sự cần thiết phải có sự quản lí của nhà NƯớc đối với hoạt động du lịch - Pdf 64

sự cần thiết phải có sự quản lí của nhà NƯớc đối với hoạt động du lịch
I I) Khái niệm về du lịch và các loại hình du lịch
1. Khái niệm du lịch:
Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát
triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên cho
đến nay không chỉ ở nước ta mà còn ở các nước trên thế giới nhận thức về
khái niệm du lịch vẫn chưa thống nhất. Đã có nhiều học giả trên thế giới như:
Guer Freuler, Azar, Kaspar, Hunziker, Kraff... đưa ra nhiều định nghĩa về du lịch.
Mỗi định nghĩa đều có một ý nghĩa nhất định. Tổng hợp và chắt lọc các định
nghĩa của những học giả trên du lịch được hiểu là:
• Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá
nhân hay tập thể ngòai nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng
cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hay không kèm theo sự
tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ do các cơ sở
chuyên nghiệp cung ứng.
• Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh
trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian
rảnh rỗi của các cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục
hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần
thúc đẩy sự phát triển của du lịch.
2. Các loại hình du lịch:
Hoạt động du lịch có thể phân thành các nhóm tuỳ thuộc tiêu chí đưa ra. Hiện
nay đa số các chuyên gia về du lịchViệt Nam phân chia các loại hình du lịch
theo các tiêu chí cơ bản dưới đây.
2.1.Phân loại theo môi trường tự nhiên:
Tuỳ vào môi trường tài nguyên mà hoạt động du lịch được chia thành hai
nhóm lớn là: du lịch văn hoá và du lịch thiên nhiên.
* Du lịch văn hoá là hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường
nhân văn hay hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân
văn. Các đối tượng văn hoá- tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở để tạo nên

khoẻ cộng đồng. Địa chỉ cho những chuyến nghỉ dưỡng là nơi có không khí
trong lành, khí hậu dễ chịu, phong cảnh ngoạn mục như các bãi biển, các vùng
ven bờ nước, vùng núi...Hiện nay nghành du lịch Việt Nam chủ yếu kinh doanh
loại hình du lịch này.
d) Du lịch khám phá
Mục đích là nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh. Địa chỉ lí thú cho
những người ưa mạo hiểm là những con suối chảy xiết, những ngọn núi cao
chót vót, những hang động bí hiểm ...
Để kinh doanh loại hình du lịch này cần có trang bị hỗ trợ cần thiết và đặc
biệt cần có chương trình và đội ngũ ứng cứu hết sức cơ động. Nước ta có diện
tích là đồi núi, nhiều núi cao, vực sâu lại nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa nên có
nhiều điều kiện tạo ra các vùng phù hợp cho du lịch khám phá. Tuy nhiên muốn
khai thác loại hình này cần một nguồn vốn không ít để đầu tư, đào tạo nhân
viên nên so với các loại hình du lịch khác trong thời gian trước mắt du lịch
mạo hiểm có ít cơ hội thuận lợi hơn.
e) Du lịch thể thao
Chơi thể thao nhằm mục đích nâng cao thể chất, phục hồi sức khoẻ... Đây là
loại hình xuất hiện để đáp ứng lòng ham mê thể thao của con người. Để đáp
ứng nhu cầu du lịch thể thao cơ quan cung ứng du lịch phải có cơ sở vật chất kĩ
thuật tốt, đội ngũ nhân viên phục vụ phải có hiểu biết về loại hình thể thao
cung ứng. Điểm du lịch phải có các điều kiện thuận lợi và phù hợp.
f) Du lịch lễ hội
Tham gia vào lễ hội du khách muốn hoà mình vào không khí tưng bừng, vào
các cuộc biểu dương lực lượng, biểu dương tình đoàn kết của cộng đồng...
Việc khôi phục các lễ hội truyền thống, việc tổ chức các lễ hôi mới không chỉ là
mối quan tâm của các cơ quan đoàn thể, quần chúng xã hội mà còn là hướng
quan trọng của nghành du lịch.
2.3 Phân loại theo lãnh thổ hoạt động
a) Du lịch quốc tế
- Du lịch quốc tế đến là chuyến đi của người nước ngoài đến tham quan du

khoẻ sau những ngày làm việc căng thẳng.
- Về phương diện kinh tế, người dân đô thị nhận thấy giá cả nhiều mặt
hàng nông sản, thực phẩm ở nông thôn rẻ hơn, tươi hơn.
- Dưới góc độ xã hội người thành thị thấy người dân ở làng quê tình cảm
chân thành, mến khách và trung thực.
Tất cả những lí do trên giải thích tại sao du lịch nông thôn ngày càng phát
triển và cần được quan tâm thích đáng. Đây cũng là một trong những đóng
góp thiết thực của du lịch vào việc nâng cao mức sống của nông dân Việt Nam.
2.5 Phân loại theo phương tiện giao thông
Bao gồm: du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng ô tô, du lịch bằng tàu hoả, du lịch
bằng tàu thuỷ, du lịch bằng máy bay...
2.6 Phân loại theo loại hình lưu trú
Lưu trú là một trong những nhu cầu chính của du khách trong chuyến đi du
lịch. Dưới góc độ kinh doanh du lịch, trong giai đoạn hiện nay, lưu trú, vận
chuyển và ăn uống vẫn còn chiếm tỉ trọng khá lớn trong giá thành của các sản
phẩm du lịch Việt Nam. Mặt khác tuỳ theo khả năng chi trả, sở thích của du
khách, hiện trạng và khả năng cung ứng của đối tác mà trong từng chuyến đi
du lịch cụ thể với họ, du khách có thể được bố trí nghỉ lại cơ sở lưu trú phù
hợp. Có thể là ở khách sạn, motel, nhà trọ thanh niên, camping, bungalow, làng
du lịch.
2.7 Phân loại theo hình thức tổ chức
Theo tiêu chí này người ta phân chia thành du lịch tập thể, du lịch cá thể và
du lịch gia đình.
2.8Phân loại theo độ dài chuyến đi
Có du lich ngắn ngày và du lịch dài ngày.
2.9 Phân loại theo phương thức hợp đồng
Có du lịch trọn gói và du lịch từng phần
II sự cần thiết phải có sự quản lí của nhà nước đối với các
Hoạt động du lịch
1. Vai trò của du lịch đối với tổng thể nền kinh tế- xã hội của quốc

Trong quá trình hoạt động, du lịch đòi hỏi số lượng lớn vật tư và hàng hoá đa
dạng. Ngoài ra việc khách mang tiền đến tiêu ở vùng du lịch góp phần làm
sống động kinh tế ở vùng du lịch và đất nước du lịch. Du lịch góp phần huy
động nguồn vốn rỗi rãi trong nhân dân vào vòng chu chuyển, vì chi phí cho
hành trình du lịch là từ tiền tiết kiệm của dân.
Thông qua lĩnh vực lưu thông mà du lịch có ảnh hưởng tích cực lên sự phát
triển của nhiều ngành công nghiệp và nông nghiệp (như công nghiệp sản xuất
vật liệu xây dựng, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp gỗ, công nghiệp dệt,
nghành trồng trọt, nghành chăn nuôi...). Du lịch luôn đòi hỏi hàng hoá có chất
lượng cao, phong phú về chủng loại, mỹ thuật và hình thức. Do vậy, du lịch góp
phần định hướng cho sự phát triển của các nghành ấy trên một số mặt: số
lượng, chất lượng, chủng loại sản phẩm và việc chuyên môn hoá các xí nghiệp
trong sản xuất. Ảnh hưởng của du lịch lên sự phát triển các ngành trong nền
kinh tế quốc dân như: thông tin, xây dựng, y tế, thương nghiệp, văn hoá... cũng
rất lớn. Sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch cuả một vùng không chỉ thể hiện ở
chỗ những nơi đó có tài nguyên du lịch mà bên cạnh chúng phải có cả cơ sở vật
chất kĩ thuật, hệ thống đường sá, nhà ga, sân bay, bưu điện, ngân hành, mạnh
lưới thương nghiệp... Việc tận dụng đưa những nơi có tài nguyên du lịch vào
sử dụng, kinh doanh đòi hỏi phải xây dựng ở đó hệ thống đường sá, màng lưới
thương nghiệp, bưu điện... qua đó cũng kích thích sự phát triển tương ứng của
các nghành liên quan. Ngoài ra, du lịch phát triển còn đánh thức một số ngành
thủ công cổ truyền.
Kinh tế du lịch góp phần làm tăng thu nhập quốc dân trên 2 mặt sáng tạo và
sử dụng. Hoạt động du lịch quốc tế là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất
nước. Ngoại tệ thu được từ du lịch quốc tế làm sống động cán cân thanh toán
của đất nước và thường được sử dụng để mua sắm máy móc thiết bị cần thiết
cho quá trình tái sản xuất hội. Do vậy du lịch quốc tế góp phần xây dựng cơ sở
vật chất kĩ thuật cho đất nước. Cũng như ngoại thương, du lịch quốc tế tạo
điều kiện cho đất nước tiết kiệm lao động xã hội khi xuất khẩu một số mặt
hàng. Do đó, du lịch còn là một nghành xuất khẩu (xuất khẩu tại chỗ). Việc

triển Du Lịch Việt Nam(1995-2010) đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt
theo quyết định 307/TTg ngày24 tháng5 năm1995. Tuy nhiên, sự phát triển du
lịch Việt Nam chỉ mới bắt đầu. Sau 10 năm đổi mới, du lịch Việt Nam đã đạt
những kết quả đáng kể. Trong những năm gần đây, doanh thu và nộp ngân
sách nhà nước của ngành du lịch tăng trưởng ở mức độ cao. Thời kì 1994-
1997 có tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 30% năm. Tỉ trọng GDP từ
ngành du lịch thời kì này khoảng12%, mức đóng góp cúa ngành du lịch vào
ngân sách nhà nước bình quân gần 800 tỉ đồng/năm. Ngành du lịch đã thu hút
lực lượng lao động trực tiếp trên 150 nghìn người ; đây là kết quả bước đầu
của quá trình đổi mới ngành du lịch Việt Nam.
2. Tiềm năng du lịch nước ta
2.1 Vùng du lịch Bắc Bộ
II a)Tiềm năng du lịch
Vùng du lịch Bắc Bộ có tiềm năng du lịch rất phong phú, đa dạng và có sức hấp
dẫn thật lớn chẳng những đối với khách du lịch trong nước mà còn đối với
khách du lịch nước ngoài và bà con Việt kiều ở xa tổ quốc, có khả năng đấp
ứng yêu cầu của nhiều loại hình du lịch với các loại đối tượng khác nhau và
khả năng tiếp nhận số lượng lớn khách du lịch.
Về mặt tự nhiên, trước hết ở vùng này có rất nhiều cảnh đẹp. Cảnh thiên
nhiên ở đây có những nét hùng vĩ, thơ mộng của núi rừng như thị trấn Sa Pa ở
độ cao 1500m trên mực nước biển , mờ ảo trong sương mù như treo trên sườn
của dãy Hoàng Liên Sơn cao ngất, là một trong những nơi nghỉ mát nổi tiếng ở
Việt Nam, cũng có khi ồn ào sôi động như ở các thác nước Bản Giốc, Đầu
Đẳng( Cao Bằng) hoặc cảnh tĩnh mịch trong những cánh rừng già nguyên sinh
như ở các Vườn Quốc Gia Cúc Phương ( Ninh Bình), Ba Vì( Hà Tây), đảo Cát Bà
(Hải Phòng) với hệ sinh thái rừng rậm nhiệt đới rất điển hình, hoàn toàn làm
thoả mãn trí tò mò của các du khách và lòng say mê nghiên cứu của các nhà
khoa học; có những nét bí hiểm, lạ mắt của các hang động như ở Hương
Sơn( Hà Tây) được mệnh danh là “ Nam thiên đệ nhất động” khiến khách du
lịch ai mà chẳng muốn đến đó dù chỉ một lần; có những bãi biển cát trắng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status