tóm tắt luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả điều trị tẩy trắng răng sống nhiễm sắc tetracycline - Pdf 24

1
A. GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
ĐẶT VẤN ĐỀ
Răng bị nhiễm sắc chiếm một tỷ lệ khá cao (86,9%) trong cộng đồng, trong
đó răng bị nhiễm sắc tetracycline là 22,86% và tỷ lệ này hay gặp nhiều nhất ở
lứa tuổi trung niên. Biểu hiện răng nhiễm sắc tetracycline là sự thay đổi màu
sắc trầm trọng, chuyển sang màu vàng nâu, xanh hoặc xám sẫm, ảnh hưởng rất
nhiều đến thẩm mĩ gây mất tự tin trong cuộc sống.
Điều trị hàm răng nhiễm sắc tetracycline có nhiều phương pháp như trám
composite, mặt dán sứ, chụp sứ toàn phần. Phương pháp điều trị này đòi hỏi
bệnh nhân phải chịu đựng những thủ thuật nha khoa can thiệp xâm lấn mất
nhiều mô cứng của răng, tốn thời gian, chi phí cao và cần phải thay thế định kỳ.
Phương pháp điều trị ít xâm lấn mô cứng nhưng cũng mang lại sự thay đổi màu
sắc cho răng đó là tẩy trắng răng với sự trợ giúp hoạt hóa của ánh sáng lạnh.
Hiện nay ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu sâu, toàn diện trên lâm
sàng, thiết lập quy trình tẩy trắng an toàn trên cấu trúc hình thái bề mặt men
răng và đánh giá hiệu quả điều trị tẩy trắng răng sống nhiễm sắc tetracycline tại
phòng khám với việc trợ giúp hoạt hóa của ánh sáng, nhất là nguồn ánh sáng
lạnh còn rất ít. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành luận án: "Nghiên cứu hiệu
quả điều trị tẩy trắng răng sống nhiễm sắc tetracycline" với mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng răng nhiễm sắc tetracycline độ I, độ II ở những
bệnh nhân được tẩy trắng răng sống.
2. Đánh giá hiệu quả tẩy trắng răng sống nhiễm sắc tetracycline.
3. Đánh giá sự thay đổi cấu trúc hình thái bề mặt men răng dưới kính hiển vi
điện tử quét trên răng nhiễm sắc tetracycline sau tẩy trắng thực nghiệm.
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hàm răng của mỗi người ngoài chức năng ăn nhai, còn đóng một vai trò quan
trọng trong phát âm, giao tiếp cộng đồng và xã hội với nụ cười quyến rũ, làm
cho con người tự tin hơn. Có một hàm răng trắng đẹp là mong muốn của mọi
người, nhất là người có răng nhiễm sắc tetracycline. Đặc điểm lâm sàng răng
nhiễm sắc tetracycline độ I và II như thế nào, hiệu quả tẩy trắng răng nhiễm sắc

Khuôn hữu cơ: Men răng trưởng thành chứa chủ yếu là các proteine hòa tan và
không hòa tan cùng một lượng nhỏ carbonhydrate và chất béo. Nhiễm sắc răng
thường là các chất màu kết hợp với các acid béo, protein, trên bề mặt men chứa
các chuỗi liên kết kéo dài, xen kẽ liên kết đơn và liên kết đôi. Tẩy trắng răng đã
sử dụng nước oxy già (H
2
O
2
) để loại bỏ các protein này. Quan sát dưới kính
hiển vi điện tử quét, H
2
O
2
phân ly thành gốc tự do gây ra quá trình oxy hóa acid
béo và protein, phân cắt các chuỗi liên kết dài thành các nhánh nhỏ và protein
trên bề mặt men răng bị loại bỏ.
1.1.2. Quá trình trao đổi chất của men răng: Men răng có vai trò như một
màng thấm và trao đổi ion
1.2. Màu sắc răng và nguyên nhân nhiễm sắc
1.2.1. Màu sắc răng
Phổ màu Munsell: Hue (h) là thuộc tính cho phép phân biệt các họ màu; Value
(V) biểu thị độ nhạy hoặc độ sáng của một dải màu từ màu đen thuần túy đến
màu trắng thuần túy; Chroma (C) chỉ mức độ bão hòa của màu sắc và mô tả
cường độ, tính dữ dội hay tính chói của một màu.
Không gian màu CIE La*b*: Giá trị trục sáng tối (L) là một đơn vị đo độ sáng
của đối tượng (L: 0 - 100); Giá trị trục đỏ xanh lá cây (a*) là đơn vị đo màu đỏ
(+a*) hoặc màu xanh lá cây (-a*); Giá trị trục vàng xanh da trời (b*) là đơn vị
đo màu vàng (+b*) hoặc màu xanh da trời (-b*).
1.2.2. Nguyên nhân nhiễm sắc răng
1.2.2.1. Nguyên nhân ngoại sinh

vỡ từ các phân tử lớn thành những phân tử nhỏ và loại bỏ dễ dàng nhờ sự
khuyếch tán hoặc thành các chất đơn giản kém phản xạ với ánh sáng nên có
hiệu lực tẩy trắng.
1.3.2. Các phương pháp tẩy trắng răng sống
1.3.3. Những nghiên cứu về kết quả của tẩy trắng răng sống trên thế giới và Việt Nam
1.3.3.1. Trên thế giới: Tổng hợp các nghiên cứu trên lâm sàng và trên thực
nghiệm cho thấy: An toàn và hiệu quả của tẩy trắng răng sống nói chung và
nhiễm sắc tetracycline nói riêng chủ yếu tập trung vào phương pháp tẩy trắng
răng tại nhà. Một số báo cáo trường hợp tẩy trắng răng sống nhiễm sắc
tetracycline tại phòng khám cho kết quả tốt tại thời điểm kết thúc điều trị nhưng
chưa theo dõi thời gian đủ dài, chưa có nghiên cứu một cách hệ thống và chưa
đưa ra quy trình tẩy trắng răng sống nhiễm sắc tetracycline hiệu quả và an toàn
trên cấu trúc hình thái bề mặt men răng. Vì vậy cần phải có những nghiên cứu
để làm rõ vấn đề này.
1.3.3.2. Việt Nam: Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có báo cáo nào về nghiên cứu hiệu quả tẩy trắng răng sống nhiễm sắc
tetracycline một cách hệ thống, toàn diện trên lâm sàng và thực nghiệm.

Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu gồm 2 cấu phần: Lâm sàng và thực nghiệm
2.1. Nghiên cứu trên lâm sàng
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: Bệnh nhân bị nhiễm sắc tetracycline
độ I và độ II (Phân loại Jordan và Boksman độ I: Răng nhiễm màu vàng nhẹ,
4
nâu sáng hoặc xám sáng không có dải màu ở cổ, tương ứng màu B3 - B4, độ II:
Răng nhiễm màu vàng, màu nâu hoặc màu xám không có dải màu ở cổ tương
ứng màu C3 - C4). Có nhóm răng trước và răng hàm nhỏ không có thiểu sản
men, không phân biệt giới, tuổi từ 18 trở lên. Có tiền sử dùng tetracycline trước
12 tuổi. Là công dân Việt Nam. Bệnh nhân đồng ý hợp tác.
2.1.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ: Răng bị nhạy cảm nhiều, nhóm răng trước bị co tụt

: Hệ số tin cậy ở mức xác suất 95% (=1,96).
1-β

: Lực mẫu (= 90%)
p : (p
1
+p
2
)/2. Ta có n = 37. Nghiên cứu phân tích phân tầng hiệu quả
điều trị trong 2 nhóm bệnh nhân nhiễm tetracycline độ I và độ II (cỡ mẫu cho
mỗi độ nhiễm tetracycline), từ đó tính được cỡ mẫu là 74 thực tế nghiên cứu
này chọn được 78 bệnh nhân.
2.1.3.3. Kỹ thuật chọn mẫu nghiên cứu: Ở mỗi nhóm nhiễm sắc tetracycline độ
I, II, nghiên cứu lựa chọn ngẫu nhiên những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn và chấp
nhận tham gia vào nhóm nghiên cứu.
2.1.4. Quy trình tiến hành nghiên cứu
2.1.4.2. Lập phiếu thu thập thông tin
2.1.4.3. Khám lâm sàng
5
Phân loại bệnh nhân nhiễm sắc tetracycline độ I và độ II theo tiêu chí trên.
2.1.4.4. Các bước tiến hành tẩy trắng răng
Bước 1: Chống nhạy cảm ngà bằng ngậm kem chải răng 5% KNO
3
(Sensodynefresh Mint) trước 30 phút. Bước 2: Chuẩn bị (bảo vệ môi má niêm
mạc, mắt). Bước 3: Mở men 5 phút. Bước 4: Đặt gel 35% H
2
O
2
chu trình 1 (9
phút). Bước 5: Lặp lại bước 4 trừ việc chiếu đèn mặc định trong 8 phút ở chu

2.2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ: Răng nhiễm màu do nguyên nhân khác, răng đã
hàn, răng sâu, răng chưa đóng cuống, răng rạn nứt.
2.2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện
Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội và khoa Răng Bệnh viện Trung Ương
Quân đội 108, Viện 69 - Bộ Tư Lệnh Lăng.
6
Thời gian: Từ tháng 1/2011 đến tháng 1/2013.
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu thực nghiệm, mô tả hình thái dưới kính hiển
vi điện tử quét (KHVĐTQ).
Cỡ mẫu: Sử dụng mẫu toàn bộ các răng được nhổ đạt tiêu chuẩn trên. Nghiên
cứu này chọn được 95 răng.
Chọn mẫu: Chia đều ngẫu nhiên vào ba nhóm
2.2.4. Quy trình tiến hành nghiên cứu
Mã hóa 3 nhóm như sau: Nhóm 1: Tẩy trắng bằng 35% H
2
O
2
, ngâm trong nước
bọt nhân tạo. Nhóm 2: Tẩy trắng bằng 35% H
2
O
2
, ngâm trong nước bọt nhân
tạo, chải răng bằng kem đánh răng 5% KNO
3
(Sensodynefresh Mint) hàng
ngày. Nhóm 3: Tẩy trắng bằng 35% H
2

thương nhẹ (độ 1), tổn thương vừa (độ 2), tổn thương nặng (độ 3). Hiệu quả
điều trị: Hiệu quả và không hiệu quả.
7
2.3. Biện pháp khắc phục sai số: Các biện pháp được áp dụng để hạn chế sai
số từ chọn mẫu, kỹ thuật sử dụng máy so màu Vita Easyshade compact, cho đến
xử lý số liệu.
2.4. Xử lý số liệu: Số liệu được thu thập và phân tích bằng phương pháp thống
kê y học, sử dụng phần mềm SPSS 16.0 và một số thuật toán thống kê.
2.5. Đạo đức nghiên cứu: Tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu trước khi
tiến hành nghiên cứu, bệnh nhân được giải thích đầy đủ, cặn kẽ và chu đáo.
Bệnh nhân được hiểu về kết quả và các tác dụng phụ có thể xảy ra. Bệnh nhân
hiểu rõ quy trình tẩy trắng răng, đồng thời đồng ý chấp nhận phương pháp điều
trị và thực hiện theo quy trình. Bệnh nhân tự nguyện ký vào bản tham gia
nghiên cứu. Các thông tin thu thập của bệnh nhân được giữ bí mật và chỉ dùng
với mục đích nghiên cứu. Nghiên cứu nhằm cải thiện thẩm mỹ và bảo vệ chăm
sóc sức khỏe cho bệnh nhân mà không nhằm vào mục đích khác.
Chương 3. KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm lâm sàng răng nhiễm sắc tetracycline độ I và II
3.1.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Tổng số 78 bệnh nhân được nghiên cứu : Tỷ lệ bệnh nhân nữ (78,2%) cao hơn
so với bệnh nhân nam (21,8%). Nhóm tuổi 20 - 29 (20,5%) thấp hơn nhóm tuổi
30 - 45 (79,5%). Tỷ lệ nhiễm sắc tetracycline độ II ở nhóm tuổi 30 - 45 là
97,4%. Nhóm 20 - 29 tuổi chủ yếu là nhiễm tetracycline độ I (15/16 trường
hợp).
3.1.2. Đặc điểm lâm sàng răng nhiễm sắc tetracycline độ I và II
Bảng 3.5. Phân bố màu sắc nhóm răng theo phổ màu Munsell (C, h, V)
Nhóm răng n
V C h
± SD ± SD ± SD
Cửa 78 13,2 ± 1,8 27,8 ± 4,3 79,4 ± 4,9

Độ sáng tối L, tông màu h: Độ II thấp hơn độ I, có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Độ đỏ a* và điểm màu Vita V: Độ II cao hơn độ I, có ý nghĩa thống kê (p <
0,05). Độ vàng b* và độ bão hòa màu C: Không có sự khác biệt giữa 2 mức độ
(p > 0,05).
3.2. Đánh giá hiệu quả điều trị tẩy trắng răng sống nhiễm sắc tetracycline
3.2.1. Đánh giá sự thay đổi màu sắc răng
3.2.1.1. Đánh giá sự thay đổi màu sắc răng theo phổ màu Munsell
Giá trị trung bình của ∆C, ∆h, ∆V tại thời điểm điều trị lần 1, lần 2 và lần 3:
Có sự giảm độ bão hòa màu C, tăng tông màu h và giảm điểm màu Vita V so
với trước điều trị giữa 3 nhóm răng trong đó răng hàm nhỏ có sự thay đổi thấp
nhất, có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).
9
Sự thay đổi màu độ bão hòa màu C (∆C): Chung cho đối tượng nghiên cứu và
đối với cả 3 nhóm răng (răng cửa, răng nanh và răng hàm nhỏ) độ bão hòa màu
C đều giảm qua thời gian điều trị và theo dõi có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).
Qua 12 tháng theo dõi độ bão hòa C giảm TB: Chung là 11,3 đơn vị, răng cửa là
12,9 đơn vị, răng nanh là 14,3 đơn vị răng hàm nhỏ là 6,8 đơn vị. Giá trị TB của
độ bão hòa màu C tại 8 thời điểm đánh giá: Từ lần 1 đến lần 4: Giảm rõ rệt (TB
giảm 12,1 đơn vị). Từ lần thứ 4 đến 8, giá trị TB tương đối ổn định.
Bảng 3.12. Sự thay đổi điểm màu Vita V (∆V)
Nhóm
răng
n = 78
Trước
điều trị
Lần 1 Lần 2 Lần 3 3 tuần 3 tháng 6 tháng 12 tháng
p(test
ANOVA
lặp lại)
± SD ± SD ± SD ± SD ± SD ± SD ± SD ± SD

Sự thay đổi màu sắc theo không gian màu theo ∆L: Đối với cả 3 nhóm
răng (răng cửa, răng nanh và răng hàm nhỏ) độ sáng tối L đều tăng qua thời
gian điều trị và theo dõi có ý nghĩa thống kê p < 0,01. Qua 12 tháng theo
dõi độ sáng tối L chung tăng TB 7,7 đơn vị, răng cửa tăng TB 7,1 đơn vị,
răng nanh tăng TB 11,9 đơn vị, răng hàm nhỏ tăng TB 4,2 đơn vị, có ý
nghĩa thống kê (p < 0,01). Giá trị trung bình của độ sáng tối L tại 8 thời
điểm đánh giá: Từ lần 1 đến lần 4 tăng rõ rệt (tăng TB 8,7 đơn vị). Từ lần
thứ 4 đến 8, tương đối ổn định.
Sự thay đổi màu sắc theo không gian màu theo ∆b*: Chung cho đối tượng
nghiên cứu và đối với cả 3 nhóm răng (răng cửa, răng nanh và răng hàm
nhỏ) độ vàng b* đều giảm qua thời gian điều trị và theo dõi có ý nghĩa
thống kê (p < 0,01). Qua 12 tháng theo dõi độ vàng b* chung giảm TB 10,7
đơn vị, răng cửa giảm TB 12,1 đơn vị, răng nanh giảm TB 13,4 đơn vị, răng
hàm nhỏ giảm TB 6,5 đơn vị, có ý nghĩa thống kê (p < 0,01). Giá trị trung
bình của độ vàng b* tại 8 thời điểm đánh giá: Giảm rõ rệt từ lần 1 đến lần 4
(giảm TB 11,5 đơn vị). Từ lần thứ 4 đến 8, tương đối ổn định.
Sự thay đổi màu sắc theo không gian màu theo ∆a*: Chung cho đối tượng
nghiên cứu và đối với cả 3 nhóm răng (răng cửa, răng nanh và răng hàm nhỏ)
độ đỏ a* đều giảm qua thời gian điều trị và theo dõi có ý nghĩa thống kê (p <
0,01). Qua 12 tháng theo dõi độ đỏ a* chung giảm TB 4,4 đơn vị (p < 0,01),
răng cửa giảm TB 4,8 đơn vị, răng nanh giảm TB 6,1 đơn vị, răng hàm nhỏ
giảm TB 2,4 đơn vị, có ý nghĩa thống kê (p < 0,01). Giá trị TB của độ đỏ a*
giảm tại 8 thời điểm đánh giá: Giảm rõ rệt từ lần 1 đến lần 4 (TB giảm 4,9 đơn
vị). Từ lần thứ 4 đến 8, tương đối ổn định.
Giá trị trung bình của ∆E tại thời điểm điều trị lần 1, lần 2 và lần 3: ∆E trong
3 nhóm răng (cửa, nanh, hàm nhỏ), ở từng thời điểm điều trị (lần 1, lần 2 và lần
3) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) cụ thể: Răng hàm nhỏ tăng
thấp nhất và răng nanh tăng cao nhất.
Bảng 3.19. Sự thay đổi màu sắc theo không gian màu ∆E
Nhóm

16,1 đơn vị). Từ lần thứ 4 đến 8, tương đối ổn định. 100% đạt hiệu quả thay đổi
màu sắc, hiệu quả tẩy trắng răng.
3.2.2. Đánh giá kết quả điều trị
3.2.2.1. Kết quả điều trị lần 1: Sau điều trị lần 1 chỉ đạt được kết quả khá và
trung bình trong đó tỷ lệ khá chiếm 44,9%, trung bình chiếm 55,1%. Nhiễm
tetracycline độ I khá (71,8%) cao hơn so với mức độ nhiễm tetracycline độ II
(17,9%). Nữ đạt kết quả khá (50,8%) cao hơn so với nam (23,5%). Nhóm tuổi
20 - 29 khá (87,5%) cao hơn nhóm tuổi 30 - 45 (33,9%).
3.2.2.2. Kết quả điều trị lần 2: Sau điều trị lần 2 kết quả tốt (85,9%), khá (12,8%),
trung bình (1,3%). Kết quả tốt nhiễm tetracycline độ I (89,7%) cao hơn độ II
(82,1%). Nữ đạt kết quả tốt (85,2%) thấp hơn nam giới (88,2%). Kết quả tốt ở
nhóm tuổi 20 - 29 (100%) cao hơn nhóm tuổi 30 - 45 (82,3%).
3.2.2.3. Kết quả điều trị lần 3: Sau điều trị lần 3 kết quả tốt là 96,1%, khá 3,9%.
Nhiễm sắc tetracycline độ I tốt (94,9%) thấp hơn nhiễm sắc tetracycline độ II
(97,4%). Kết quả điều trị theo giới: Nữ đạt kết quả tốt (98,4%) cao hơn nam
(88,2%). Nhóm tuổi 30 - 45 tốt (95,2%) thấp hơn nhóm tuổi 20 - 29 (100%).
Kết quả điều trị ổn định tốt (96,1%) qua các lần đánh giá tại thời điểm 3 tuần, 3
tháng, 6 tháng và 12 tháng. Nhiễm tetracycline độ II tốt (97,4%) cao hơn độ I
(94,9%). 100% nhóm 20 - 29 tuổi đạt kết quả tốt cao hơn nhóm tuổi 30 - 45
(95,2%). Kết quả tốt của nam (88,2%) thấp hơn nữ giới (98,4%). Có 1 bệnh
nhân nam tuổi 30 - 45 nhiễm tetracycline độ II từ khá trở về TB sau 3 tháng.
3.3. Đánh giá sự thay đổi cấu trúc hình thái bề mặt men răng dưới kính hiển vi
điện tử quét trên răng nhiễm sắc tetracycline sau tẩy trắng thực nghiệm.
Bảng 3.34. Sự thay đổi cấu trúc hình thái bề mặt men răng sau tẩy trăng
theo mức độ tổn thương bề mặt men
Tổn thương
Độ 0 Độ 1 Độ 2 Độ 3 Tổng số
p (testχ
2
)

)
n % n % n %
Nhóm 1 19 61,3 12 38,7 31 100,
0 < 0,05
Nhóm 2 22 71,0 9 29,0 31 100,
0
Nhóm 3 30 90,9 3 9,1 33 100,
0
Nhóm 3 đạt hiệu quả điều trị trên cấu trúc hình thái bề mặt men răng cao nhất
chiếm 90,9%, nhóm 1 (61,3%) và nhóm 2 (71%), sự khác biệt giữa ba nhóm
này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Nhận xét một số hình ảnh đặc trưng của từng nhóm nghiên cứu
Mẫu chứng: Bề mặt men răng có các miệng lỗ ống Tome rõ nét, xếp cạnh nhau
kích thước đều đặn và các vết trầy xước.
Nhóm 1: Có sự thay đổi hình thái men răng sau tẩy trắng, bề mặt men không
đều. Xen kẽ các vùng có cấu trúc thô ráp là những dải nhỏ mịn đều làm tăng
tính xốp bề mặt. Hình ảnh các nhú men tạo thành sau tẩy trắng. Các nhú men có
các hạt khoáng được hình thành, giữa các nhú men còn liên kết chặt chẽ.
Nhóm 2: Vùng trên bề mặt men thể hiện rõ lõm miệng ống Tome nhưng thành
tù có sự hiện diện các hạt hình cầu không đều.
Nhóm 3: Bề mặt men răng có hình thái bề mặt tương tự mẫu chứng nhưng các
miệng lỗ ống Tome nông hơn, không rõ nét. Bề mặt mịn và láng bóng.
Chương 4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm lâm sàng răng nhiễm sắc tetracycline độ I và II
4.1.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu trên 78 bệnh nhân trong đó bệnh nhân nữ cao gấp bốn lần so
với bệnh nhân nam. Có lẽ là do nhu cầu thẩm mỹ của phụ nữ cao hơn nam giới,
kết quả này tương tự nghiên cứu của Phạm Thị Thu Hiền (2012), Nguyễn Thị
Phong Lan (2004). Theo Phan Lê Thu Hằng (2004) răng nhiễm sắc tetracycline
nữ giới gấp 1,5 lần so với nam giới. Như vậy kết quả của nghiên cứu này hoàn

hóa tetracycline tạo ra các quinone đỏ. Nhóm răng trước dễ phơi nhiễm với ánh
sáng và dễ đổi màu sắc hơn so với nhóm răng sau.
Phân bố màu sắc răng nhiễm tetracycline theo không gian màu CIE
La*b*: Độ sáng tối L trung bình của răng nanh thấp nhất và răng hàm nhỏ cao
nhất, có ý nghĩa thống kê. Độ đỏ a*, độ vàng b* trung bình của răng nanh cao
nhất và răng hàm nhỏ thấp nhất, có ý nghĩa thống kê. Kết quả này tương tự kết
quả nghiên cứu của Kwon (2012) và Venkateswarlu M và CS (2009), Kugel
(2002). Nghiên cứu này độ vàng b* trung bình cao hơn so với nghiên cứu của
Kwon (2012) thực hiện ở cộng đồng Nhật và Kugel (2002) thực hiện ở Mỹ. Sự
khác biệt này có lẽ là do khác nhau về chủng tộc. Như vậy, khi tẩy trắng răng
Nha sỹ cần quan tâm đến các thông số này. Để có hàm răng trắng đều đẹp cho
những bệnh nhân có hàm răng bị nhiễm sắc tetracycline, Nha sỹ nên lưu ý khi
tẩy trắng răng phải áp dụng thời gian riêng cho từng nhóm răng nhằm đem lại
kết quả sau tẩy trắng tối ưu về thẩm mỹ để cho các nhóm răng mới đạt được các
thông số tương đồng.
Phân bố màu sắc theo phổ màu Munsell và không gian màu tính theo mức
độ nhiễm tetracycline: Răng nhiễm tetracycline độ I có màu sáng hơn và tông
màu cao hơn so với độ II. Độ đỏ nhiễm tetracycline độ I thấp hơn độ II, sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra, độ vàng và độ bão hòa màu không có sự
15
khác biệt. Điểm màu Vita V: Nhiễm sắc tetracycine độ I màu sắc răng: vàng -
xám - nâu đỏ mức độ nhạt. Nhiễm sắc tetracycline độ II màu sắc răng: vàng -
xám - nâu đỏ mức độ đậm hơn sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Độ bão hòa
màu C nhiễm tetracycline độ I (81,4) tương ứng màu vàng cam, nhiễm
tetracycline độ II (76,6) tương ứng màu vàng xám đỏ. Kết quả này tương tự với
nghiên cứu của Jordan và Boksman (1984), nhưng chưa đưa được các thông số
cụ thể cho từng mức độ nhiễm sắc trong khi nghiên cứu này đã đưa ra các chỉ
số cụ thể cho từng mực độ nhiễm sắc tetracycline. Đặc điểm lâm sàng này sẽ
giúp cho các Nha sỹ có kế hoạch điều trị cụ thể cho từng mức độ nhiễm
tetracycline.

16
hiện 3 lần điều trị tẩy trắng mới đạt được sự thay đổi TB là 10 đơn vị màu. Kết quả
của nhiều nghiên cứu về tẩy trắng răng sống nhiễm sắc tetracycline cũng khá dao
động, theo Matis và CS (2006) sử dụng phương pháp tẩy tại nhà phải kéo dài 6
tháng mới có thể đạt được sự thay đổi màu sắc từ C4 lên B1 tương ứng 15 đơn vị
màu. Theo Nguyễn Thị Phong Lan (2004) sau tẩy trắng cải thiện TB là 9 - 10 đơn
vị màu với răng nhiễm sắc tetracycline mới mang lại sự hài lòng cho Nha sỹ và
bệnh nhân. Trong nghiên cứu này, sau điều trị lần 2 màu sắc giảm TB 6,5 đơn vị
nên tiếp tục điều trị lần 3 và kết quả đạt được kỳ vọng của Nha sỹ và bệnh nhân.
Theo Bowler và CS (1997)
sở dĩ răng nhiễm sắc tetracycline phải điều trị kéo dài
hoặc điều trị nhiều lần tại phòng khám là do
tetracycline có khả năng tạo chelat
với ion canxi và được đưa vào sụn, răng và xương để tạo thành một phức hợp
tetracycline - canxi orthophos - phate nhất là trên ngà răng. Chính vì sự lắng
đọng chất màu nằm sâu ở ngà răng nên cần phải có thời gian và điều trị nhiều
lần mới đạt được kết quả mong muốn.
4.2.1.2. Đánh giá sự thay đổi màu sắc theo không gian màu CIELa*b*
Độ sáng tối L đều tăng qua thời gian điều trị và theo dõi có ý nghĩa thống
kê. Qua 12 tháng theo dõi độ sáng tối L chung tăng TB 7,7 đơn vị. Độ vàng b*,
độ đỏ a* đều giảm qua thời gian điều trị và theo dõi có ý nghĩa thống kê. Qua
12 tháng theo dõi cho thấy độ vàng b* chung giảm TB 10,7 đơn vị. Độ đỏ a*
chung giảm TB 4,4 đơn vị. Giá trị TB của độ sáng tối L, độ vàng b*, độ đỏ a*
tại 8 thời điểm đánh giá, có sự thay đổi rõ rệt từ lần đánh giá 1 đến lần đánh giá
4 (L tăng TB 8,7 đơn vị, giá trị b* giảm TB 11,5 đơn vị, độ đỏ a* giảm TB 4,9
đơn vị. Từ lần thứ 4 đến 8, tương đối ổn định. Theo Matis và CS (2006) sau 6
tháng điều trị các chỉ số thay đổi như sau: L thay đổi TB 15 đơn vị, độ vàng b*
giảm TB 2,3 đơn vị, a* giảm TB 2,5 đơn vị. Kết quả nghiên cứu này khác biệt
với kết quả của Matis và CS có thể được lý giải rằng xuất phát màu (độ sáng, độ
vàng và độ đỏ) của nghiên cứu này cao hơn so với các chỉ số màu ban đầu của

đèn.
Kết quả điều trị các chỉ số tương đối ổn định sau 12 tháng tương tự với
nghiên cứu của Matis và CS (2002), Leonardo và CS (2003). Kết quả này đạt
được có lẽ là do nhiễm sắc tetracycline là nhiễm sắc nội sinh thuộc nhiễm màu
ngà, ít bị ảnh hưởng yếu tố môi trường bên ngoài. Kết thúc quá trình điều trị tẩy
trắng chúng tôi đã thực hiện một liệu trình tái khoáng cho bệnh nhân bằng kem
chải răng có tái khoáng (Colgate sensitive Pro-Relief) nên bề mặt men trở nên
bóng và mịn hơn, góp phần duy trì hiệu quả điều trị sau tẩy trắng răng.
4.2.1.3. Đánh giá sự thay đổi màu sắc theo ∆E
Đối với cả 3 nhóm răng (răng cửa, răng nanh và răng hàm nhỏ) ∆E tăng
qua thời gian điều trị và theo dõi có ý nghĩa thống kê. Qua 12 tháng theo dõi,
∆E chung tăng TB 14,7 đơn vị, răng cửa tăng TB 15,6 đơn vị, răng nanh tăng
TB 19,7 đơn vị, răng hàm nhỏ tăng TB 8,9 đơn vị. Giá trị TB của ∆E tăng tại 8
thời điểm đánh giá, tăng rõ rệt từ lần 1 đến lần 4 (tăng TB 16,1 đơn vị). Từ lần
thứ 4 đến 8, giá trị TB của ∆E tương đối ổn định. Ngay lần đầu tiên điều trị
chúng tôi đã đạt hiệu quả tẩy trắng 100% theo như khuyến cáo của ADA. Đối
với răng nhiễm sắc tetracycline sự thay đổi này vẫn chưa đạt được thẩm mỹ
mong muốn. Vì vậy, nghiên cứu này tiếp tục điều trị lần 3 để đạt được thẩm mỹ
tối ưu nhất cho bệnh nhân. Sau 12 tháng, nghiên cứu này vẫn đạt hiệu quả tẩy
trắng 100% theo như khuyến cáo của ADA. Giữa 3 nhóm răng (cửa, nanh, hàm
nhỏ) ở từng thời điểm điều trị lần 1, lần 2 và lần 3, có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê, cụ thể là răng hàm nhỏ tăng thấp nhất và răng nanh tăng cao nhất. Sự
thay đổi ∆E kết thúc điều trị lần 3 cũng gần tương tự kết quả của Kwon (2012),
cụ thể răng nanh là 24,58, răng cửa là 15,45. Nghiên cứu của Matis và CS
(2006) kết thúc 6 tháng điều trị ∆E thay đổi TB 16 đơn vị. Như vậy kết quả
nghiên cứu này cũng tương tự với kết quả điều trị tẩy trắng răng sống nhiễm sắc
tetracycline tại nhà hoặc tại phòng khám kết hợp với tại nhà. Sự thay đổi màu
sắc trên những bệnh nhân răng nhiễm tetracycline cao hơn (gấp 3 lần) so với tẩy
trắng nhiễm màu do nguyên nhân khác. Với một kết quả tẩy trắng thông thường
thường theo Meireles và CS (2009) ∆E đạt 4,3 - 4,7 đơn vị, theo Joe C (2009)

cho bệnh nhân cả về mặt thẩm mỹ và thời gian.
4.2.2. Đánh giá kết quả điều trị
Kết quả điều trị lần 1: Kết quả khá chủ yếu rơi vào nhiễm tetracycline độ I,
ở nữ giới và nhóm tuổi 20 - 29. Điều này cũng hoàn toàn hợp lý vì nhóm tuổi 20
- 29 trong nghiên cứu này chủ yếu là nhiễm tetracycline độ I. Sự thay đổi màu
sắc trong nhiễm tetracycline độ I vừa phải có thể mang lại sự hài lòng cho bệnh
nhân dễ hơn so với nhiễm tetracycline độ II. Như vậy kết quả này hoàn toàn phù
hợp.
Kết quả điều trị lần 2: Kết quả tốt tập trung vào nhóm nhiễm tetracycline
độ I, nhóm tuổi 20 - 29 tuổi. Đối với răng nhiễm tetracycline độ I và bệnh nhân
trẻ dễ dàng chấp nhận sự thay đổi màu vừa phải. Sự thay đổi của điểm màu Vita
tính trung bình độ II giảm nhiều hơn so với độ I. Trong khi xét tổng hợp các
tiêu chí thay đổi màu sắc, tác dụng phụ của thuốc và sự hài lòng của bệnh nhân
thì thấy rằng kết quả tốt ở nhiễm tetracycline độ I cao hơn độ II ở lần điều trị 2.
Kết quả này được giải thích như sau: Nhiễm tetracycline độ I có bề mặt men
răng bóng và màu vàng nâu xám mức độ nhạt hơn do vậy sự thay đổi nhỏ cũng
dễ dàng làm cho bệnh nhân hài lòng hơn so với sự cải thiện thấy được bằng mắt
(có thể coi là đáng kể) của nhiễm tetracycline độ II. Nghiên cứu này cũng thấy
nhiễm sắc tetracycline độ I khi tẩy trắng lần 2 gần hết màu vàng nâu xám, trong
khi nhiễm tetracycline độ II mặc dù thay đổi màu sắc rất nhiều nhưng vẫn còn
ánh vàng xám nâu đỏ của tetracycline. Vì vậy với răng nhiễm tetracycline, mức
19
độ thay đổi màu này chưa đáp ứng được nhu cầu điều trị của bệnh nhân. Theo
Nguyễn Thị Phong Lan (2004), phải cải thiện được 9 - 10 đơn vị màu sắc với
răng nhiễm tetracycline thực sự mới đem lại sự hài lòng cho bệnh nhân. Do đó
chúng tôi tiếp tục điều trị lần 3 để đáp ứng được nhu cầu điều trị của bệnh.
Kết quả điều trị lần 3: Kết quả tốt chung của đối tượng nghiên cứu là
96,1%, khá là 3,9%. Nhiễm sắc tetracycline độ I kết quả tốt (94,9%) thấp hơn
nhiễm sắc tetracycline độ II (97,4%). Nữ đạt kết quả tốt cao hơn nam giới.
Nhóm tuổi 30 - 45 đạt kết quả tốt thấp hơn nhóm tuổi 20 - 29. Nghiên cứu này

được duy trì qua các lần đánh giá 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng. Kết quả tốt của
nghiên cứu này sau khi kết thúc điều trị cao hơn và sự ổn định màu cũng tương
tự như các nghiên cứu trước đó như: Phạm Thị Thu Hiền và CS (2012) kết quả
tốt 90% màu sắc ổn định sau 6 tháng, Nguyễn Thị Phong Lan (2004) tốt sau 1
năm là 80%. Răng nhiễm sắc tetracycline là do tetracycline tạo chelat với phức
hợp ngà răng tạo ra một chất màu nằm sâu trong ngà răng chính vì vậy phải thực
hiện tẩy trắng tại phòng khám 3 lần mới mang lại kết quả tốt, liệu trình điều trị
dài hơn so với trường hợp nhiễm màu khác. Một số nghiên cứu về tẩy trắng răng
nhiễm sắc tetracycline tại nhà phải thực hiện kéo dài tới 6 tháng như Leonardo và
CS (2003), Matis và CS (2006) và đã cho thấy kết quả đạt được ổn định trong
20
vòng 5 năm. Kết quả của nghiên cứu này khá ổn định cũng tương đồng với các
nghiên cứu trước đó. Để xác định tính ổn định của tẩy trắng răng tại phòng khám
trên bệnh nhân nhiễm sắc tetracycline cần phải tiếp tục theo dõi những bệnh nhân
này trong thời gian dài hơn. Để có kết quả ổn định, nghiên cứu này đã thực hiện
tái khoáng bề mặt men răng sau khi kết thúc điều trị tẩy trắng bằng kem chải
răng có tái khoáng (Colgate sensitive Pro - Relief). Kem đánh răng có tái
khoáng sử dụng công nghệ arginine gây bít tắc ống ngà làm bề mặt men răng
sau tẩy trắng nhẵn bóng, trơ với thực phẩm có màu nên mới có sự ổn định này.
Mặt khác răng nhiễm sắc tetracycline là nhiễm màu sâu bên trong ngà nên ít bị
ảnh hưởng bởi yếu tố ngoại sinh.
Có một bệnh nhân nam tuổi 30 - 45 nhiễm tetracycline độ II từ khá trở về
mức độ TB sau 3 tháng. Có thể trường hợp này có độ đỏ a* rất cao (lên đến 10)
nên màu sắc răng vàng xám nâu đỏ đậm, mà trong quá trình tẩy trắng sự cải
thiện về độ đỏ rất ít, chỉ cải thiện TB 4,4 đơn vị. Kết quả này cũng tương tự như
kết quả nghiên cứu của Kwon (2012) giảm 2,16 - 5,78 đơn vị, Matis và CS
(2006), chỉ số a* giảm 2,5 đơn vị. Điều này có thể được lý giải theo Bowles và
Bokmeyer tetracycline kết hợp với ngà răng tạo ra một phức hợp không hòa tan
và ổn định nằm trong ngà răng, tetracycline được liên kết với protein huyết
tương, tập trung ở các mô giàu Collagen như tủy, ngà răng và xương.

bởi một số lượng lớn hơn của lỗ ống Tome. Có thể suy đoán rằng đặc điểm này
là lời giải thích cho sự nhạy cảm ngà răng, một tác dụng phụ của tẩy trắng răng.
Các kết quả nghiên cứu về sự thay đổi hình thái men răng sau tẩy trắng còn
nhiều tranh cãi do sự đa dạng về phương pháp, sản phẩm được sử dụng, nồng
độ, pH, nhãn hiệu thương mại và môi trường phân tích. Kết quả nhóm 1 của
nghiên cứu này phần lớn thấy có sự thay đổi hình thái bề mặt mức độ nhẹ và
vừa, ngoài ra còn thấy xuất hiện các hạt khoáng lắng đọng trên bề mặt men
răng. Nghiên cứu của Rajesh và CS (2012), Dostalova và CS (2004) điều trị tẩy
trắng răng bằng 35% - 50% H
2
O
2
có sự gia tăng mật độ rỗ của bề mặt men răng,
xuất hiện các hố mòn. Nghiên cứu của Lê Văn Sơn và CS (2011) tẩy trắng răng
bằng thuốc tẩy và đèn Beyond II với 2 đợt điều trị và thời gian tác động ngắn
hơn nhưng giữa các đợt điều trị mẫu răng được bảo quản bằng nước cất thấy
mức độ tổn thương nặng hơn rải rác trên bề mặt. Trong nghiên cứu này hình
ảnh đặc trưng của nhóm I mức độ tổn thương nhẹ hơn các nghiên cứu trên, có
các hạt khoáng hình tròn lắng đọng trên các nhú men mặc dù thời gian điều trị
dài hơn và thực hiện 3 lần điều trị. Bởi vì giữa các đợt điều trị mẫu răng được
bảo quản trong nước bọt nhân tạo. Kết quả này có lẽ là do hiệu quả tái khoáng
của nước bọt đã làm giảm sự tổn thương bề mặt men răng sau điều trị thuốc tẩy
trắng. Nghiên cứu của Spalding và CS (2003) với môi trường có pH = 7, các
yếu tố bicarbonate tạo điều kiện cho khoáng hóa bề mặt xảy ra. Hình ảnh đặc
trưng của nhóm 1 có bề mặt men răng bị thay đổi nhẹ, tăng độ xốp men răng.
Kết quả này có lẽ là do việc loại bỏ chất hữu cơ của bề mặt men răng.
Kết quả nhóm 2: Cho thấy bề mặt men thể hiện rõ lõm miệng ống Tome
nhưng thành tù có sự hiện diện các hạt hình cầu không đều. Kết quả này có lẽ
liên quan đến tiềm năng tái khoáng hóa của nước bọt và fluoride. Có thể các hạt
này là nút chặn các ống Tome hình thành sau khi tẩy trắng, đảo ngược quá trình

Vai trò tái khoáng hóa của nước bọt nhân tạo và fluoride của kem đánh răng đã
hạn chế đáng kế các tổn thương bề mặt. Theo Spalding và CS (2003) trong các
môi trường thực nghiệm khác nhau đưa đến kết quả khác nhau. Theo Walsh
(2000) H
2
O
2
tác động ion hóa vào các khung hữu cơ của men ngà làm tăng tính
hoà tan tổ chức cứng của răng sau tẩy trắng.
Trong nghiên cứu này kết quả của nhóm 2 cũng gần tương tự như
Spalding và CS 35% H
2
O
2
trong môi trường nước bọt không làm thay đổi hình
thái bề mặt men. Theo Ogiwara và CS (2008) tẩy trắng răng với 35% H
2
O
2
cũng không làm thay đổi tinh thể men răng. Báo cáo tổng kết của Joiner (2007)
tẩy trắng răng không ảnh hưởng đến cấu trúc đặc tính men ngà khi nghiên cứu
thực nghiệm trong môi trường giống với môi trường miệng. Như vậy kết quả
nghiên cứu này tương tự với các nghiên cứu trên. Ngoài ra còn thấy các hạt
hình tròn khoáng trên bề mặt. Kết quả này có thể liên quan đến tiềm năng tái
khoáng hóa của nước bọt vì môi trường nước bọt nhân tạo có các thành phần
bicarbonate chứa muối phốtphat và canxi. Mặt khác nghiên cứu này thực hiện
chải răng bằng kem đánh răng chống ê buốt 5% KNO
3
và 0,221% fluoride.
Trong nhóm 3 tổn thương bề mặt vừa và nặng chiếm 9,1 % điều này chưa

lên men - ngà răng, tác động lên các chất vô cơ là rất ít và chỉ giới hạn trên lớp
bề mặt. Tổng kết nghiên cứu 298 bài báo về sự thay đổi đặc tính của men ngà
của Joiner (2007) dưới KHVĐTQ cho thấy: Phần lớn các nghiên cứu chỉ ra
rằng các sản phẩm H
2
O
2
và CH
6
N
2
O
3
không có ảnh hưởng xấu đáng kể đến hình
thái bề mặt men - ngà răng và hóa học, thậm chí khi sử dụng ở nồng độ cao nhất
của H
2
O
2
hoặc CH
6
N
2
O
3
. Các nghiên cứu nhìn chung cho thấy một kết quả, có
một số hạn chế trong phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sử dụng môi trường
không giống cơ thể sống hoặc sử dụng các thuốc tẩy trắng có pH < 5. Như vậy
kết quả nghiên cứu này hoàn toàn thỏa đáng. Nghiên cứu này còn bổ sung thêm
đợt tái khoáng trên thực nghiệm, chưa tìm thấy nghiên cứu nào đánh giá về khía

sinh tetracycline từ nhỏ, chủ yếu là bệnh nhân nữ, tập trung ở nhóm tuổi 30-45.
Màu sắc răng: Vàng – xám - nâu đỏ, không có dải màu ở cổ răng. Các chỉ số
màu: V (13,6 ± 1,2), C (27,7 ± 4,3), h (80,0 ± 3,8), L (69,9 ± 4,6), a*(5,2 ± 1,3),
b* (27,1 ± 4,4). Màu sắc giữa các nhóm răng (cửa, nanh và hàm nhỏ) không
đồng nhất. Nhóm răng trước màu sắc đậm hơn nhóm răng sau trong đó răng
nanh có độ bão hòa màu, độ đỏ và độ vàng cao nhất và độ sáng thấp nhất.
Nhiễm sắc tetracycine độ I : Các chỉ số màu: V (12,4 ± 0,2), C (27,1 ± 1,0),
h (81,4 ± 0,9), L (73,4 ± 1,2), a* (4,1 ± 0,4), b* (26,8 ± 1,0).
Nhiễm sắc tetracycine độ II : Các chỉ số màu: V (14,8 ± 0,5), C (28,4 ± 5,9),
h (76,6 ± 4,0), L (66,3 ± 3,9), a*(6,2 ± 1,0), b* (27,4 ± 6,2).
2. Hiệu quả điều trị tẩy trắng răng sống nhiễm sắc tetracycline
Sự thay đổi màu sắc: Sự thay đổi màu sắc theo phổ màu Munsell có độ bão
hòa màu C và điểm màu Vita V giảm điển hình, tông màu h tăng điển hình sau
các lần điều trị và ổn định màu sau 12 tháng theo dõi. Sự thay đổi màu sắc theo
không gian màu CIE La*b* có độ đỏ a* và độ vàng b* giảm điển hình, độ sáng
tối L tăng điển hình sau các lần điều trị và ổn định màu sau 12 tháng theo dõi.
Sự thay đổi màu sắc theo ∆E: Đạt hiệu quả tẩy trắng 100% kết quả này ổn định
sau 3 tuần, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng sau điều trị.
25
Kết quả điều trị: Kết thúc quá trình điều trị: Kết quả chung đạt loại tốt là
96,1% trong đó phân chia theo nhiễm sắc tetracycline: mức độ I là 94,9 %, mức
độ II là 97,4%; theo nhóm tuổi: Nhóm tuổi 20 - 29 là 100%, nhóm tuổi 30 - 45
là 95,2% và kết quả này ổn định sau 3 tuần, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng sau điều
trị.
3. Sự thay đổi cấu trúc hình thái bề mặt men răng dưới kính hiển vi điện tử
quét trên răng nhiễm sắc tetracycline sau tẩy trắng thực nghiệm
Sau tẩy trắng răng thực nghiệm kết hợp với kem đánh răng có tái khoáng
quan sát dưới KHVĐTQ: 90,9% các trường hợp cấu trúc hình thái bề mặt men
răng không bị thay đổi hoặc thay đổi rất nhẹ. 90,9% đạt hiệu quả an toàn cho
cấu trúc hình thái bề mặt men răng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status