Sự quan tâm của cha mẹ đến vị thành niên và quan hệ tình dục trước hôn nhân của vị thành niên - Pdf 12

20 Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Sự quan tâm của cha mẹ đến vò thành niên
và quan hệ tình dục trước hôn nhân của
vò thành niên
Bùi Thò Tú Quyên (*); Trần Hữu Bích (*);
Lê Minh Thi (*); Nguyễn Thanh Nga (*)
Nghiên cứu sử dụng phiếu phỏng vấn đònh lượng cho 2.252 cha mẹ vò thành niên lứa tuổi 13 - 19 với
mục tiêu: 1) Mô tả sự quan tâm giữa cha mẹ với vò thành niên tại Chí Linh- Hải Dương; 2) Xác đònh
mối liên quan giữa sự quan tâm của cha mẹ với quan hệ tình dục trước hôn nhân của vò thành niên
(VTN). Các tác giả đã kết nối thông tin về sự quan tâm của cha mẹ với các thông tin về quan hệ tình
dục trước hôn nhân (QHTDTHN) của VTN có trong nghiên cứu tổng thể về sức khỏe VTN ở
CHILILAB. Các kỹ thuật phân tích mô tả, phân tích mối liên quan hai biến, phân tích nhân tố, hồi
qui đa biến đã được sử dụng. Kết quả cho thấy phần lớn cha mẹ ở CHILILAB có quan tâm đến VTN.
Kết quả: Tỷ lệ cha mẹ quan tâm đến VTN cao ở cả 4 khía cạnh. Sự quan tâm của cha mẹ, đặc biệt là
quan tâm đến bạn bè, tâm trạng và VTN đi đâu, làm gì chính là yếu tố bảo vệ VTN trước hành vi
QHTDTHN. Khuyến nghò: Các bậc cha mẹ cần quan tâm đến đến VTN để giảm thiểu khả năng VTN
có QHTDTHN. Các nhà nghiên cứu và tổ chức xã hội nên có hoạt động nhằm tăng cường sự quan
tâm của cha mẹ với VTN.
Từ khóa: Vò thành niên, quan hệ tình dục trước hôn nhân, sự quan tâm của cha mẹ, CHILILAB,
Việt Nam
Parental care and premarital sexual
intercourse among adolescents in Chililab
Bui Thi Tu Quyen (*); Tran Huu Bich (*); Le Minh Thi (*); Nguyen Thanh Nga (*)
A household survey was conducted with 2,252 parents of adolescents aged between 13-19 with the
following objectives: 1) To describe the parental care for their adolescents 2) To determine the
relationship between the parental care and premarital sexual intercourse among adolescents. Data
about parental care was linked with socio-economic data from DSS-CHILILAB. It also was linked
with premarital sexual intercourse data from the overall study of adolescents 2010 (AH1-round 2).
The factor analysis and multivariate logistics regression model were used for analyzing the data.
Results: The proportion of parents who care for their adolescents was high in all 4 aspects. Parent's

nghiên cứu đã cho thấy cha mẹ đóng vai trò quan
trọng trong cuộc sống của VTN. Resnick và cộng sự
[8] đã chỉ ra rằng nếu mối quan hệ giữa cha mẹ và
con cái tốt thì VTN sẽ ít có những hành vi nguy cơ
với sức khỏe cũng như ít có QHTD và mang thai ở
lứa tuổi VTN. Những VTN cảm thấy gần gũi, gắn
bó với cha mẹ và gia đình cũng thường trì hoãn việc
quan hệ tình dục lần đầu nhiều hơn những VTN
khác [8].
Nghiên cứu của Christine và cộng sự [4] tiến
hành trên 976 học sinh trung học phổ thông
Houston, Mỹ đo lường mối liên quan giữa sự gắn kết
với gia đình của VTN và hành vi tình dục. Trong sự
gắn kết tác giả cũng đề cập đến sự quan tâm như
"Cha mẹ thường không quan tâm đến những gì tôi
nói hoặc tôi làm"… Kết quả cho thấy có mối liên
quan giữa sự kết nối nói chung và sự quan tâm nói
riêng của cha mẹ với VTN và QHTDTHN của VTN.
Trong nghiên cứu dọc về các hành vi tình dục nguy
cơ trong nhóm VTN Canada và VTN Italia [5], các
tác giả đo lường sự quan tâm đến VTN/TN của cha
mẹ dựa trên câu hỏi với thang đo Likert. Kết quả
cho thấy cha mẹ có sự quan tâm và giám sát VTN
thì VTN cũng ít có hành vi tình dục nguy cơ hơn
những VTN khác.
CHILILAB được xây dựng thành điểm thực đòa
chính thức của trường Đại học Y tế Công cộng từ
năm 2001, CHILILAB được đặt trên đòa bàn huyện
Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Hiện tại ở CHILILAB,
trường Đại học Y tế Công cộng đã thành lập một hệ

đình bao gồm tình trạng kinh tế hộ, các đặc điểm về
nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu được lấy
từ số liệu điều tra dân số học năm 2009 của
CHILILAB. Tình trạng kinh tế hộ gia đình được tính
toán gián tiếp dựa trên tài sản, vật dụng cố đònh của
hộ gia đình và được phân thành 5 nhóm với tỷ lệ
bằng nhau (Q1 đến Q5), trong đó phân loại Q1 là
nhóm Nghèo nhất, nhóm Q2 là nhóm cận nghèo; Q3
là nhóm kinh tế trung bình; Q4 là nhóm có kinh tế
khá giả và Q5 là nhóm giàu nhất.
Biến độc lập-Sự quan tâm của cha mẹ đến VTN
Sự quan tâm là việc cha mẹ biết, để ý đến các
hoạt động, tâm trạng của VTN. Trong nghiên cứu
này, sự quan tâm của cha mẹ được phân thành 4
nhóm dựa trên phân tích nhân tố:
- Quan tâm đến việc học và hoạt động ở trường
- Quan tâm đến bạn bè của VTN
- Quan tâm đến tâm trạng của VTN
- Quan tâm VTN đi đâu, làm gì
Các khía cạnh cụ thể của từng nhân tố về sự
quan tâm được chia thành hai giá trò: Có và Không.
Ví dụ: Cha mẹ có quan tâm đến việc học ở trường
của VTN và Cha mẹ không quan tâm đến việc học
ở trường của VTN. Sự phân đối tượng vào các nhóm
dựa trên sự tổng hợp của các câu hỏi đơn lẻ nằm
trong các khía cạnh được đánh giá. Cụ thể như sau:
- Các câu trả lời Không biết/ không trả lời (điểm
3 trong thang điểm Likert 5 mức độ) được bỏ ra
ngoài, không đưa vào tổng hợp.
- Các đối tượng được đánh giá là "Có quan tâm"

Cụ thể trong mối liên quan giữa sự quan tâm của
cha mẹ đến VTN và QHTDTHN chúng tôi phân
tích dưới hai cấp độ:
- Phân tích đơn biến: Biến phụ thuộc là
QHTDTHN, biến độc lập là các khía cạnh riêng rẽ
về sự quan tâm của cha mẹ đến VTN (4 khía cạnh).
- Phân tích đa biến: Biến phụ thuộc là
QHTDTHN; biến độc lập chính là các khía cạnh
của sự quan tâm, các biến độc lập khác có trong mô
hình với vai trò biến nhiễu là các biến về đặc điểm
dân số - kinh tế. Biến độc lập được đưa vào mô hình
dựa trên phân tích đơn biến và y văn. Phương pháp
được sử dụng là backward - sau khi chạy backward,
mô hình được lựa chọn là mô hình phù hợp nhất.
Với các biến được giữ lại từ mô hình được chạy
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23) 23
backward chúng tôi đã chạy lại với phương pháp
Enter để tối đa hóa số lượng đối tượng đưa vào
phân tích.
Sau khi kết nối với thông tin về QHTHTHN của
VTN, tỷ lệ VTN không trả lời câu hỏi về hành vi
QHTDTHN là 25%, trong các phân tích mối liên
quan (đơn biến và đa biến) chúng tôi đã loại các đối
tượng này ra khỏi các mô hình.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Trong tổng số 2.252 đối tượng phỏng vấn có
41,7% là cha của VTN và 58,3% là mẹ của VTN,
tuổi trung bình của các cha mẹ VTN tham gia

nơi VTN đi đâu khi ra ngoài cũng như những việc
VTN làm trong thời gian rảnh cao, có đến gần 90%
số cha mẹ được hỏi quan tâm đến vấn đề này.
Những cha mẹ còn lại là "không quan tâm" khi có
câu trả lời "rất không đồng ý" hoặc "không đồng ý",
và một tỷ lệ nhỏ cha mẹ không trả lời (Bảng 2).
Bảng 1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
* Tình trạng hôn nhân khác: Chưa kết hôn, chung sống
như vợ chồng
** Nghề khác: Nghề thủ công, học sinh/sinh viên, nội trợ, thất
nghiệp, học nghề
Bảng 2. Sự quan tâm của cha mẹ với vò thành niên,
thanh niên*
* Sự xếp nhóm các tiểu mục dựa trên phân tích nhân tố
(Factor analysis)
24 Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Sự quan tâm của cha mẹ đến VTN được tổng
hợp thành 4 nhân tố từ các câu hỏi đơn lẻ và được
phân thành 2 nhóm: có quan tâm, không quan tâm.
Kết quả trình bày trong biểu đồ 2 cho thấy có 78,4%
cha mẹ quan tâm đến việc học của VTN; 83,8% cha
mẹ quan tâm đến bạn bè của VTN. Tỷ lệ cha mẹ
quan tâm đến tâm trạng của VTN là 86,9% và có tới
83,4% cha mẹ quan tâm đến VTN đi đâu, làm gì,
còn lại là không quan tâm và không có ý kiến.
3.3. Mối liên quan giữa sự quan tâm của
cha mẹ đến vò thành niên và quan hệ tình
dục trước hôn nhân
Bảng 3.1 cho thấy có mối liên quan giữa sự

4.1 Sự quan tâm của cha mẹ với VTN
Phân tích nhân tố (Factor analyze) đã xếp sự
quan tâm của cha mẹ đến VTN thành 4 nhóm: Quan
tâm đến việc học, quan tâm đến bạn bè, quan tâm
đến tâm trạng, quan tâm VTN đi đâu làm gì. Có thể
thấy, nhìn chung cha mẹ có quan tâm đến VTN trên
cả 4 khía cạnh. Đây là một trong những đặc điểm
Biểu đồ 2. Phân bố sự quan tâm của cha mẹ với VTN
Bảng 3.1. Mối liên quan đơn biến giữa sự quan tâm
của cha mẹ VTN với việc có Quan hệ tình
dục trước hôn nhân của vò thành niên
Bảng 3.2. Mô hình đa biến phân tích mối liên quan
giữa một số yếu tố với quan hệ tình dục
trước hôn nhân của vò thành niên
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23) 25
gia đình Việt Nam, cha mẹ thường quan tâm đến
con cái đặc biệt sự quan tâm này ở nhiều gia đình
được thể hiện nhiều hơn khi con bước vào tuổi VTN
[3]. Tuổi VTN là một lứa tuổi đặc biệt, VTN có sự
thay đổi rất lớn về tâm sinh lý, từ trẻ con thành
người lớn, người trưởng thành. Khác với khi con còn
nhỏ, cha mẹ nhiều khi chỉ quan tâm nhiều đến việc
ăn uống, học hành của trẻ… thì khi trẻ lớn hơn, có
nhiều mối quan hệ hơn, sự giao tiếp xã hội cũng
nhiều hơn và độc lập hơn thì cha mẹ đã quan tâm
đến cả bạn bè của con cũng như con đi đâu, làm gì…
đây là một trong những điểm rất tốt để cha mẹ có
thể gần gũi hơn với con, giúp đỡ con khi gặp phải
những khó khăn xuất hiện trong cuộc sống khi tính

thức được điều này, ngoài việc quan tâm đến việc
học hành của con, cha mẹ VTN cũng quan tâm đến
tâm trạng của VTN qua việc nhận biết được những
điều con đang lo lắng, nhận biết được tâm trạng của
con cũng như cha mẹ coi những vấn đề VTN gặp
phải cũng chính là những vấn đề của cha mẹ - đây
là một điều rất quan trọng vì nếu coi vấn đề của con
như chính vấn đề của mình thì cha mẹ sẽ cùng con,
giúp đỡ con đối mặt với những vấn đề đó.
Tổng hợp 4 khía cạnh của sự quan tâm, có 78%
cha mẹ được đánh giá là có quan tâm đến việc học
của VTN, 83% quan tâm đến bạn bè của VTN, 87%
quan tâm đến tâm trạng của con và 83% quan tâm
VTN đi đâu, làm gì. Còn lại là những người cha,
người mẹ không quan tâm đến VTN hoặc có quan
tâm nhưng mức độ quan tâm còn quá ít, chưa đủ. Có
thể nói với một đòa bàn như CHILILAB, sự quan
tâm của cha mẹ VTN như vậy là tương đối cao trong
bối cảnh có đến 95% cha mẹ có từ 02 con trở lên -
điều này đồng nghóa với việc cha mẹ phải san sẻ sự
quan tâm của mình cho những người con khác nhau,
ngoài ra các đặc điểm về kinh tế - xã hội của các hộ
gia đình trong mẫu nghiên cứu cũng chưa phải tốt
(nghề nghiệp của cha mẹ, kinh tế hộ gia đình) đặc
biệt ở vùng nông thôn - với việc cha mẹ làm ruộng
hay hộ gia đình không nghèo, gia đình nhiều
con….đây có thể là những yếu tố cản trở sự quan tâm
của cha mẹ đến VTN. Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi cũng tương đương với kết quả nghiên cứu
của tác giả Đặng Cảnh Khanh [2] dưới góc độ sự

tương đối lớn VTN không trả lời câu hỏi này (25%)
- sau khi bỏ ra những đối tượng không phù hợp
(không có thông tin để phân tích) chỉ còn lại 1632
đối tượng được phân tích trong mô hình. Ngoài ra
cũng cần nhắc đến những sai số thông tin do đối
tượng cung cấp thông tin khi đối tượng (VTN)
không cung cấp đúng sự thật (đã có QHTDTHN
nhưng trả lời là không hoặc từ chối trả lời), một sai
số luôn gặp trong các nghiên cứu cắt ngang.
Kết quả nghiên cứu tại CHILILAB cho thấy để
giảm thiểu khả năng có QHTDTHN, các bậc cha
mẹ cần quan tâm đến bạn bè, tâm trạng của VTN
và quan tâm đến việc VTN đi đâu, làm gì. Các tổ
chức xã hội (Hội phụ nữ…) nên có các chương trình
động viên sự quan tâm của cha mẹ đến VTN để giúp
VTN tránh hành vi QHTDTHN nói riêng cũng như
để giúp VTN có sự phát triển tốt về thể chất, tinh
thần và hành vi sức khỏe.
Lời cảm ơn
Để hoàn thành nghiên cứu này nhóm nghiên
cứu xin chân thành cảm ơn:
- Văn phòng thực đòa Chililab- Trường Đại học
Y tế công cộng
- Dự án Ford- Trường Đại học Y tế công cộng:
Đã hỗ trợ kinh phí cho nghiên cứu
- Cơ sở thực đòa Chililab- Chí Linh, Hải Dương:
Các điều phối viên, giám sát viên, nhập liệu viên
và điều tra viên của Chililab.
- Toàn thể người cha, mẹ của VTN đã tham gia
nghiên cứu.

harm: findings from the National Longitudinal Study on
Adolescent Health" Journal of the American Medical
Association, 278(10): 823-832.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status