm đạt từ 2,18 đến
2,50cm/năm, trung bình là 2,37m, hệ sô biến động từ 9,37% đến 15,14%, trung bình
là 11,04%, tăng trưởng đường kính trung bình năm từ 1,93 – 2,27 m/năm, trung bình
là 2,06m/năm, hệ số biến động từ 5,67% đến 12,53%, trung bình là 9,67%, tăng
trưởng về năng suất hàng năm là từ 18,16m
3
– 28,80m
3
, trung bình là
23,04m
3
/ha/năm.
3.1.4.2. Sinh trưởng và năng suất của rừng Keo lai ở Cam Lộ - Quảng Trị vùng Bắc
Trung Bộ

BV10, BV16, BV32, BV33 và TB11 được trồng ở xã Mỹ Trinh, huyện Phù Mỹ, tỉnh
Bình Định. Mật độ hiện tại dao động từ 1200 cây đến 1450 cây, độ che phủ của rừng
khoảng 65-70%.
Sinh trưởng về chiều cao tương đối đồng đều, dao động từ 16,7m đến 17,7m,
trung bình là 17,2m, hệ số biến động dao động từ 7,2% đến 11,3%, trung bình là
9,2%, hệ số biến động đó là không lớn.
Sinh trưởng về đường kính cũng không chênh lệc nhau nhiều, dao động từ
11,1cm đến 12,23cm, trung bình của 5 giống keo là 11,6cm. Hệ số biến động từ 10,2
đến 19%, trung bình là 15,7%, giống BV10, BV32 có hệ số biến động cao nhất là
19%, giống TB11 có hệ số biến động thấp nhất là 10,2%.
Năng suất thực tế dao động từ 16,9m
3
/ha/năm – 18,7m
3
/ha/năm, trung bình là
17,8m
3
/năm.
8
Tóm lại, năng suất giống BV33 cao nhất đạt 18,7m
3
/ha/năm, thấp nhất là giống
BV32 đạt 16,9m
3
/ha/năm.
3.1.4.4. Sinh trưởng và năng suất của rừng Keo lai ở M;Đrắc – Đắc Lắk vùng Tây
Nguyên
Ở vùng Tây Nguyên, đề tài tiến hành khảo sát 4 giống Keo lai là TB1, TB11,
TB5 và BV10 6 tuổi ở Công ty Lâm nghiệp M'Đrắc - Đắc Lắk. Mật độ trồng ban đầu
là 1660 cây, mật độ hiện tại từ 1250 – 1350 cây/ha, trung bình là 1292 cây/ha.

sinh trưởng chiều cao không chênh lệch nhau nhiều, dao động từ 3,96% đến 8,52%,
trung bình là 6,67%. Trong số đó hệ số biến động của giống AH là 8,52% lớn nhất,
giống BV33 nhỏ nhất là 3,96%.
Sinh trưởng về đường kính tương đối đều nhau dao động từ 13,39cm –
14,74cm/7 năm. Trong các giống khảo sát thì giống BV10 là có sinh trưởng đường
kính trung bình lớn nhất đạt 14,74cm, bên Kạnh đó giống AH có sinh trưởng đường
kính trung bình là thấp nhất đạt 13,39cm. Hệ số biến động về sinh trưởng đường kính
trung bình từ 3,41% đến 8,71%, trung bình là 7,62%. Trong đó, hệ số biến động của
giống BV10 lớn nhất là 8,71%, tiếp theo là giống AH là 8,58%, thấp nhất là giống
BV33 đạt 4,41%.
Năng suất dao động từ 22,21 – 32,51m
3
/ha/năm, trung bình là 24,91m
3
/ha/năm,
năng suất giống BV10 cao nhất đạt 32,51m
3
/ha/năm, thấp nhất là giống TB11 đạt
22,21m
3
/ha/năm.
3.1.5. Trữ lượng carbon của rừng Keo lai
3.1.5.1. Chợ Mới – Bắc Kạn vùng Đông Bắc
a, Trữ lượng carbon của cây cá thể Keo lai
9
Ở vùng Đông Bắc, đề tài khảo sát 3 lô rừng trồng Keo lai ở xã Nông Thịnh, huyện
Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Ở mỗi lô rừng đề tài thiết lập 3 ô tiêu chuẩn (OTC), mỗi ô
tiêu chuẩn giả tích 3 cây điển hình như tốt, trung bình và nhỏ để tiến hành giải tích
cây xác định trữ lượng carbon trong từng bộ phận của cây.
Trong cây cá thể Keo lai lượng carbon tập trung chủ yếu ở thân cây và dao

giữ của từng cá thể Keo lai chủ yếu tập trung vào thân, lá, rễ và thấp nhât là cành.
b, Tổng lượng carbon của rừng trồng Keo lai ở Quảng Trị
Lượng carbon chủ yếu tập trung trong sinh khối cây dao động từ 51,08 tấn/ha
đến 79,08 tấn/ha, trung bình là 67,77 tấn/ha chiếm tới 94,74%. Trong đó giống TB16
có lượng carbon lớn nhất đạt 79,08 tấn/ha, thấp nhất là giống Keo lai hạt đạt 51,08
tấn/ha. Thảm mục rơi rụng của rừng trồng Keo lai ở Quảng Trị chủ yếu là lá và một ít
10
cành khô. Ở bảng trên trữ lượng carbon của thảm mục ở rừng trồng Keo lai dao động
từ 3,36 tấn đến 4,62 tấn/ha, trung bình là 3,77 tấn/ha chiếm 5,26% lượng hấp thụ
carbon/ha.
3.1.5.3. Phù Mỹ - Bình Định vùng Duyên hải miền Trung
a, Lượng carbon trong cây cá thể Keo lai
Ở vùng Duyên hải miền Trung đề tài tính trữ lượng carbon của các giống Keo
lai là BV10, Bv16, BV32, BV33 và TB11. Lượng carbon tập trung chủ yếu ở thân
cây, trong 5 giống Keo lai khảo sát thì lượng hấp thụ của thân cây Keo lai là lớn nhất,
dao động từ 29,10 kg/cây – 33,55 kg/cây, trung bình là 31,46 kg/cây, chiếm 61,64%;
tiếp đến là trữ lượng carbon trong lá cây dao động từ 9,52 – 11,96 kg/cây, trung bình
là 10,63 kg/ cây, chiếm 20,84%; lượng carbon trong rễ dao động từ 5,17 – 6,31
kg/cây, trung bình là 5,66 kg/cây, chiếm 11,09% tổng trữ lượng carbon của cây Keo
lai cá thể; và thấp nhất là lượng carbon trong cành cây dao động từ 3,05 – 3,55
kg/cây, trung bình là 3,28 kg/cây, chiếm 6,43%.
b, Lượng carbon của rừng trồng Keo lai ở Phù Mỹ - Bình Định
Thảm mục rơi rụng của rừng trồng Keo lai ở Bình Định chủ yếu là lá khô rụng
và cành khô. Lượng carbon của thảm mục của rừng trồng Keo lai dao động từ 3,71
tấn/ha – 6,06 tấn /ha, trung bình là 4,69 tấn/ha chiếm 6,35%. Lượng carbon trong
cây Keo lai lớn dao động từ 63,61 tấn/ha đến 75,20 tấn/ha, trung bình là 69,15 tấn/ha
chiếm 93,65%. Tổng trữ lượng carbon của rừng trồng Keo lai ở Bình Định dao động
từ 68,94 tấn đến 78,07 tấn/ha, trung bình là 73,84 tấn/ha. Trong số đó giống BV32 là
có lượng carbon lớn nhất đạt 78,07 tấn/ha, thấp nhất là giống TB11 đạt 68,94 tấn/ha.
3.1.5.4. M’Đrắc – Đắc Lăk vùng Tây Nguyên

trong cành cây dao động từ 2,78- 3,3kg/cây, trung bình là 3,07kg/cây, chiếm 5,99%.
b, Lượng carbon của rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam bộ
Lượng carbon trong thảm mục rơi rụng của rừng trồng Keo lai 7 tuổi ở vùng
Đông Nam Bộ dao động từ 4,07 tấn /ha đến 5,51 tấn/ha, trung bình 4,87 tấn/ha
chiếm 6,68% lượng carbon của rừng trồng Keo lai. Tổng Lượng carbon của cây Keo
lai dao động từ 63,04 tấn đến 74,41 tấn/ha, trung bình là 68,12 tấn/ha chiếm 93,32%.
Tổng lượng carbon/ha của rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam dao động từ
64,12 tấn đến 76 tấn/ha, trung bình 69,71 tấn/ha.
Nhận xét chung
Trữ lượng carbon của rừng trồng các giống Keo lai ở các địa bàn nghiên cứu là
khác nhau. Trữ lượng carbon của thảm mục dao động từ 2,11 tấn/ha đến 6,06 tấn/ha,
trung bình là 4,44 tấn/ha chiếm 6,09%.
Trữ lượng carbon của cây keo lai trên 1ha là chủ yếu, dao động từ 51,08 tấn/ha
đến 79,52 tấn/ha, trung bình là 68,98 tấn/ha chiếm 93,91%.
Nếu thị trường carbon được hình thành thì thu nhập của rừng trồng Keo lai sẽ
được tăng lên tùy thuộc vào giá cả của thị trường.
3.1.6. Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong trồng rừng Keo lai
Trong quá trình trồng rừng Keo lai có những thuận lợi và khó khăn:
•Thuận lợi
Keo lai cũng như các loài cây khác đều đòi hỏi một điều kiện đất đai, khí hậu
thích hợp để có thể thích ứng sinh trưởng và phát triển tốt nhất.
Điều kiện tự nhiên ở nước ta thích hợp cho việc trồng rừng Keo lai.
Cây Keo lai sinh trưởng nhanh, thị trường tiêu thụ rộng lớn, phục vụ cho ngành
công nghiệp giấy, ván dăm và xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân,
đặc biệt là miền núi.
Nguồn giống thì sẵn có, chất lượng giống tốt, kỹ thuật trồng đơn giản, hiện nay
rất nhiều người dân nắm được kỹ thuật trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng Keo lai.
•Khó khăn
Địa hình trồng rừng Keo lai nhìn chung là khó khăn, xa xôi, độ dốc cao khó cho
việc chăm sóc, bảo vệ.

3
/ha, gỗ sử dụng là 120,96 m
3
/ha
-
Gỗ nhỏ 84,67m
3
/ha chiếm 30% gỗ thành phẩm, giá bán 750.000đồng/m
3
-
Gỗ lớn 36,29 chiếm 70% gỗ thành phẩm, giá bán 1500.000 đồng/m
3
Luân kỳ 10 năm: Sản phẩm gồm gỗ tỉa thưa, gỗ lớn và gỗ nhỏ, sản lượng gỗ là 230
m
3
/ha, gỗ sử dụng là 172,83m
3
/ha
- Gỗ tỉa thưa bán làm củi, giá từ 1500.000 – 200.000 đồng/ ste đôi
- Gỗ nhỏ chiếm 60%, giá bán là 750.000 đồng/m
3
.
- Gỗ lớn chiếm 40%, giá bán là 1500.000 đồng/m
3
.
Ngoài gỗ ra, rừng trồng Keo lai còn có giá trị cải thiện môi trường, xã hôi như lưu
giữ lượng carbon, giảm xói mòn, giữ nước và tạo được nhiều công ăn việc làm cho
người dân làm nghề rừng
b)Cam Lộ - Quảng Trị
Luân kỳ 5 năm: sản phẩm bao gồm

- Gỗ lớn chiếm 30% gỗ thành phẩm, giá bán 1500.000đồng/m
3
- Gỗ nhỏ chiếm 70% gỗ thành phẩm, giá bán tại bãi 1 là 750.000 đồng/m
3
Luân kỳ 10 năm: Sản phẩm bao gồm gỗ tỉa thưa, gỗ lớn và gỗ nhỏ
-
Gỗ lớn chiếm 30% gỗ thành phẩm, giá bán 1500.000đồng/m
3
-
Gỗ nhỏ chiếm 70% gỗ thành phẩm, giá bán tại bãi 1 là 750.000 đồng/m
3
Ngoài gỗ ra, rừng trồng Keo lai còn có giá trị cải thiện môi trường, xã hôi như hấp
thụ lượng carbon, giảm xói mòn, giữ nước và tạo được nhiều công ăn việc làm cho
người dân làm nghề rừng
d) M’Đrắc – Đắc Lắk
Luân kỳ 5 năm: Sản phẩm bao gồm
-Gỗ tỉa thưa bán làm củi, giá từ 150.000 – 200.000 đồng/ste đôi
Gỗ khai thác chính: gồm gỗ thành phẩm chiếm 70% Lượng cây đứng giá bán
750.000 đồng/m
3
Luân kỳ 7 năm: Sản phẩm bao gồm gỗ tỉa thưa, gỗ lớn và gỗ nhỏ
- Gỗ lớn chiếm 30% gỗ thành phẩm, giá bán 1500.000đồng/m
3
- Gỗ nhỏ chiếm 70% gỗ thành phẩm, giá bán tại bãi 1 là 750.000 đồng/m
3
Luân kỳ 10 năm: Sản phẩm bao gồm gỗ tỉa thưa, gỗ lớn và gỗ nhỏ
-
Gỗ lớn chiếm 30% gỗ thành phẩm, giá bán 1500.000đồng/m
3
-

3.3. Đánh giá hiệu quả rừng trồng Keo lai ở nước ta
3.3.1. Hiệu quả kinh tế
3.3.1.1. Chợ Mới – Bắc Kạn vùng Đông Bắc
Doanh thu của mô hình trồng rừng BV10 với luân kỳ kinh doanh 5 năm là 65,8
triệu đồng, luân kỳ 7 năm là 118,936 triệu đồng, luân kỳ 10 năm là 182,47 triệu
đồng/ha.
Chi phí luân kỳ 5 năm là 25,71 triệu đồng/ha, luân kỳ 7 năm là 29,136 triệu
đồng/ha, luân kỳ 10 năm là 34,28 triệu đồng/ha.
Lợi nhuận ròng luân kỳ 10 năm là 57,94 triệu đồng/ha, luân kỳ 7 năm đạt
45,216 triệu đồng/ha và luân kỳ 5 năm chỉ đạt 22,83 triệu đồng/ha. Lợi nhuận ròng
của mô hình 10 năm cao gấp 1,3 lần luân kỳ 7 năm và 2,5 lần luân kỳ 5 năm.
Tỷ suất thu hồi vốn nội tại IRR cũng khác nhau, phụ thuộc vào thu nhập, chi
phí và thời gian kinh doanh rừng trồng. IRR của 10 năm đạt 30,2%, 7 năm đạt 38,6%
và luân kỳ 5 năm đạt 39,5%.
Hiệu suất đầu tư BCR của luân kỳ kinh doanh 5 năm là 2,6 và luân kỳ 7 năm là
4,1 và 10 năm 5,32 .
3.3.1.2. cam lộ - Quảng Trị vùng Bắc Trung Bộ
Chi phí 1ha rừng trồng ở Cam Lộ Quảng Trị với luân kỳ 5 năm khoảng 25 triệu
đông/ha, luân kỳ 7 năm khoảng 29 triệu đồng, luân kỳ 10 năm khoảng 34 triệu
đồng/ha, Keo lai hạt thấp nhất với luân kỳ 7 năm là 15,6 triệu đồng/ha.
Doanh thu ở luân kỳ 5 trong khoảng 61,1 – 62,9 triệu đồng/ha, luân kỳ 7 năm
trong khoảng110,6 – 113,9 triệu đồng/ha, luân kỳ 10 năm trong khoảng 169,6 – 174,6
triệu đồng/ha, Keo lai hạt với luân kỳ 7 năm là 47 triệu đồng/ha.
Lợi nhuận ròng (NPV) luân kỳ 5 năm trong khoảng 20 – 21 triệu đồng/ha, luân
kỳ 7 năm trong khoảng 40,3 – 41,9 triệu đồng/ha, luân kỳ 10 năm trong khoảng 52-54
triệu đồng/ha. Keo lai hạt là 15 triệu đồng/ha/7 năm.
Tỷ suất hoàn vốn nội tại (IRR) cũng khác nhau, luân kỳ 5 năm trong khoảng
36,7 – 37,7%, luân kỳ 7 năm trong khoảng 35,6 - 36,3%, luân kỳ 10 năm trong
khoảng 28%, Keo lai hạt là 32,2%.
Hiệu suất đầu tư BCR của rừng trồng Keo lai ở vùng Bắc Trung Bộ là khác

Ở vùng Tây Nguyên đề tài tiến hành khảo sát các giống Keo lai TB1,
TB11,TB5, BV10 được trồng ở M’Đrắk - Đắc Lắk.
Chi phí 1ha rừng trồng ở M’Đrắk - Đắc Lắk luân kỳ 5 năm trong khoảng 26,3
– 26,5 triệu đồng/ha, luân kỳ 6 năm trong khoảng 28 – 28,3 triệu đồng/ha, luân kỳ 10
năm trong khoảng 35 triệu đồng/ha.
Doanh thu từ 1ha rừng trồng ở M’Đrắk - Đắc Lắk luân kỳ 5 năm trong khoảng
67,2 – 69,6 triệu đồng/ha, luân kỳ 6 năm trong khoảng 104,4 – 107,9 triệu đồng/ha,
luân kỳ 10 năm trong khoảng 187,2-192,7 triệu đồng/ha.
Lợi nhuận ròng (NPV) luân kỳ 5 năm trong khoảng 23,4 – 24,8 triệu đồng/ha,
luân kỳ 7 năm trong khoảng 42 – 44 triệu đồng/ha, luân kỳ 10 năm trong khoảng
59,6-61,5 triệu đồng/ha, giống TB11 là cao nhất đạt 61,8 triệu đồng/ha/ luân kỳ kinh
doanh 10 năm, gấp 2,5 lần luân kỳ kinh doanh 5 năm. Thấp nhất giống TB5 với luân
kỳ 5 năm đạt 23,4 triệu đồng/ha.
Tỷ suất thu hồi vốn nội tại (IRR), luân kỳ 5 năm trong khoảng 39,8 – 41,2%,
luân kỳ 7 năm trong khoảng 44 – 45,2%, luân kỳ 10 năm khoảng 30,6% .
16
Chỉ số tỷ lệ thu nhập trên chi phí (BCR) luân kỳ 5 năm trong khoảng 2,56 –
2,62, luân kỳ 7 năm trong khoảng 3,73 – 3,81, luân kỳ 10 năm trong khoảng 5,33-
5,41.
Trong các giống Keo lai khảo sát, giống TB11 có NPV lớn nhất, thấp nhất là
giống TB5, như vậy trồng giống TB11 tối ưu nhất, sau đến là BV10 ở M’Đrắc – Đắk
Lắk.
3.3.1.5. Bầu Bàng – Bình Dương vùng Đông Nam Bộ
Ở vùng Đông Nam Bộ, đề tài khảo sát các giống Keo lai như TB11; TB12;
BV10; BV32; BV33 và AH trồng ở Bầu Bàng – Bình Dương.
Chi phí 1ha rừng trồng ở vùng Đông Nam Bộ luân kỳ 5 năm trong khoảng 25,9 –
29,5 triệu đồng/ha, luân kỳ 7 năm trong khoảng 29,2 – 34,3 triệu đồng/ha, luân kỳ 10
năm trong khoảng 34,1-41,4 triệu đồng/ha.
Doanh thu từ 1ha rừng trồng ở vùng Đông Nam Bộ luân kỳ 5 năm trong
khoảng 63 – 92,2 triệu đồng/ha, luân kỳ 7 năm trong khoảng 114,2 – 167,2 triệu

• Hầu hết các phương án trồng rừng Keo lai ở các vùng sinh thái trên cả nước
đều có lãi như đã chứng minh ở phần phân tích hiệu quả kinh tế.
• Chi phí đầu tư cho các phương án trồng rừng các giống Keo lai không lớn lắm,
tổng chi phí trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ 1 ha Keo lai từ năm thứ nhất đến năm
thứ 3 khoảng từ 12 – 17 triệu đồng, còn lại những năm sau có sản phẩm tỉa thưa và
tiền công bảo vệ.
• Luân kỳ kinh doanh của rừng trồng Keo lai ngắn hơn các loài cây khác khoảng
6-7 năm là đã khai thác. Do vậy, rừng trồng Keo lai nhanh cho thu hồi vốn
• Kỹ thuật gây trồng rừng Keo lai tương đối đơn giản, nhiều người dân biết
trồng, tỷ lệ sống cao, thích nghi tốt với nhiều vùng sinh thái ở nước ta, cây con có thể
tạo ra bằng hom, đơn giản và giá cây giống hợp lý với nhiều người dân nghèo.
• Thị trường tiêu thụ các sản phẩm chủ yếu của các giống Keo lai lớn, sản phẩm
chủ yếu phục vụ cho công nghiệp giấy, ván dăm, thậm chí còn làm đồ mộc và phục
vụ cho việc xuất khẩu dăm gỗ. Hiện nay, sản phẩm gỗ rừng trồng Keo lai tiêu thụ
thuận tiện và nhanh chóng, người dân sản xuất ra không đủ đáp ứng thị trường, có thể
bán sản phẩm ngay tại rừng
• Về mặt môi trường, cây Keo lai là cây trồng cố định đạm, do vậy trồng rừng
bằng các giống Keo lai tăng độ đạm của đất, cải tạo đất những nơi đất xấu.
3.3.2.2. Hiệu quả về việc nhận thức của người dân
Kết quả điều tra nghiên cứu cho thấy, rừng trồng Keo lai tác động lớn nhất tới
cộng đồng về nhận thức của người dân về hiệu quả của việc trồng rừng. Điều này
được khẳng định rất rõ qua kết quả phỏng vấn 75 hộ gia đình tham gia trồng rừng ở
địa điểm khảo sát, có tới 100% hộ nhận thức rõ việc trồng rừng đã cải thiện được
cuộc sống của người dân trồng rừng Keo lai trên địa bàn nghiên cứu.
Thông qua trồng rừng, nhận thức và kinh nghiệm trồng rừng của HGĐ cũng
được nâng cao. Qua khảo sát cho thấy có từ 66,67 đến 100% cảm nhận rõ, 6,67 đến
33,33% không cảm nhận rõ, đặc biệt không có một ai trả lời là không biết.
Qua khảo sát, có thể thấy tỷ lệ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào canh tác lâm
nghiệp, đặc biệt là trồng rừng Keo lai được thể hiện ở bảng trên, có từ 73,33% đến
93,33% trả lời là thông qua trồng rừng họ biết được ứng dụng kỹ thuật trồng rừng, số

được trình bày ở mục 3.1.5 của luận án.
3.3.4. Tổng Hợp hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường
• Ở Bắc Cạn: giống BV10, năng suất là 161,3m
3
/ha, NPV 45,21 triệu, công lao
động 309,5 công/ha, lượng carbon là 62,1 tấn/ha.
•Cam Lộ - Quảng Trị
Đề tài khảo sát 4 giống là BV10, BV16, BV32 và Keo lai hạt. Doanh thu của
giống BV16 với luân kỳ kinh doanh là lớn nhất đạt 113,9 triệu đồng/ha/7 năm, NPV
đạt 41,94 triệu đồng/ha, công lao động là 318,8/ha/7 năm, lượng carbon hấp thụ là
82,8 tấn/ha. Keo lai hạt có năng suất thấp nhất 82,54 m
3
/ha/7 năm, luân kỳ kinh
doanh 7 năm doanh thu thấp nhất đạt 47,03 triệu đồng/ha, NPV đạt 14,97 triệu
đồng/ha, công lao động là 217,6 và lượng carbon hấp thụ là 55,7 tấn/ha.
Kết quả khảo sát ở Quảng Trị cho thấy, năng suất, doanh thu, lợi nhuận ròng,
công lao động và lượng carbon hấp thụ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có nghĩa
là năng suất cao thì doanh thu lớn, lợi nhuận ròng cao, tạo ra nhiều công ăn việc làm
trực tiếp và hấp thụ được nhiều carbon. Ở Quảng Trị trồng Keo lai giống BV16 là tốt
nhất, sau đến giống BV10, BV32 và kém nhất là keo lai hạt.
• Phù Mỹ - Bình Định
Luân kỳ kinh doanh 7 năm, năng suất của các giống Keo lai khảo sát dao động
từ 116,44 m
3
– 137,55m
3
/ha, trung bình là 124,34m
3
/ha.
Doanh thu khác nhau, dao động từ 86,55 – 101,78 triệu đồng/ha, trung bình là 92,46

carbon hấp thụ là 78,9 tấn/ha. Thấp nhất là giống TB5, năng suất đạt 141,72 m
3
/ha,
doanh thu đạt 104,43 triệu đồng/ha, NPV đạt 42,04 triệu đồng/ha, công lao động đạt
296,2 và lượng carbon hấp thụ là 72,6 tấn/ha.
• Bầu Bàng – Bình Dương
Năng suất của các giống Keo lai khảo sát dao động từ 155,05 m
3
– 227,59m
3
/ha,
trung bình là 174,54m
3
/ha.
Doanh thu dao động từ 114,18 – 167,23 triệu đồng/ha, trung bình là 128,43 triệu
đồng/ha.
Lợi nhuận ròng (NPV) dao động từ 42,26 – 69,36 triệu đồng/ha, trung bình là
49,52 triệu đồng/ha, công lao động dao động từ 312,7 – 348,7/ha, trung bình là 332,3.
Lượng carbon hấp thụ dao động từ 67,5 – 79,8 tấn/ha, trung bình là 73 tấn/ha.
Giống BV10 là sinh trưởng tốt nhất, năng suất là 227,59 m
3
/ha/7 năm, doanh thu
là 167,23 triệu đồng/ha, NPV là 69,36 triệu đồng/ha, công lao động là 342,8 và lượng
carbon hấp thụ là 79,8 tấn/ha. Thấp nhất là giống AH, năng suất đạt 155,05 m
3
/ha,
doanh thu đạt 114,18 triệu đồng/ha, NPV đạt 42,26 triệu đồng/ha, công lao động đạt
332,7 và lượng carbon hấp thụ là 77,9 tấn/ha.
3.4. Đề xuất một số giải pháp khuyến khích phát triển trồng rừng Keo lai
3.4.1. Kỹ thuật

- Cần tăng cường cán bộ khuyến lâm trực tiếp xuống các thôn bản hướng dẫn kỹ
thuật trồng, chăm sóc, quản lý rừng Keo lai.
- Cần có nghiên cứu chuyển hóa rừng trồng keo lai với mục đích lấy gỗ nguyên
liệu thành gỗ lớn từ 10-15 tuổi.
3.4.2.3. Chính sách tiêu dùng và thị trường lâm sản
- Thí điểm các hình thức tổ chức kinh tế hợp tác giữa các chủ rừng Keo lai với
các doanh nghiệp chế biến để tăng thêm năng lực sử dụng rừng và khả năng tiếp cận
thị trường của các chủ rừng.
- Cần cung cấp thông tin thị trường gỗ Keo lai cho các chủ rừng, cần tổ chức
thu mua nguyên liệu gỗ rừng trồng Keo lai của dân hợp lý để khuyến khích người dân
trồng rừng nguyên liệu Keo lai.
- Cần chủ động dự báo được thị trường và nhu cầu thị trường tiêu thụ sản phẩm
theo các giai đoạn: ngắn – trung và dài hạn, cần có các đánh giá về rủi ro, thách thức
trong việc tiêu thụ sản phẩm cho toàn vùng.
- Đẩy mạnh liên doanh, liên kết với nước ngoài để có thể xuất khẩu sản phẩm gỗ
nguyên liệu Keo lai.
3.4.2.4. Chính sách về tài chính
• Chính sách đầu tư
-
Quyết định 147/2007/QĐ-TTg của chính phủ đã phần nào giúp đỡ người trồng
rừng có vốn để phát triển rừng sản xuất, nhưng thủ tục lại rườm rà, phải có
phương án trồng rừng, người dân khó có thể tiếp cận được với nguồn vốn hỗ
trợ. Do vậy, cần rà soát lại và cải tiến thủ tục để người dân có thể tiếp cận được
nguồn vốn hỗ trợ từ Nhà nước.
21
-
Cần có chính sách đầu tư trồng rừng cho người dân vùng sâu, vùng xa như
Nghị Quyết 30a của chính phủ, hỗ trợ đầu tư trồng rừng Keo lai cho những
người dân nghèo từ 7- 10 triệu đồng/ha
-

/ha/năm. Các giống trồng ở miền
Bắc là BV10, BV16, BV32, BV33 có thể đạt từ 18 đến 25m
3
/ha/năm.
Những giống được trồng nhiều nhất ở các địa phương là BV10, BV16, BV32,
BV33, TB1, TB5, TB11, TB12.
Trong các giống trên, giống BV10, BV33 trồng ở vùng Đông Nam Bộ cao nhất
đạt 32,51 và 25,32m
3
/ha/năm.
Keo lai hạt ở vùng Bắc Trung Bộ có năng suất rất thấp, chỉ đạt 11,5m
3
/ha/năm,
trong khi đó các giống như BV10, BV16 có năng suất cao hơn nhiều cụ thể BV10 là
21,6m
3
/ha/năm, BV16 là 23m
3
/ha/năm.
Các giống trồng ở vùng Duyên hải miền Trung có năng suất thấp nhất, bởi vì
người dân trồng rừng chưa đúng quy trình kỹ thuật, đặc biệt là không bón phân, chất
lượng giống chưa tốt.
3. Hấp thụ carbon
22
Lượng hấp thụ carbon của thảm mục trong rừng trồng dao động trong khoảng
2,11 - 6,06 tấn/ha, trung bình là 4,44 tấn/ha chiếm 5,93% tổng lượng carbon được hấp
thu trên rừng trồng keo lai.
Lượng hấp thụ carbon của cây keo lai dao động trong khoảng 51,08-87,84
tấn/ha, trung bình là 71,08 tấn/ha, chiếm 94,07% tổng lượng carbon được hấp thu trên
rừng trồng keo lai.

lớn hơn khoảng 29,45 triệu đồng/ha.
4.2. Lợi nhuận ròng (NPV)
Lợi nhuận ròng của giống Keo lai khảo sát phụ thuộc vào thời gian, năng suất
rừng trồng, đầu tư và giá thị trường tiêu thụ sản phẩm.
-
Lợi nhuận ròng của luân kỳ 5 năm dao động trong khoảng 13 – 37,72 triệu
đồng/ha, trung bình là 19,45 triệu đồng/ha. Giống BV10 ở vùng Đông Nam Bộ có lợi
nhuận ròng cao nhất đạt 37,72 triệu đồng/ha, ở Tây Nguyên là 24,22 triệu đồng/ha, ở
23
vùng Đông Bắc là 22,83 triệu đồng/ha và ở vùng Duyên hải miền Trung thấp nhất là
13,1 triệu đồng/ha/5 năm.
-
Lợi nhuận ròng luân kỳ 7 năm dao động trong khoảng 15 – 69,36 triệu
đồng/ha, trung bình là 40 triệu đồng/ha. Giống BV10 ở Đông Nam Bộ cao nhất đạt
69,36 triệu đồng/ha, ở Đông Bắc là 45,2 triệu đồng/ha, Tây Nguyên là 43,245,2 triệu
đồng/ha, thấp nhất là ở Duyên hải miền Trung là 29,4 triệu đồng/ha.
-
Những giống Keo lai trồng ở vùng Đông Nam Bộ có lợi nhuận ròng cao nhất
như BV10 là 69,36 triệu đồng/ha, BV33 là 50,54 triệu đồng và BV32 là 45,75 triệu
đồng/ha, giống AH lại thấp nhất đạt 42,26 triệu đồng/ha.
-
Những giống trồng ở vùng Duyên hải miền Trung thấp nhất là giống BV16 là
37,11 triệu đồng, giống BV32 là 31,92 triệu đồng, giống BV33 là 29,9 triệu đồng/ha.
-
Keo lai hạt ở vùng Bắc Trung Bộ có lợi nhuận ròng thấp nhất là 15 triệu
đồng/ha/7 năm, bên cạnh đó các giống khác cao hơn nhiều như BV10 là 40,42 triệu
đồng/ha, BV16 là 41,94triệu đồng/ha, BV32 là 40,26triệu đồng/ha.
-
Lợi nhuận ròng của luân kỳ 7 năm cao hơn từ 1,6 – 2,2 lần luân kỳ 5 năm.
-

7. Chính sách
a. Chính sách đất đai:
Khi giao đất chưa rõ ràng về ranh giới, dẫn đến tình trạng tranh chấp đất đai
giữa các HGĐ, giữa người dân với các công ty quản lý đất lâm nghiệp ở các địa
phương.
b. Chính sách phát triển nguồn nhân lực - khuyến lâm
- Các hoạt động về phát triển nguồn nhân lực, khuyến lâm ở những điểm điều tra hiệu
quả chưa được cao, số lượng người dân được tham gia lớp tập huấn về khuyến lâm
còn hạn chế.
- Chưa có mô hình trồng rừng Keo lai gỗ lớn.
c. Chính sách đầu tư ,hưởng lợi- tín dụng
-Việc thực hiện chính sách đầu tư còn rất ít, hầu như người trồng rừng Keo lai ở các
vùng nghiên cứu chưa được hưởng chính sách đầu tư của Nhà nước. Người dân tự bỏ
vốn ra trồng nên chất lượng rừng còn nhiều hạn chế.
-Việc thực hiện chính sách tín dụng đối với trồng rừng nói chung và Keo lai còn
nhiều bất cập. Người dân hầu như không vay được vốn để trồng rừng Keo lai mà phải
vay vốn với hình thức khác, thời hạn vay rất ngắn, lượng vay ít, lãi suất cao theo lãi
suất thương mại.
d. Thị trường
Thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ lớn, nhưng người dân thiếu các thông tin về thị
trường, nhất là thị trường xuất khẩu.
2. Tồn tại
Do thời gian, và nguồn lực còn hạn chế nên luận án chưa thể đánh giá tổng thể
hiệu quả kinh trồng rừng Keo lai ở các cấp đất khác nhau trên các vùng sinh thái của
Việt Nam. Luận án chưa đánh giá được tổng thể hiệu quả môi trường như:
- Chưa tính toán được lượng hấp thụ carbon của đất, cây nụi thảm tươi của các lâm
phần trồng rừng Keo lai.
- Chưa đánh giá được hiệu quả giữ nước, bảo vệ đất, giảm xói mòn và cải tạo đất của
rừng trồng Keo lai ở các cấp đất, cấp tuổi khác nhau.
3. Khuyến nghị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status