BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề Tài :
SỰ QUAN TÂM CỦA CHA MẸ ĐÔI VỚI VẤN ĐỀ HỌC VÀ ĐỊNH
HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO CON.
(Khảo sát tại xã Hải Hòa-huyện Tĩnh Gia-tỉnh Thanh Hóa, tháng 8/2011).
PHẦN I. MỞ ĐẦU.
1. Lý do chọn đề tài:
Bên cạnh những mục tiêu phát triển kinh tế, Đảng và nhà nước ta cũng
luôn cho giáo giục là mối quan tâm hàng đầu.
Bác Hồ đã nhẫn mạnh ý nghĩa của việc giáo dục bằng câu nói bất hủ:
“vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.
Câu nói của Bác hiện nay vẫn là phương châm hoạt động, là kim chỉ
nam cho các cơ quan, đoàn thể hoạt động trong giáo dục.
Sự biến đổi kinh tế xã hội đã tác động không nhỏ đến đời sống trong
mỗi gia đình. Mỗi gia đình có điều kiện hơn để tham gia vào các hoạt động
kinh tế cùng với nhiều hoạt động xã hội khác để nâng cao chất lượng đời
sống. Song, trong phạm vi từng gai đình cụ thể thì trách nhiệm của gia đình
ngày một quan trọng hơn khi vừa thực hiện vai trò là một thành phần xã hội,
vừa thực hiện vai trò đối với các thành viên trong gia đình. Đó là việc mỗi gia
đình tự phải có trách nhiệm trong việc quan tâm chăm sóc và dạy bảo con cái.
Để tạo ra một môi trường giáo dục hiệu quả, mỗi thành viên được phát triển
toàn diện cả về mặt thể chất lẫn tinh thần. Đây là sự thay đổi lớn thể hiện sự
quan tâm của cha mẹ trong việc tạo điều kiện cho con cái tiếp thu nguồn tri
thức mới để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội.
Trước đây trong gia đình truyền thống việc cha mẹ quan tâm đến con
cái chỉ là người nối dõi, là lực lượng lao động tích cực để nâng cao năng suất
lao động, hơn nữa là chỗ dựa khi cha mẹ về già. Việc học hành của con cái
không được cha mẹ chú ý, với đa số là không học hết phổ thông, tỷ lệ bỏ học
nhiều khi đó cha mẹ chưa quan tâm đến việc tạo điều kiện cho con đến trường
bởi theo quan niệm bấy giờ thì giáo dục gia đình đối với trẻ em đã đồng nhất
với giáo dục xã hội, nên chủ yếu là việc rèn luyện đạo đức hay những ứng sử
cái nhìn toàn diện hơn thì xã hội học đóng vai trò không nhỏ trong việc làm
sáng tỏ, có ý nghĩa hơn khi nhgiên cứu vai trò của gia đình trong giáo dục con
cái.
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã vận dụng các khái niệm: Gia
đình, vai trò, Cùng các lý thuyết xã hội học: Hành động xã hội, chức năng
cơ cấu, nhằm đóng góp thêm về mặt lý luận trong nghiên cứu vai trò của gia
đình trong bối cảnh hiện nay.
2.2 Ý nghĩa thực tiễn.
Hiện nay việc nâng cao trình độ tri thức ngày càng được xã hội coi
trọng, đặc biệt là đối với các bậc cha mẹ có con đang đi học. Nghiên cứu
nhằm tìm hiểu mức độ quan tâm của cha mẹ đối với vấn đề học tập và định
hướng nghề nghiệp cho con, đặc biệt trong các gia đình ở xã Hải Hòa của
huyện Tĩnh Gia-Thanh Hóa nơi mà nhu cầu cho con em theo học trong mỗi
gia đình ngày một đông. Nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta thấy được thực
trạng của mức độ quan tâm, đầu tư cho con em theo học và định hướng nghề
nghiệp cho con trong các gia đình ven biển và hiểu rõ hơn về vị trí và vai trò
của cha mẹ trong gia đình.
3. Mục đích nghiên cứu:
Nhằm nghiên cứu thực trạng của giáo dục qua vai trò gia đình, thể hiện
như thế nào qua mức độ quan tâm của cha mẹ khi đầu tư cho con theo học,
đặc biệt là định hướng nghề nghiệp tương lai cho con em mình.
Phân tích ảnh hưởng của một yếu tố như: Học vấn, nghề nghiệp, thu
nhập của cha mẹ nhằm tìm hiểu xem chúng có ảnh hưởng như thế nào đến
việc đầu tư cho học tập và định hướng nghề nghiệp với con em người dân xã
Hải Hòa.
3
Đưa ra một ý kiến nhằm bổ sung thêm cho các nhà hoạch định chính
sách, chương trình đầu tư giáo dục ở từng địa phương cụ thể. Điều này nhằm
nâng cao chất lương giáo dục đối vơi người dân, từ đó có thể xác định hướng
đi đúng.
+ Hành động phù hợp với một lợi ích.
Như vậy, một hành động của chủ thể đều tác động bởi ý nghĩa chủ quan
và một mục đích nhất định. Vậy khi sự quan tâm của các bậc cha mẹ đối vấn
đề học tập và định hướng nghề nghiệp cho con là có sự tác động của những
yếu tố chủ quan với những kỳ vọng nhất định. Đó là khi sự quan tâm đó thể
hiện tới mục đích gì và mang lại giá trị gì cho cuộc sống tương lai con em
mình. Bên cạnh đó còn có sự tham gia của nhiều yếu tố khác.
Như vậy, mỗi quan tâm của cha mẹ đối với con cái không phải là bất
biến mà nó còn phụ thuộc bởi nhiều tác động từ cuộc sống - điều kiện kinh tế
- xã hội hiện nay.
* Thuyết chức năng cơ cấu:
Một trong những đại biểu cho thuyết chức năng cơ cấu là George
Murclork, ông cho rằng hầu hết trong tất cả các xã hội, gia đình đều thực hiện
4 chức năng cơ bản và phổ biến: tính dục, tái sinh sản, kinh tế và giáo dục.
Những chức năng có mối quan hệ, tác động lẫn nhau tạo nên sự vận hành xã
hội.
Trong 4 chức năng trên thì chức năng giáo dục có vai trò lớn đối với
mỗi cá nhân - đây là quá trình xã hội hóa đầu tiên để cá nhân tiếp nhận và
sáng tạo nên những giá trị sống của riêng mình đồng thời góp phần vào văn
hóa của xã hội.
Như vậy, gia đình có chức năng rất lớn đến sự phát triển của mỗi cá
nhân.Trong đó cha mẹ là nhũng người có vai trò lớn trong việc giáo dục con
cái nhất là khi định hướng nghề nghiệp cho tương lai con em mình. Đây thực
5
sự là điều có ý nghĩa quan trọng giup con em có một hướng đi đúng và phát
triển toàn diện.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
* Phương pháp phỏng vấn sâu:
Tiến hành phỏng vấn 3 gia đình có con đang theo học tại xã Hải Hòa-
Tĩnh Gia-Thanh Hóa.
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy nông dân chiếm hơn một nửa, còn làm
nghề khác thì chiếm ít hơn.
Trình độ học vấn:
STT Cấp học ĐVT (người ) Tỷ lệ (%)
1 Tiểu học 57 13
2 Trung học cơ sở 248 55
3 Trung học phổ thông 128 28
4 TC,CĐ,ĐH 17 4
Tổng cộng 450 100
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy trình độ học vấn trung học cơ sở có tỷ
lệ là cao nhất.
6. Một số khái niệm:
6.1 Khái niệm gia đình:
Theo Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng trong xã hội học - NXB Đại
học QG Hà Nội, thì “Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù một nhóm xã
hội nhỏ và các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi mỗi quan hệ hôn nhân,
quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt,
trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của các
thành viên cùng để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người.
Theo G.P.Murdork - NXHH Mỹ: “Gia đình là một nhóm xã hội cùng
cư trú, hợp tác và tái sản xuất kinh tế và ít nhất trong đó có quan hệ tình dục
với nhau được xã hội tán thành, có một hay nhiều con cái do họ đẻ ra hoặc
nhận con nuôi”.
Như vậy, những điểm chung nhất thì: “Gia đình là một nhóm xã hội
gồm hai hay nhiều người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, huyết
7
thống hoặc nhận con nuôi, vừa đáp ứng nhu cầu riêng, vừa thỏa mãn những
nhu cầu của xã hội và tái sản xuất dân cư theo cả nghĩa thể xác và tinh thần.
6.2 Khái niệm vai trò:
Vai trò là tập hợp các mong đợi, các quyền và nghĩa vụ bổn phận và
đồng dân cư về hệ thống các trường lớp đào tạo nghề cảu nhà nước.
6.5 Xã hội hóa:
Theo G.Andreeva: xã hội hóa là quá trình hai mặt. Một mặt cá nhân
tiếp nhận những kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã
hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội. Mặt khác tác nhân tái sản xuất một cách
chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia
vào các hoạt động và thâm nhập các mối quan hệ xã hội.
6.6 Chức năng gia đình:
Theo các nhà xã hội học: Chức năng gia đình là phương thức thể hiện
tính tích cực, hoạt động sống của gia đình và các thành viên của nó. Các chức
năng gia đình có thể liên quan chặt chẽ với các nhu cấu của xã hội về mặt
thiết chế gia đình với nhu cầu của cá nhân thuộc về một nhóm gia đình mang
tính lịch sử sâu sắc. Nó gắn liền với điều kiện kinh tế xã hội hoàn cảnh sống
xã hội với thời gian tính chất của chức năng gia đình lại biến đổi, song nó vẫn
tồn tại bốn chức năng cơ bản:
+ Chức năng sinh đẻ
+ Chức năng kinh tế
+ Chức năng giáo dục
+ Chức năng thỏa mãn nhu cầu tình cảm
7. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết.
7.1 Giả thuyết nghiên cứu:
Trong gia đình việc đầu tư cho con học tập đã có sự quan tâm của cha,
mẹ. Song việc đầu tư này còn chưa hiệu quả vì các bậc cha, mẹ chưa có sự
bảo ban con cái một cách cụ thể và việc học chủ yếu do các con tự học.
9
Trong gia đình, việc học tập và định hướng nghề nghiệp cho con là nhu
cầu của các bậc cha, mẹ song khi thực hiện điều này lại phụ thuộc rất nhiều
vào học vấn, nghề nghiệp và thu nhập của gia đình.
Khi định hướng, đối với các gia đình kinh tế còn hạn chế thì họ chỉ
mong con cái có công việc ổn định, mang lại thu nhập. Việc định hướng có kế
con
Định hướng
nghề nghiệp
cho con
Nhất là khi nhu cầu xã hội đòi hỏi trình độ học vấn ngày càng cao thì việc đặt
ra đối với phần lớn gia đình là làm sao tạo điều kiện cho con cái học tập và
vấn đè tìm kiếm việc làm cho mỗi thành viên gia đình trong tương lai là vấn
đề cần thiết. Điều này xảy ra ở hầu hết các gia đình ở nông thôn và đô thị với
nhiều cách thức, phương pháp cùng với mong muốn riêng. Thực tế đã có
nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vai trò của gia đình trong việc giáo
dục và định hướng nghề nghiệp cho con cái như:
Luận án thạc sỹ: “Sự phân công lao động trong các gia đình nông thôn
việt Nam” của Lê Thái Thị Băng Tâm nhằm chỉ ra vai trò chủ yếu của cha,
mẹ trong công việc và trong sự giáo dục con cái ở các gia đình nông thôn.
Bài viết “Vai trò của gia đình nông thôn trong vấn đề giải quyết việc
làm cho con” Lê Ngọc Hùng, Lê Tiến La. Tạp chí xã hội học số 2/ 2000.
Trong đó tác giả đề cập đến việc khi cha, mẹ đinh hướng thường mong con
cái thoát ly đồng ruộng và làm cán bộ nhà nước. Song yế tố ảnh hưởng đến sự
định hướng này như học vấn, mức sống
Nhìn chung các đề tài nghiên cứu đều tập trung vào vai trò của gia
đình, nhất là phụ nữ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái và định hướng
nghề nghiệp cho con như thế nào và nó chịu tác động của một số yếu tố
như: học vấn, thu nhập
Hiện nay khi đời sống từ truyền thống sang hiện đại đã làm cho một số
chức năng của gia đình bị biến mất và thay vào đó những chức năng dù không
hẳn hoàn toàn mới song nó có một ý nghĩa vô cùng cần thiết trong xã hội
ngày nay. Khi mà yếu tố kinh tế đã tác động quá nhiều đến đời sống gia đình
và đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều chức năng quan trọng khác như:
Giáo dục trẻ em, quan tâm đến đời sống và tình cảm của các thành viên trong
gia đình.
Đàn gia súc, gia cầm tăng nhanh nhất là trong các năm 2006-2007
tập trung ở các hộ chăn nuôi theo mô hình trang trại nhỏ. Năm 2005 tổng
12
đàn lợn đạt 32000 con, đàn bò 1300 con. Nhưng đến năm 2009 đàn lợn chỉ
còn 2300 con và bò 946 con chỉ đạt 63% kế hoạch đề ra. Nguyên nhân
giảm do diễn biến dịch bệnh gia súc, gia cầm ngày càng phức tạp, giá cả
thức ăn chăn nuôi trên thị trường tăng mạnh, giá bán đầu ra của người
chăn nuôi thì tăng chậm hoặc không tăng nên người chăn nuôi không đầu
tư cho phát triển chăn nuôi.
Thực hiện nghị quyết 05,06 của Huyện ủy về phát triển chăn nuôi
theo hướng công nghiệp và chuyển đổi cơ cấu mùa vụ. Đảng bộ và chính
quyền địa phương tập trung lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh sản xuất cây màu
đặc biệt là cây lạc, cây vừng, đầu tư dưa giống mới vào sản xuất đem lại
hiệu quả cao
Giá trị sản lượng thuỷ sản tăng bình quân hàng năm 400%, Chiếm
một tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế. Nguyên nhân tăng là do có nguồn hỗ
trợ, trợ giá dầu nên nhân dân đã tích cực đầu tư vào các phương tiện đánh
bắt, khai thác hải sản
Sản xuất công nghiệp - TTCN, Thương mại, dịch vụ
Dịch vụ mở ra đa dạng hơn trước là dịch vụ du lịch, với lợi thế gần
trung tâm có quốc lộ 1 đi qua, khu du lịch đang từng bước hình thành nên
các nhà hàng, khách sạn, đại lý hàng tiêu dùng, chế biến nông sản, hải
sản, xây dựng, vận tải, cơ khí nhỏ phát triển mạnh. Chính quyền địa
phương đã phối hợp với Trường dạy nghề Nghi sơn mở lớp học thêu ren,
móc hộp xuất khẩu cho 180 gia đình thuộc diện hộ nghèo tăng thu nhập
cho gia đình và tận dụng được thời gian nhàn dỗi cho nhân dân.
Giao thông - thuỷ lợi
Giao thông: Chỉ đạo xây dựng đường giao thông liên thôn đảm bảo
cho nhân dân đi lại sinh hoạt thuận tiện. Tuyến đường nhựa từ trạm y tế
đi thôn Tiền Phong dài 795m tổng đầu tư hết 994 triệu đồng đã được
Y tế - dân số - KHHGĐ
Công tác xây dựng xã chuẩn về y tế được chú trọng, năm 2011 theo
kết quả kiểm tra của các cấp, cơ bản đủ điều kiện công nhận xã chuẩn y tế,
14
công tác khám và điều trị bệnh cho nhân dân luôn được coi trọng và nâng
cao về chất lượng. Cán bộ y tế xã và các thôn luôn giáo dục toàn dân chăm
lo và bảo vệ sức khoẻ, giữ gìn vệ sinh để phòng chống dịch bệnh, tuyên
truyền về an toàn thực phẩm. Làm tốt công tác Y tế dự phòng kịp thời kiểm
soát và khống chế dịch bệnh trên địa bàn. Công tác dân số gia đình và trẻ
em chuyển biến khá hơn trước. Tỷ lệ sinh tự nhiên 111 cháu (trong đó sinh
con thứ 3 là 13 cháu = 11,7%);Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng
giảm 2% năm. Tỷ lệ tăng dân số năm 2009 giảm xuống còn 0,9%, mức
giảm sinh hàng năm là 0,8% tuổi thọ của người dân được nâng cao.
Công tác chăm sóc đối tượng chính sách, hoạt động nhân đạo từ
thiện.
Đã phát động sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân chăm lo cho các
gia đình chính sách, thực hiện đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn,
làm tốt công tác chính sách xã hội, đảm bảo mức sống của các đối tượng
chính sách ngang bằng và hơn so với hộ gia đình trung bình trong xã.
Làm tốt công tác xoá đói giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ
25% năm 2005 xuống còn 15% năm 2010. Năm 2010 đã hỗ trợ 300 triệu
đồng cho 26 hộ xoá nhà tranh, nhà tạm bợ.
Quốc phòng an ninh - trật tự an toàn xã hội
Công tác quốc phòng an ninh luôn được quan tâm, lực lượng dân
quân hàng năm luôn luôn được huấn luyện đầy đủ biên chế đảm bảo theo
đúng quy định, công tác tuyển gọi thanh niên lên đường nhập ngũ hàng
năm đều đảm bảo chỉ tiêu trên giao. An ninh chính trị được giữ vững, trật
tự an toàn xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, ý thức chấp hành Luật giao
thông trong nhân dân được nâng cao
Công tác thông tin tuyên truyền và hoạt động văn hoá - TDTT -
định hướng cụ thể và thế hệ trẻ cần sự quan tâm định hướng của các bậc cha
mẹ. Trong việc định hướng con cái thì rất nhiều vấn đề các bậc cha mẹ cần
định hướng. Vì vậy việc giáo dục con cái cần sự tác động định hướng, có kế
hoạch, có mục đích nhằm truyền đạt cho chúng một hệ thống các giá trị,
chuẩn mực, kinh nghiệm trong cuộc sống để chúng thể hiện được những
phẩm chất, năng lực theo yêu cầu của xã hội ngày nay.
17
C52_31 Day con: chong
Frequency Percent Valid Percent
Cumulative
Percent
Valid Co 260 57.8 58.2 58.2
Khong 187 41.6 41.8 100.0
Total 447 99.3 100.0
Missing System 3 .7
Total 450 100.0
C52_32 Day con: vo
Frequency Percent Valid Percent
Cumulative
Percent
Valid Co 410 91.1 91.7 91.7
Khong 37 8.2 8.3 100.0
Total 447 99.3 100.0
Missing System 3 .7
Total 450 100.0
C52_33 Day con: nguoi khac
Frequency Percent Valid Percent
Cumulative
Percent
Valid Co 3 .7 .7 .7
đến cấp nao? khi được hỏi tại sao lại muốn con mình học đến cấp học đó.
“Trong thời đại hiện nay đòi hỏi phải có bằng cấp cao mới kiếm được
công việc ổn định, nếu chúng nó không học được thì chẳng có chỗ trong xã
hội đâu” (PVS Nam 45 tuổi làm nghề đánh bắt hải sản).
3. Định hướng nghề nghiệp:
Các hộ gia đình tại ba thôn được phỏng vấn của xã Hải Hòa họ đã định
hướng nghề nghiệp cho con cái. Tuy những định hướng này chưa nhiều
nhưng đã thể hiện được nhận thức và sự quan tâm của các bậc cha, mẹ khi
chuẩn bị cho con cái bước vào cuộc sống. Khi được hỏi về việc định hướng
cho con cái rất nhiều gia đình đã định hướng nghề nghiệp cho con họ:
19
“Tôi có hai con gái mà tôi cũng không thể bắt chúng theo ý mình mà
cũng không để chúng tự ý được. Tôi phải định hướng nghề cho chúng cũng
thấy phù hợp và tôi cũng cảm thấy được”. (PVS Ông Lê văn A- 50 tuổi- làm
nông nghiệp).
Bảng 2: Mức độ định hướng nghề nghiệp cho con cái gia đình ven
biển.
STT Mức độ định hướng nghề nghiệp cho
con cái trong gia đình
Số lượng gia đình %
1 Thường xuyên 217 49.4
2 Không thường xuyên 196 43.6
3 Không bao giờ 26 5.8
Tổng 439 100
(Nguồn: Số liệu khảo sát của đề tài).
Qua bảng số liệu chúng ta thấy mức độ thực hiện nội dung giáo dục
định hướng nghề nghiệp cho con cái. Có 2.7 % người trả lời chiếm 49. 4%
thường xuyên giáo dục định hướng nghề nghiệp cho con cái. Còn tỷ lệ không
bao giờ giáo dục định hướng nghề nghiệp cho con là rất thấp chiếm có 5.8%.
Điều này chứng tỏ các hộ gia đình đã có ý thức giáo dục, định hướng nghề
nghiên cứu mỗi liên hệ giữa mức sống với việc định hướng học tập và nghề
nghiệp cho con cái trong các gia đình như thế nào, mức độ quan tâm của các
bậc cha mẹ ra sao.
21
Bảng 4. Tương quan về mức sống của các hộ gia đình với việc định hướng
học tập cho con cái.
Mức độ định
lượng
Thường xuyên
Khôngthường
xuyên
Không bao
giờ
Tổng
Mức sống
Khá 45
58.4%
30
39%
2
2.6%
77
100%
Trung bình 148
50.2%
127
43.1%
20
6.8%
295
lai, còn những mong muốn đó có trở thành hiện thực thì vấn còn một khoảng
cách khá xa. sự kỳ vọng mong đợi đó còn phù thuộc vào yếu tố thời gian,
năng lực, điều kiện của các hộ gia đình.
C63_Nghe HIEN NAY (nhom lai) * C57_3 Dinh huong nghe nghiep Crosstabulation
22
C57_3 Dinh huong nghe nghiep
Total
Nghề
Thuong xuyen
Khong thuong
xuyen Khong bao gio
Nong nghiep 95 87 6 188
50.5% 46.3% 3.2% 100.0%
Danh bat, nuoi trong thuy san 60 48 6 114
52.6% 42.1% 5.3% 100.0%
DV Du lich 9 4 1 14
64.3% 28.6% 7.1% 100.0%
Buon ban, dich vu 10 15 2 27
37.0% 55.6% 7.4% 100.0%
Lam thue, tho Thu cong 14 5 2 21
66.7% 23.8% 9.5% 100.0%
Nong+ nghe khac 4 10 2 16
25.0% 62.5% 12.5% 100.0%
Huu tri 3 2 0 5
60.0% 40.0% .0% 100.0%
Cong chuc, vien chuc 1 5 0 6
16.7% 83.3% .0% 100.0%
Khg tr. loi 20 19 7 46
43.5% 41.3% 15.2% 100.0%
Total 216 195 26 437
tri thức cho nhân dân hơn nữa.
24
Với những chương trình đầu tư cho giáo dục cần có sự đầu tư cụ thể
đối với mỗi vùng, nhất là đối với vùng sâu vùng xa. Đặc biệt cần có sự giúp
đỡ trực tiếp về mặt tài chính đối với các gia đình khó khăn, tạo động lực cho
con em nghèo vượt khó.
Ở các chính quyền địa phương cũng cần tổ chức các hoạt động giáo dục
giúp các em phát triển toàn diện nhân cách và trí tuệ.
Trong mỗi gia đình cần tạo điều điện cho con cái có thời gian học tập
tốt hơn. Khi định hướng một phần dựa vào năng lực của các em, song các bậc
cha mẹ cũng cần chỉ ra một cách nhìn cụ thể để các em được trang bị những
tri thức cần thiết bước vào cuộc sống.
25