tóm tắt luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học hai loài ruồi ăn rệp và khả năng sử dụng chúng trong phòng chống rệp muội hại cây ăn quả có múi ở hà nội và phụ cận. - Pdf 19

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
CAO VĂN CHÍ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC
HAI LOÀI RUỒI ĂN RỆP Dideopsis aegrota Fabricius và
Syrphus ribesii Linnaeus VÀ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CHÚNG
TRONG PHÒNG CHỐNG RỆP MUỘI HẠI CÂY ĂN QUẢ
CÓ MÚI Ở HÀ NỘI VÀ PHỤ CẬN
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 62.62.01.12 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÀ NỘI - 2013

Công trình hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

phòng trừ rệp muội hại trên nhiều loại cây trồng ở nhiều nước trên thế giới (Van
Veen, 2004). Họ Syrphidae là họ lớn nhất của bộ Hai cánh, chúng được sử dụng
trong phòng trừ sinh học (Speight, 1986), (Sommaggio, 1999), (Castella và Speight,
2001). Loài ruồi ăn rệp thuôc họ Syrphidae chiếm 53,04% tổng số các loài ăn rệp
trong quần thể rệp muội ở vùng Mosul, Irắc (Manhmoud, 1983). Tại vùng Himachal
Pradesh, Ấn Độ côn trùng ăn thịt chủ yếu là ấu trùng của RAR, chúng có thể làm giảm
20% quần thể rệp muội (Krishan và Orn, 1990). Ấu trùng loài ruồi Episyrphus
balteatus (De Geer) ăn hơn 100 loài rệp muội trên thế giới (Sadeghi và Gilbert,
2000b), (Verheggen và Haubruge, 2010).
Ở Việt Nam trên ruộng cải bắp, thuốc lá ít phun thuốc trừ sâu, ấu trùng của
RAR có khả năng hạn chế mật độ rệp muội từ 20,1 - 89,3% (Quách Thị Ngọ và
Nguyễn Thị Hoa, 2005). Để góp phần giảm thiểu sử dụng thuốc trừ sâu trên cây ăn
quả (CAQ) có múi và phát huy đầy đủ hơn vai trò của RAR, chúng tôi thực hiện đề
tài:

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học hai loài ruồi ăn rệp Dideopsis
aegrota Fabricius và Syrphus ribesii Linnaeus và khả năng sử dụng chúng trong
phòng chống rệp muội hại cây ăn quả có múi ở Hà Nội và phụ cận

.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài đã nghiên cứu một cách hệ thống về đặc điểm hình thái, sinh học và một số
yếu tố tác động đến sự phát sinh, phát triển của 2 loài RAR (D. aegrota và S. ribesii) ăn rệp
muội hại CAQ có múi tại Chương Mỹ (Hà Nội), các kết quả này là những tư liệu khoa học
mới để sử dụng trong công tác nghiên cứu và đào tạo.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài đã đề xuất sử dụng 2 loài RAR (D. aegrota, S. ribesii) trong phòng chống
rệp muội hại CAQ có múi một cách có hiệu quả, góp phần sản xuất CAQ có múi an
toàn, bền vững cho vùng Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.

một số yếu tố sinh thái đến sự phát sinh, phát triển của ruồi ăn rệp cánh nâu
Dideopsis aegrota Fabricius.
6. Cấu trúc của luận án
Luận án chính 122 trang, gồm 5 phần: mở đầu (4 trang), chương 1. Tổng quan
tài liệu (21 trang), chương 2. Phương pháp nghiên cứu (19 trang), chương 3. Kết quả
và thảo luận (76 trang), kết luận và kiến nghị (2 trang), tổng số 114 tài liệu tham khảo
(gồm 43 tài liệu tiếng Việt Nam, 71 tài liệu tiếng Anh).

3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Trong hệ sinh thái đồng ruộng, mối quan hệ giữa cây trồng, sâu hại và thiên
địch luôn gắn kết chặt chẽ với nhau. Việc nông dân sử dụng nhiều thuốc trừ sâu không
những gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn ảnh hưởng
đến nhiều loài thiên địch trong vườn CAQ có múi. Điều tra xác định những loài thiên
địch của dịch hại cây trồng đồng thời nhân nuôi thiên địch có triển vọng sử dụng
trong biện pháp sinh học đã trở thành tâm điểm của biện pháp quản lý dịch hại tổng
hợp IPM (Hà Quang Hùng, 1998). Nhiều loài thiên địch đã được nghiên cứu nhân
nuôi trở thành sản phẩm thương mại như tác nhân sinh học có ý nghĩa áp dụng phòng
chống dịch hại có hiệu quả (Nguyễn Văn Đĩnh và cs., 2004). Ở Hà Lan loài ruồi ăn rệp
E. balteatus đã được nhân nuôi để tiêu diệt rệp vừng và nhiều loài rệp muội hại cây
trồng (Koppert, 2013). Ở Việt Nam biện pháp sinh học trên CAQ có múi chưa được áp
dụng một cách rộng rãi, đặc biệt vấn đề bảo vệ nhóm kẻ thù tự nhiên chưa được quan
tâm nghiên cứu nhiều.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
1.2.1.Thành phần rệp muội và thiên địch của chúng
1.2.1.1.Thành phần rệp muội
Theo Emden (1972) cho biết trên thế giới có 3805 loài rệp muội được phân bố
thành 10 họ phụ.

ở những cây đã bị rệp phá hại nặng và không bao giờ đẻ trứng trong quần thể rệp muội đã
bị ký sinh (Chandler, 1968), (Tenhunberg và Poehling, 1991), (Scholz và Poehling, 2000),
(Sadeghi và Gilbert, 2000a), (Pienda và Marcos, 2005), (Pienda et al., 2007).
Sadeghi và Gilbert (2000b), Sutheland et al. (2001) cho rằng tỷ lệ đẻ trứng của
RAR E. balteatus và S. ribesii là khác nhau trên các loài rệp muội khác nhau.
Các kết quả công bố trên cho thấy trên thế giới chưa có nhiều công bố nghiên
cứu về thời gian phát triển các pha phát dục của các loài RAR mà có nhiều công bố
nghiên cứu về vị trí đẻ trứng và khả năng đẻ trứng của RAR.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của ruồi ăn rệp
Ruồi ăn rệp không chỉ có sự cạnh tranh về thức ăn với các loài thiên địch ăn
rệp khác mà còn bị ong ký sinh tấn công, hầu hết các loài RAR đều bị ong ký sinh,
đây chính là mặt hạn chế của RAR (Rotheray, 1984), (Rotheray and Gilbert, 2011).
1.2.4. Vai trò của ruồi ăn rệp và khẳ năng sử dụng chúng
Các loài RAR chiếm 53,04% các loài thiên địch trên đồng ruộng và làm giảm
20% quần thể rệp trong vòng 3 tuần khi không có sự tham gia của các loài bọ rùa ăn
thịt kích thước lớn (Manhmoud et al., 1983), (Krishan và Orn, 1990), (Agarwala và
Yasuda, 2000).
Đã có nhiều tác giả công bố về khả năng ăn rệp muội của ấu trùng RAR và đều
cho rằng ấu trùng các loài RAR ăn rệp muội cao, trên 200 con rệp muội/ấu trùng
(Sadeghi và Gilbert, 2000b), (Alfiler và Calilung, 1981), (Sharma và Bhalla, 1988),
(Tenhumberg và Poehling, 1995), (Rao và Nagalingam,1997), (Dadan, 2001), (Dadan
et al., 2001).

5
Một số lượng lớn ấu trùng của RAR đã được nhân nuôi để khống chế rệp muội
hại cây trồng như ở Kenya đã nhân nuôi loài RAR I. aegyptium để khống chế rệp chè
(Sudoi và Rotich, 1977), ở Hà Lan đã nhân nuôi loài RAR E. balteatus để khống chế
rệp vừng (Kopper, 2013).
Từ những kết quả công bố về vai trò và khả năng sử dụng ấu trùng RAR của
các tác giả trên thế giới cho thấy rõ RAR có vai trò đáng kể trong việc khống chế rệp

6
Minh Hồng (2009) cho biết vòng đời loài ruồi E. balteatus từ 19,61 - 21,22 ngày, loài
ruồi S. ribesii từ 15,19 - 15,90 ngày, loài ruồi Leucopis sp. từ 14,35 - 14,97 ngày.
RAR có sức đẻ trứng khá cao, loài I. scutellaris có thể đẻ được 106,0 - 136,0
quả trứng (Quách Thị Ngọ và Lê Thị Tuyết Nhung, 2009), loài E. balteatus đẻ trung
bình 39,5 ± 2,11 quả/trưởng thành (Lê Văn Ninh và Trần Thị Mai, 2010).
Các tài liệu công bố trong nước mới chỉ đề cập đến 2 loài RAR (S. ribesii và
E. balteatus) là chính, chỉ có 1 tài liệu đề cập về vòng đời của RAR cánh nâu
D. aegrotus, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về sinh học, sinh thái học của
loài RAR cánh nâu D. aegrotus.
1.3.3. Vai trò của ruồi ăn rệp và khả năng sử dụng chúng
Khi đánh giá khả năng tiêu diệt con mồi của loài ruồi I. scutellaris,
D. aegrotus, S. ribesii, Clythia sp., E. balteatus và Leucopis sp. với thức ăn là các
loài rệp muội khác nhau, các công bố đều cho rằng khả năng ăn rệp muội trong phòng
thí nghiệm và khả năng khống chế rệp muội của ấu trùng các loài RAR ngoài đồng
ruộng là khác nhau (Bùi Hải Sơn và Nguyễn Thị Diệp, 1990), (Nguyễn Văn Huỳnh
và Phan Văn Biết, 2005), (Hà Quang Hùng và Nguyễn Thị Hồng, 2005), (Bùi Minh
Hồng và Hà Quang Hùng, 2007b), (Bùi Minh Hồng, 2009), (Quách Thị Ngọ và Lê
Thị Tuyết Nhung, 2009), (Lê Văn Ninh và Trần Thị Mai, 2010).
RAR có vai trò lớn trong hạn chế rệp muội, chúng có khả năng tiêu diệt
60,70% - 89,30% rệp muội trên cây và số lượng rệp bi tiêu diệt tỷ lệ thuận với mật độ
ấu trùng RAR có trên cây (Quách Thị Ngọ và Nguyễn Thị Hoa, 2005), (Quách Thị
Ngọ và cs., 2007).
Việc đánh giá vai trò của RAR chủ yếu đề cập đến 2 loài RAR (S. ribesii và
E. balteatus) là chính, có 1 tài liệu đề cập khả năng ăn rệp muội T. citricidus của ấu
trùng RAR cánh nâu D. aegrotus, chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá sâu về
vai trò của RAR cánh nâu D. aegrotus ngoài đồng ruộng.

CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.5. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Phương pháp điều tra, thu thập xác định thành phần thiên địch của rệp
muội hại cây ăn quả có múi ở vùng Hà Nội và phụ cận
2.5.1.1. Phương pháp điều tra thành phần thiên địch và rệp muội
Phương pháp điều tra thu thập thành phần rệp muội và thiên địch trên CAQ có
múi theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây
trồng 2010 (QCVN01-38: 2010/BNNPTNT).
- Điều tra tự do và liên tục theo giai đoạn sinh trưởng của cây (7 ngày/lần).
Điều tra trên các vườn CAQ có múi ở giai đoạn thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB) và
thời kỳ kinh doanh (KD) tại Chương Mỹ (Hà Nội), Cao Phong (Hòa Bình) và Văn
Giang (Hưng Yên).
2.5.1.2. Phương pháp nghiên cứu về mức độ hại của rệp muội xanh A. spiraecola
trên cây ăn quả có múi.
Đánh giá mức độ hại của rệp muội xanh A. spiraecola trên lá non CAQ có múi
theo QCVN01-38: 2010/BNNPTNT (BNN&PTNT, 2010).

8
- Điều tra theo điểm (1 tháng một lần) trên vườn trồng cây cam, chanh, quýt,
bưởi ở giai đoạn thời kỳ KTCB và thời kỳ KD, tiến hành trong năm 2011 và 2012 tại
Chương Mỹ (Hà Nội).
2.5.1.3. Phương pháp nghiên cứu vị trí số lượng của các ấu trùng ruồi ăn rệp trên
cây ăn quả có múi
Điều tra phát hiện vị trí số lượng của các ấu trùng RAR trên cây cam, chanh,
quýt, bưởi tại huyện Chương Mỹ (Hà Nội), Cao Phong (Hòa Bình) và Văn Giang
(Hưng Yên) theo phương pháp điều tra cơ bản dịch hại Nông nghiệp và thiên địch
của chúng (Viện Bảo vệ thực vật, 1997). Số điểm điều tra là 150 điểm/huyện, tiến
hành trong năm 2010 đến 2012.
2.5.1.4 Phương pháp phân loại côn trùng bắt mồi, côn trùng ký sinh của chúng
Phương pháp phân loại rệp muội hại và côn trùng bắt mồi, côn trùng ký sinh
được thực hiện tại Viện Bảo vệ thực vật, so với Bộ mẫu chuẩn Quốc gia tại Viện Bảo

Theo dõi ngày 2 lần xác định xác lột để biết thời gian của 1 tuổi ấu trùng hoặc sự hình
nhộng và trưởng thành vũ hóa.
Khi nhộng vũ hoá, chọn những cá thể vũ hoá cùng ngày để ghép đôi 1 cá thể cái
với 1 cá thể đực, thả 2 cá thể này vào lồng nuôi sâu như đã mô tả để theo dõi số lượng
trứng đẻ trong ngày, thời điểm trứng nở, tỷ lệ nở của trứng và các chỉ tiêu liên quan đến
sự phát triển của thế hệ sau. Theo dõi tiến hành cho đến khi trưởng thành chết sinh lý.
Thí nghiệm được tiến hành 2 đợt, đợt 1 nuôi từ ngày 1/4/2011 nhiệt độ trung
bình là 25,92
0
C và ẩm độ trung bình là 83,95%, đợt 2 nuôi từ ngày 1/5/2011, ở nhiệt độ
trung bình là 26,85
0
C và ẩm độ là 88,29%. Thức ăn thêm cho trưởng thành RAR sau
khi vũ hóa là mật ong 10% đựng trong đĩa petri.
- Chỉ tiêu theo dõi: thời điểm trứng nở, ấu trùng các tuổi lột xác, ấu trùng vào
nhộng và trưởng thành vũ hóa.
2.5.3. Phương pháp nghiên cứu sinh thái học của 2 loài ruồi ăn rệp (D. aegrota,
S. ribesii) và khẳ năng sử dụng chúng trong phòng chống rệp muội hại CAQ có múi
2.5.3.1. Nghiên cứu sinh thái học của 2 loài ruồi ăn rệp (D. aegrota, S. ribesii)
* Sự phân bố của ruồi ăn rệp trên cây ăn quả có múi
Quan sát về sự phân bố của ấu trùng RAR cánh nâu D. aegrota trên cây cam,
chanh, quýt, bưởi tại Chương Mỹ (Hà Nội), Cao Phong (Hòa Bình), Văn Giang
(Hưng Yên) trong năm 2011 và 2012 theo QCVN01-38: 2010/BNNPTNT
(BNN&PTNT, 2010).
Số điểm điều tra là 100 điểm/huyện, tiến hành trong năm 2011 và 2012.
* Diễn biến mật độ rệp muội và ruồi ăn rệp trên cây ăn quả có múi
Điều tra diễn biến mật độ rệp muội, mật độ trứng và mật độ ấu trùng RAR
được tiến hành tại Chương Mỹ (Hà Nội) theo QCVN01-38: 2010/BNNPTNT
(BNN&PTNT, 2010).
+ Điều tra theo điểm (7 ngày một lần) trên vườn CAQ có múi ở giai đoạn thời

* Nghiên cứu ảnh hưởng của số lần phun Dầu khoáng DC-Tron Plus 98.8EC đến ấu
trùng RAR
+ Thí nghiệm được tiến hành trên vườn cây cam tại Chương Mỹ (Hà Nội) với 4
công thức (Phun 1 lần, 2 lần, 3 lần, 4 lần Dầu khoáng DC-Tron Plus 98.8EC ở nồng độ
0,5% trừ rệp muội).
+ Điều tra mật độ ấu trùng RAR theo phương pháp điều tra tại mục 2.5.3.1.
2.5.3.2. Khả năng sử dụng ruồi ăn rệp trong phòng chống rệp muội hại cây ăn quả có múi
* Khả năng phát triển của rệp muội trên cây đậu đen làm thức ăn nhân nuôi RAR
+ Thí nghiệm được tiến hành với 2 công thức thả rệp muội (rệp muội xanh, rệp
muội đen) trên cây đậu đen (Vigna unguiculata).
+ Chỉ tiêu theo dõi: đếm số lượng rệp muội xanh và rệp muội đen qua từng thời
kì phát triển của cây đậu đen: 2 lá, 5 lá, 11 lá, ra hoa, hình thành quả.
* Khả năng ăn mồi của ấu trùng RAR trong phòng thí nghiệm
Nghiên cứu khả năng ăn rệp muội của ấu trùng RAR theo Emden (1972).

11
+ Ấu trùng RAR (tuổi 1, 2, 3) được lấy từ thí nghiệm mục 2.5.2.2 đặt vào hộp
nuôi sâu (25cm x 15cm x 15cm) với n = 30 cho mỗi tuổi, bỏ đói ấu trùng ở các tuổi
trong vòng 24 h, sau đó cho vào mỗi hộp nuôi sâu 1 đĩa petri có lá cam non (100 con
rệp muội ở tuổi 2 và 3) đặt trên giấy lọc ẩm. Sau 24 giờ đếm số rệp muội còn lại trên
lá non ở mỗi hộp nuôi sâu và thay lá cam non mới có 100 con rệp muội ở tuổi 2 và 3.
+ Chỉ tiêu theo dõi: số lượng rệp muội bị ấu trùng RAR ở các tuổi ăn trong
24 giờ.
2.5.4. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
- Các số liệu được tính toán theo phương pháp thống kê sinh học thông dụng,
sử dụng phần mềm IRRSTAT 5.0 để so sánh và phân tích.
- Vẽ đồ thị và biểu đồ bằng phần mềm Microsoft Excel.

CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

++ + ++ + +++

+
5 Rệp muội xanh Aphis spiraecola (Patch) +++

++ +++

+ ++ +
Ghi chú : Mức độ phổ biến : +++ : rất phổ biến (ĐTG > 50%), ++ : phổ biến (ĐTG từ 21 -
50% ), + : ít phổ biến (ĐTG từ 5 - 20% ), - : rất ít gặp (ĐTG < 5%)), KTCB: thời kỳ kiến thiết cơ
bản, KD: thời kỳ kinh doanh

12
Các loài rệp hại CAQ có múi gồm 5 loài (M. persicae, T. citricidus,
A. gossypii, T. aurantii và A. spiraecola). Trong đó loài rệp muội xanh A. spiraecola
là loài rất phổ biến và gây hại cao nhất trên vườn CAQ có múi thời kỳ kiến thiết cơ
bản (KTCB) tại Chương Mỹ và Cao Phong với độ thường gặp (ĐTG) trên 50%, phổ
biến và gây hại trung bình ở thời kỳ KTCB tại Văn Giang, thời kỳ kinh doanh (KD)
tại Chương Mỹ (ĐTG từ 21 - 50%), ít phổ biến và gây hại thấp ở thời kỳ KD tại Cao
Phong và Văn Giang (ĐTG từ 5 - 20%).
Loài rệp muội nâu đen T. aurantii là loài rất phổ biến và gây hại cao trên
vườn CAQ có múi thời kỳ KTCB tại Văn Giang (ĐTG > 50%), phổ biến và gây hại
trung bình ở thời kỳ KTCB tại Chương Mỹ và Cao Phong (ĐTG từ 21 - 50%), ít
phổ biến và gây hại thấp ở thời kỳ KD tại Chương Mỹ, Cao Phong và Văn Giang
(ĐTG từ 5 - 20%).
3.1.1.2. Mức độ hại của rệp muội
Trong năm 2011 và 2012 rệp muội xanh A. spiraecola gây hại nặng trên cây
cam và cây chanh ở cả 2 thời kỳ KTCB và thời kỳ KD, gây hại trung bình trên cây
bưởi và gây hại nhẹ trên cây quýt. Mức độ hại của rệp muội xanh A. spiraecola trên
CAQ có múi thời kỳ KTCB cao hơn thời kỳ kinh doanh.

1
Bọ rùa da
cam
Micraspis sp. Coccinellidae

Coleoptera + + + + + +
2 Bọ rùa đỏ
Micraspis discolor
(Fabricius)
Coccinellidae

Coleoptera ++ + + + + +
3
Bọ rùa 8
chấm
Harmonia
octomaculata
(Fabricius)
Coccinellidae

Coleoptera + + + + + +
4
Bọ rùa 2
mảnh đỏ
Lemnia biplagiata
(Swartz)
Coccinellidae

Coleoptera ++ + ++ + + +
5

vàng
Episyrphus
balteatus (De Geer)

Syrphidae Diptera + + + + + +
9
RAR cánh
nâu
Dideopsis aegrota
(Fabricius)
Syrphidae Diptera +++

++ ++ + ++ +
10
RAR vằn
vàng
Syrphus ribesii
(Linnaeus)
Syrphidae Diptera +++

++ ++ + ++ +
11 RAR Paragus sp. Syrphidae Diptera + + + + + +
12 RAR Melangyna sp. Syrphidae Diptera + + + + + +
Ghi chú : Mức độ phổ biến : +++ : rất phổ biến (ĐTG > 50%); ++ : phổ biến (ĐTG từ 21
– 50% ); +: ít phổ biến (ĐTG từ 5 – 20% ); - : rất ít gặp (ĐTG < 5%) ; KTCB: thời kỳ kiến thiết cơ
bản; KD: thời kỳ kinh doanh
3.1.2.2 Vị trí số lượng của ruồi ăn rệp trên đồng ruộng
Trong năm 2010 và 2012 ngoài đồng ruộng trên vườn CAQ có múi, 2 loài
RAR (D. aegrota, S. ribesii) bắt gặp cao tại 3 điểm điều tra (Chương Mỹ, Cao Phong,
Văn Giang) với vị trí số lượng tương ứng cho loài RAR cánh nâu D. aegrota là 36%,

Huỳnh và Phan Văn Biết (2005) khi nghiên cứu về chu kỳ sinh trưởng của ruồi D.
aegrotus với thức ăn là rệp muội T. citricidus có vòng đời khoảng 3 tuần.
Bảng 3.7. Thời gian phát dục của ruồi ăn rệp cánh nâu D. aegrota
Pha phát dục
Thời gian phát dục trung bình (ngày)
Đợt nuôi 1 Đợt nuôi 2
Trứng 2,77 ± 0,23 2,93 ± 0,26
Ấu trùng tuổi 1 2,03 ± 0,07 2,23 ± 0,16
Ấu trùng tuổi 2 2,70 ± 0,17 2,63 ± 0,18
Ấu trùng tuổi 3 2,30 ± 0,17 2,30 ± 0,17
Nhộng 7,06 ± 0,35 8,07 ± 0,29
Trưởng thành ruồi cái 7,74 ± 0,33 7,14 ± 0,38
Vòng đời 24,60 ± 0,53 25,30 ± 0,56
Đời 33,81 ± 0,73 34,19 ± 0,82
Nhiệt độ trung bình (
0
C) 25,92 26,85
Ẩm độ trung bình (%) 83,95 88,29

15
3.2.2. Đặc điểm hình thái và sinh học của ruồi ăn rệp vằn vàng Syrphus ribesii
Linnaeus
3.2.2.1. Đặc điểm hình thái của ruồi ăn rệp vằn vàng S. ribesii
Ruồi ăn rệp vằn vàng S. ribesii phát triển trải qua 4 pha phát dục là: Trứng có
hình bầu dục, có màu trắng, có một lớp lông mỏng phía trên, chiều dài 1,88 ± 0,10
mm, chiều rộng 0,84 ± 0,08 mm; Ấu trùng có 3 tuổi, cơ thể thon dài, phía đầu nhỏ
hơn phía sau, toàn thân có màu xanh, trên lưng dọc cơ thể có sọc trắng nhỏ, chiều dài
9,88 ± 0,39 mm, chiều rộng 2,47 ± 0,09 mm; Nhộng màu xanh thẫm, thon đều, một
đầu tròn, một đầu hơi thót lại, chiều dài 6,27 ± 0,28 mm, chiều rộng 2,74 ± 0,13 mm;
Trưởng thành cơ thể màu sáng, phía cuối bụng có các vân đen và vàng xen lẫn, mắt


6,57
± 0,25

Vòng đời 23,4 ± 0,54 24,13 ± 0,54
Đ
ời

30,60 ± 0,72

30,73 ± 0,66

Nhiệt độ trung bình (
0
C) 25,92 26,85
Ẩm độ trung b
ình (
%
)

83,95

88,29

Kết quả nghiên cứu về thời gian phát triển các pha phát dục của RAR vằn vàng
S. ribesii cho thấy: thời gian phát dục của pha trứng rất ngắn từ 2,67 - 2,87 ngày, pha ấu
trùng từ 6,70 - 6,83 ngày, pha nhộng từ 7,43 - 7,83 ngày, pha trưởng thành là 6,57 -
6,60 ngày.
Vòng đời của RAR vằn vàng S. ribesii dao động từ 23,40 - 24,13 ngày, đời
30,60 - 30,73 ngày.

Kết quả phân tích tương quan giữa mật độ trứng của RAR và mật độ rệp muội
ngoài tự nhiên năm 2011 cho thấy trên cây cam giữa rệp muội xanh A. spiraecola và
trứng của RAR cánh nâu D. aegrota có mối tương quan thuận cao theo phương trình hồi
quy y = 0,0054x + 0,6853 với hệ số tương quan r = 0,64; giữa rệp muội xanh
A. spiraecola và trứng của RAR vằn vàng S. ribesii có mối tương quan thuận cao theo
phương trình hồi quy y = 0,0048x + 0,7675 với hệ số tương quan r = 0,79. Tương tự,
năm 2012 giữa rệp muội xanh A. spiraecola và trứng của RAR cánh nâu D. aegrota có
mối tương quan thuận cao theo phương trình hồi quy y = 0,0059x + 0,9569 với hệ số
tương quan r = 0,69; giữa rệp muội xanh A. spiraecola và trứng của RAR vằn vàng
S. ribesii có mối tương quan thuận trung bình theo phương trình hồi quy y = 0,0051x +
0,7961 với hệ số tương quan r = 0,56. Như vậy trứng của RAR cánh nâu D. aegrota và
trứng của RAR vằn vàng S. ribesii có mối tương quan thuận cao và trung bình với rệp
muội xanh A. spiraecola ngoài đồng ruộng.
+ Diễn biến mật độ ấu trùng của RAR và rệp muội ngoài đồng ruộng
Diễn biến mật độ ấu trùng của 2 loài RAR (D. aegrota, S. ribesii ) và rệp muội
xanh A. spiraecola ngoài đồng ruộng được nêu ở hình 3.21, 3.22, 3.23, 3.24.

17
0
100
200
300
400
500
600
2/1/11
9/1/11
16/1/11
23
/

2
/4/11
9
/
4/11
1
6/
4
/1
1
2
3/
4
/11
30/4/
1
1
7/5/11
14
/
5/
1
1
21/5/
1
1
2
8/
5
/1

0/
7
/11
6
/
8/
1
1
1
3/
8
/11
2
0/
8
/11
27/
8
/11
3/9/11
10/9/
1
1
1
7/
9
/1
1
2
4/

/
11
1
/1
2
/11
8
/1
2
/11
1
5/
1
2/11
2
2/
1
2/11
27/12/11
Ngày điều tra
Mật độ rệp muội xanh A.spiraecola (con/lá non)
0
1
2
3
4
5
6
7
8

9/1/11
16
/
1/11
23/1/11
30
/
1/11
6/2/11
13
/
2/
11
20/2/11
27
/
2/
11
5/3/11
1
2
/3/11
19/3/11
26/3/11
2/4/1
1
9/4/11
16
/
4/11

7/
11
23/7/11
30
/
7/
11
6/8/11
13
/
8/
11
20/8/11
27
/
8/
11
3/9/11
10
/
9/
11
17
/
9/
11
2
4
/9/11
1/

1
1
8/
1
2/
11
15
/
12
/1
1
22
/
12/
1
1
27
/
12
/1
1
Ngày điều tra
Mật độ rệp muội xanh A. spiraecola (con/lá non)
0
1
2
3
4
5
6

8
/2
/
12
1
5
/2
/1
2
2
2
/
2/1
2
1
/
3/12
7/3
/
12
14/3/2012
21/3/1
2
28/3/12
4
/4
/
12
11/4/1
2

2
27/6/1
2
4/7/12
11/7/12
18/7
/1
2
25/7/1
2
1
/8
/1
2
8
/8
/
12
15/8/12
2
2
/
8/1
2
29/8
/1
2
5/9
/
12

10/1
2
/
12
17/12/
1
2
24/12/
1
2
29/12/12
Ngày điều tra
Mật độ rệp muội xanh A. spiraecola (con/lá non)
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Mật độ ấu trùng ruồi ăn rệp cánh nâu
D. aegrota (con/lá non)
A. spiraecola D. aegrota

Hình 3.23. Diễn biến mật độ ấu trùng của ruồi ăn rệp cánh nâu D. aegrota và rệp muội
xanh A. spiraecola trên cây cam tại Chương Mỹ (Hà Nội), năm 2012

2
2
2/
2
/12
1
/
3/12
7
/
3/12
14/3/2012
2
1/
3
/
1
2
2
8/3/12
4
/
4/12
1
1/
4
/12
1
8/
4

2
01
2
20/6
/
1
2
27/6/12
4
/
7/12
1
1/
7
/
1
2
18/7/12
2
5/
7
/
1
2
1
/
8/12
8
/
8/12

1
9/
1
1/12
2
6/
1
1/12
3/12/12
10/
1
2/12
1
7/
1
2/12
24/12/12
2
9/
1
2/12
Ngày điều tra
Mật độ rệp muội xanh A. spiraecola (con/lá non)
0
1
2
3
4
5
6

ăn rệp
Số nhộng
theo dõi
(nhộng)
Số nhộng
vũ hóa ra
ruồi
(ruồi)
Số nhộng
xuất
hiện ra
ong (ong)
Tỷ lệ
bị ký
sinh
(%)
Nhiệt độ
trung
bình (
0
C)

Ẩm độ
trung
bình (%)
I
D. aegrota 30 21 8 26,67
25,92 83,95
S. ribesii 30 18 7 23,33
II

Công
thức
Nồng độ
sử dụng
(%)
% ấu trùng của RAR chết sau phun (ngày)
1 3 5 7
D. aegrota S. ribesii D. aegrota S. ribesii D. aegrota S. ribesii D. aegrota S. ribesii
I 0,15 82,13c

76,81c

84,87c

80,64c

86,59b

83,16b

88,14b

85,79b

II

0,15

79,96b



CV %

1,30

1,30

1,10

1,10

2,90

3,00

2,50

2,60

LSD 5% 1,95 1,85 1,74 1,64 4,83 4,73 4,31 4,20
Ghi chú: các chữ a, b, c trong bảng chỉ sự sai khác theo cột dọc ở độ tin cậy 95%
I: Polytrin P 440EC; II: Supracide 40EC; III: Dầu khoáng DC-Tron Plus

20
Sau 7 ngày phun thuốc Polytrin 440EC, Supracide 40EC và Dầu khoáng DC-
Tron Plus 98.8EC phòng trừ rệp muội ở ngoài đồng, tỷ lệ ấu trùng của RAR cánh nâu
D. aegrota chết tương ứng là 88,14%, 88,61% và 83,02%; Tỷ lệ ấu trùng của RAR vằn
vàng S. ribesii chết tương ứng là 85,79%, 86,26% và 80,67%.

* Ảnh hưởng của số lần phun Dầu khoáng DC-Tron Plus 98.8EC đến ấu trùng RAR

Tổng cả pha ấu trùng 220,70 ± 9,29 214,2 ± 13,50
Nhiệt độ trung bình (
0
C) 25,92 26,85
Ẩm độ trung bình (%) 83,95 88,29
Ghi chú: các chữ a, b trong bảng chỉ sự sai khác theo cột dọc ở độ tin cậy 95%

21
Kết quả bảng 3.25 và bảng 3.26 cho thấy ấu trùng tuổi 2 và 3 của RAR cánh
nâu D. aegrota ăn rệp muội xanh A. spiraecola, rệp muội nâu đen T. aurantii cao hơn
ấu trùng tuổi 1 ở cả 2 đợt nuôi.
Như vậy, trong phòng thí nghiệm tổng cả pha ấu trùng của RAR cánh nâu
D. aegrota ăn hết 214,2 ± 13,50 đến 220,70 ± 9,29 con rệp muội xanh A. spiraecola,
144,10 ± 10,55 đến 148,80 ± 11,23 con rệp muội nâu đen T. aurantii ở nhiệt độ
25,92
0
C - 26,85
0
C và ẩm độ 83,95% - 88,29%. Kết quả này cũng phù hợp với công
bố của Nguyễn Văn Huỳnh và Phan Văn Biết (2005) tổng pha ấu trùng của RAR
cánh nâu D. aegrotus ăn hết 205,51 con rệp muội T. citricidus ở điều kiện nhiệt độ 27
- 30
0
C, độ ẩm 67 - 75%.
Bảng 3.26. Sức ăn rệp muội nâu đen T. aurantii bị ấu trùng của ruồi ăn rệp cánh nâu
D. aegrota tiêu thụ trong các pha phát dục
Các tuổi
Số lượng rệp muội bị ăn (con)
Đợt thí nghiệm 1 Đợt thí nghiệm 2
Ấu trùng tuổi 1 39,20 ± 5,02a 41,34 ± 4,45a


26,85

Ẩm độ trung bình (%) 83,95 88,29
Ghi chú: các chữ a, b trong bảng chỉ sự sai khác theo cột dọc ở độ tin cậy 95%
+ Sức ăn rệp muội của ấu trùng RAR vằn vàng S. ribesii
Sức ăn rệp muội xanh A. spiraecola và rệp muội nâu đen T. aurantii của ấu
trùng RAR vằn vàng S. ribesii được nêu trong bảng 3.27 và bảng 3.28.
Bảng 3.27. Sức ăn rệp muội xanh A. spiraecola bị ấu trùng của ruồi ăn rệp vằn vàng
S. ribesii tiêu thụ trong các pha phát dục
Các tuổi
Số lượng rệp muội bị ăn (con)
Đợt thí nghiệm 1 Đợt thí nghiệm 2
Ấu trùng tuổi 1 52,10 ± 6,51a 49,30 ± 5,06a
Ấu t
rùng
tu
ổi 2

75,50 ± 5,02b

75,90 ± 4,71b

Ấu trùng tuổi 3 57,10 ± 5,92ab 51,50 ± 3,46a
Trung bình 1 ngày/
ấu tr
ùng

27,57


0
C và ẩm độ 83,95% - 88,29%. Khả năng tiêu thụ rệp muội xanh
A. spiraecola và rệp muội nâu đen T. aurantii của ấu trùng RAR vằn vàng S. ribesii
là thấp hơn so với công bố của Bùi Minh Hồng và Hà Quang Hùng (2007b) khi
nghiên cứu khả năng ăn rệp A. gossypii của ấu trùng RAR vằn vàng S. ribesii (ấu
trùng ruồi tiêu thụ 188,69 đến 253,86 con rệp A. gossypii ở nhiệt độ trung bình
28,06
0
C và ẩm độ trung bình 74,85%).
Bảng 3.28. Sức ăn rệp muội nâu đen T. aurantii bị ấu trùng của ruồi ăn rệp
vằn vàng S. ribesii tiêu thụ trong các pha phát dục
Các tuổi
Số lượng rệp muội bị ăn (con)
Đợt thí nghiệm 1 Đợt thí nghiệm 2
Ấu trùng tuổi 1 40,20 ± 5,32a 35,99 ± 3,56a
Ấu trùng tuổi 2 59,10 ± 6,45c 55,96 ± 4,76c
Ấu tr
ùng
tu
ổi 3

51,80 ± 4,56b

46,89 ± 4,43b

Trung bình 1 ngày/ấu trùng 22,54 ± 4,78 20,36 ± 4,34
Tổng cả pha ấu trùng 151,10 ± 11,23 138,84 ± 12,55
Nhi
ệt


của RAR cánh nâu D. aegrota có mối tương quan thuận cao; Giữa rệp muội xanh

23
A. spiraecola và trứng của RAR vằn vàng S. ribesii có mối tương quan thuận trung bình
đến cao. Trong phòng thí nghiệm ấu trùng của RAR ăn rệp muội là khá cao.
Không chỉ có những ưu điểm kể trên, chúng còn thể hiện hiệu quả khống chế
rệp muội xanh A. spiraecola cao, tương ứng cho ấu trùng của 2 loài RAR
(D. aegrota, S. ribesii) sau 3 ngày thả là 48,34% và 46,89%.
Tuy nhiên ấu trùng và nhộng của 2 loài RAR (D. aegrota, S. ribesii) bị ong ký
sinh với tỷ lệ cao ngoài tự nhiên. Đây là nhược điểm của 2 loài RAR này cần lưu ý
khi nhân nuôi sử dụng.
Cả 3 loại thuốc trừ sâu là Polytrin 440EC, Supracide 40EC và Dầu khoáng DC-
Tron Plus 98.8EC đều có ảnh hưởng lớn đến ấu trùng của 2 loài RAR (D. aegrota,
|S. ribesii).
Từ những kết quả nghiên cứu về 2 loài RAR (D. aegrota, S. ribesii) cho thấy 2
loài ruồi này có thời gian phát triển (vòng đời) dài hơn thời gian phát triển của rệp
muội xanh và rệp muội nâu đen, không thể hiện tính chuyên hóa cao, khả năng sống
sót thấp khi rệp muội ít, không có khả năng tìm kiếm rệp muội khi rệp muội có mật
độ thấp, không có khả năng chống chịu được với các loại thuốc trừ sâu và thường có
đỉnh cao xuất hiện muộn (chậm) 2 tuần so với đỉnh cao mật độ rệp muội.
Tuy vậy, chúng có sức sinh sản khá cao, khả năng ăn rệp muội lớn, có nơi ở và
sự ưa thích ký chủ giống rệp muội, có sự ưa thích tiểu khí hậu như rệp muội, có sự
phát triển vật hậu theo mùa khá giống rệp muội.
Như vậy, so với 10 tiêu chuẩn của một loài thiên địch bắt mồi lý tưởng (Nguyễn
Văn Đĩnh và cs., 2004) thì 2 loài RAR (D. aegrota, S. ribesii) chỉ đạt được gần trọn vẹn
5 tiêu chuẩn.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
1) Ở huyện Chương Mỹ (Hà Nội), Cao Phong (Hoà Bình) và Văn Giang (Hưng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status