| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13) 17
Bài viết nghiên cứu này sử dụng kó thuật phân tích dọc (ước lượng Kaplan Meier, mô hình hồi qui
Cox) và phân tích nhò biến (bivariate) tìm hiểu đặc điểm tuổi dậy thì, hành vi quan hệ tình dục
(QHTD) ở vò thành niên (VTN) và yếu tố liên quan. Số liệu sử dụng phân tích là từ điều tra nghiên
cứu sức khoẻ 9300 vò thành niên tại huyện Chí Linh, Hải Dương - cơ sở thực đòa của Trường đại học
Y tế Công cộng. Tuổi dậy thì ở nam VTN là 15,1 tuổi và ở nữ là 14,1 tuổi. Nữ dậy thì sớm hơn nam,
nhóm tuổi trẻ hơn có tuổi dậy thì sớm hơn, VTN thành thò dậy thì sớm hơn VTN nông thôn, VTN có
điều kiện kinh tế khá giả hơn dậy thì sớm hơn, khác biệt có ý nghóa thống kê (p<0.001 hoặc p<0.01).
Ứơc lượng Kaplan Meier thấy xu hướng tuổi dậy thì ở nam nữ VTN ngày càng sớm hơn trong đoàn
hệ VTN tuổi trẻ hơn. Mô hình hồi qui Cox cho thấy tỷ lệ dậy thì ở nam VTN chủ yếu ở học sinh cấp
2. Nữ VTN thành thò, nữ có điều kiện kinh tế khá giả hơn và nữ có tình trạng sức khoẻ tốt hơn dậy
thì sớm hơn.
Tỷ lệ VTN chưa kết hôn đã QHTD là 0,9% (1,4% nam và 0,3% nữ). Trong VTN trả lời câu hỏi về
QHTD (không tính từ chối trả lời) thì có 1,7% nam và 0,4% nữ VTN trả lời đã QHTD. Tuổi QHTD
lần đầu ở nam VTN là 16,2 tuổi và ở nữ là 16,1 tuổi. VTN nhóm 10-14 tuổi QHTD lần đầu sớm hơn
nhóm 15-19 tuổi (P<0.001). Ứơc lượng Kaplan Meier thấy xu hướng tuổi QHTD ở nam VTN ngày
càng sớm hơn trong đoàn hệ tuổi trẻ hơn. Chưa thấy bằng chứng xu hướng tuổi QHTD ở nữ sớm hơn
trong đoàn hệ tuổi trẻ hơn (P>0.05). Mô hình hồi qui Cox cho thấy nam VTN dậy thì sớm hơn có
QHTD sớm hơn, nam VTN bò lạm dụng tình dục có nguy cơ QHTD gấp 58 lần VTN không bò lạm dụng
tình dục. Chưa thấy biến số liên quan có ý nghóa dự đoán tỷ lệ QHTD lần đầu ở nữ.
Từ khoá: Dậy thì, quan hệ tình dục, vò thành niên
Applying survival and bivariate analysis to
explore the pubertal onset and sexual behavior
among adolescents in Chi Linh,
Hai Duong province
Nguyen Van Nghi (*), Vu Manh Loi (**), Le Cu Linh (*)
Sử dụng kó thuật phân tích dọc và phân tích
nhò biến tìm hiểu đặc điểm tuổi dậy thì và
quan hệ tình dục ở vò thành niên tại Chí Linh,
Hải Dương
số 138 Giảng Võ, Hà nội. ĐT: 0912232404. Email: [email protected], nghò[email protected]
- TS Lê Cự Linh, giảng viên trường Đại học YTCC. ĐT: số 138 Giảng võ, Hà nội. ĐT: 0913012848
(**) PGS.TS Vũ Mạnh Lợi, Viện Xã hội học. ĐT: 0912013779
1. Đặt vấn đề
Vò thành niên (VTN) 10 - 19 tuổi là giai đoạn
đặc biệt của cuộc đời, giai đoạn phát triển tâm sinh
lý, cơ thể và đặc điểm cá nhân từ trẻ con sang giai
đoạn trưởng thành. Trong giai đoạn này VTN có
thể có các thay đổi chuyển tiếp (như học và thôi
học, chưa đi làm và đi làm, chưa yêu và yêu, chưa
quan hệ tình dục và có thể có quan hệ tình dục )
và phải ra nhiều quyết đònh quan trọng trong cuộc
sống trong khi kinh nghiệm sống và các kiến thức
về tâm sinh lý, về xã hội, nghề nghiệp còn chưa
đònh hình ổn đònh [7].
Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở Việt
Nam năm 1999, VTN 10-19 tuổi chiếm 22,7% dân
số, theo số liệu điều tra biến động dân số kế hoạch
hoá gia đình 1/4/2005 thì VTN chiếm 21,2% [3].
Lứa tuổi vò thành niên tuy tham gia vào lực lượng
sinh sản không lớn, tỷ suất sinh riêng thấp song lại
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13) 19
là lực lượng kế cận tham gia vào đời sống tình dục
và sinh đẻ. Hội nghò Dân số quốc tế năm 1994 tại
Cairô (Ai Cập) nhấn mạnh vấn đề chăm sóc sức
khoẻ sinh sản (SKSS) thanh niên/vò thành niên và
coi đó là một nội dung quan trọng trong chương
trình chăm sóc SKSS. Từ năm 1995, Việt Nam đã
tăng cường, mở rộng các hoạt động chăm sóc SKSS
thời gian phơi nhiễm của các cá nhân trong mỗi
đoàn hệ tuổi đó. Nói cách khác phân tích dọc ước
lượng xác xuất có sự kiện và tuổi trung bình có sự
kiện trong từng đoàn hệ tuổi với tổng thời gian phơi
nhiễm tương ứng, từ đó so sánh tuổi trung bình và
xác xuất có sự kiện trong các đoàn hệ tuổi để thấy
sự khác nhau và xu hướng thay đổi theo thời gian
qua các đoàn hệ tuổi VTN.
Bài viết nghiên cứu này sử dụng kó thuật phân
tích dọc và phân tích nhò biến để tìm hiểu đặc điểm
tuổi dậy thì và QHTD ở VTN và một số yếu tố liên
quan (tuổi, giới tính, nơi ở, điều kiện kinh tế, học
vấn). Số liệu phân tích được trích xuất từ bộ số liệu
điều tra sức khoẻ thanh thiếu niên tại cơ sở thực đòa
Chililab, huyện Chí Linh, Hải Dương [4].
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả dọc (longitudinal) về sức
khỏe thanh thiếu niên tại huyện Chí Linh, tỉnh Hải
Dương gồm các mô đun khác nhau, tiến hành thu
thập số liệu đònh kì trong nhiều năm về tình trạng
sức khoẻ thanh thiếu niên (TTN), yếu tố nguy cơ,
yếu tố bảo vệ hành vi liên quan sức khoẻ và kết nối
giữa bố mẹ và TTN.
Các thông tin về tình trạng sức khoẻ của TTN
như sự trải nghiệm các hành vi không có lợi cho sức
khoẻ, kiến thức, thái độ, hành vi của TTN về dậy
thì, QHTD, SKSS được thu thập trong mô đun 1 tiến
hành 2 năm một lần. Vòng điều tra cơ bản của mô
đun 1 được tiến hành từ tháng 7 - 12/2006. Tất cả
TTN 10-24 tuổi cư trú tại đòa phương theo qui đònh
20 Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
không hợp lệ (left censor) sẽ không được đưa vào
biến tổ hợp để tính toán. Các biến số độc lập gồm
biến số tuổi, giới tính, nơi ở, học vấn, điều kiện kinh
tế gia đình, tình trạng sức khoẻ của VTN. Kó thuật
phân tích dọc ước lượng xác xuất có sự kiện và tuổi
trung bình có sự kiện của VTN trong mỗi đoàn hệ
tuổi tính đến tổng thời gian phơi nhiễm của VTN
trong mỗi đoàn hệ đó, qua đó thấy được xu hướng
khác nhau trong các đoàn hệ tuổi VTN khác nhau.
Ví dụ có 2 VTN 15 tuổi khi điều tra trong đó 1 VTN
đã QHTD năm 14 tuổi (thời gian phơi nhiễm là 4
năm) và 1 VTN chưa QHTD (thời gian phơi nhiễm
là 5 năm). Có 2 VTN khác 18 tuổi trong đó 1 VTN
đã QHTD năm 17 tuổi (thời gian phơi nhiễm là 7
năm) và 1 VTN chưa QHTD (thời gian phơi nhiễm
là 8 năm). Nếu phân tích cắt ngang thấy xác suất có
QHTD trong VTN nhóm 15 tuổi và 18 tuổi là ½ như
nhau (50%). Phân tích dọc ước lượng xác suất
QHTD (theo số năm phơi nhiễm) của VTN nhóm 15
tuổi là 1/9 cao hơn nhóm VTN 18 tuổi là 1/15.
3. Kết quả nghiên cứu
Trong tổng số 9300 VTN 10-19 tuổi được điều
tra, dân tộc Kinh chiếm 99,7%, không tôn giáo
99,9%, học sinh 85,1%. Có 99% VTN là chưa kết
hôn, 0,8% VTN đã kết hôn, một tỷ lệ rất nhỏ li thân,
góa. Giá trò Phi và Cramer's V < 0.01 giữa các nhóm
tình trạng hôn nhân cho thấy tác động của cỡ mẫu
(effect size) là rất nhỏ về sự kiện dậy thì và QHTD
VTN
Tuổi TB
dậy thì
Tỷ lệ %
đã dậy thì
Số
lượng
VTN
Tuổi TB
dậy thì
Tỷ lệ % đã
dậy thì
Nhóm tuổi
10-14 tuổi
2212
13.2
53.7
2025
13
53.2
15-19 tuổi
2508
15.7
83.1
Nghèo
1313
15.1
67.6
1251
14.3
71.7
Trung bình
1781
15.1
68.8
1683
14.3
76
Khá, giầu
1626
14.9
71.1
1566
13.8
81.6
Tổng chung
4720
15.1
69.3
4500
14.1
77
10-14 tuổi
197
13.2
-19
<0.001
639
13
-26
<0.001
15-19 tuổi
591
15.7 1863
14.5 Thành thò
390
15
-2.8
<0.01
1338
14
-9
<0.001
Nông thôn
398
15.3
VTN theo điều kiện kinh tế thấy ở nam, phương sai
không đồng nhất (Levene=3,8, p<0.05) chưa thấy
bằng chứng sự khác nhau tuổi dậy thì theo các nhóm
điều kiện kinh tế (F = 1.2, p>0.05), Post Hoc Test
Dunnett' T3 không có ý nghóa thống kê (p>0.05). Ở
nữ thấy phương sai đồng nhất (Levene=0.2,
p>0.05), nữ điều kiện kinh tế khá giả hơn dậy thì
sớm hơn (F = 38.4, p<0.001), Post Hoc Test LSD
có ý nghóa thống kê (p<0.001).
Phân tích nhóm VTN cùng độ tuổi với điều tra
SAVY (14 - 19 tuổi) thấy tuổi dậy thì nam là 15,5
tuổi cao hơn điều tra SAVY (15,1 tuổi) so sánh cùng
khu vực đồng bằng bắc bộ (t=7, p<0.001) và tuổi
dậy thì nữ là 14,3 tuổi cao hơn kết quả SAVY 14
tuổi (t=12, p<0.001).
Tìm hiểu xu hướng tuổi dậy thì của VTN thay
đổi như thế nào theo thời gian và yếu tố liên quan
(giả đònh yếu tố liên quan không thay đổi), mô hình
phân tích dọc (ước lượng Kaplan Meier và Hồi qui
Cox) được sử dụng. Tổ hợp biến thời gian (sống)
đến khi dậy thì không bao gồm các trường hợp tuổi
dậy thì bò mất (không nhớ, từ chối trả lời) hoặc lớn
hơn tuổi khi điều tra (không hợp lệ). Kết quả có 650
nam và 2309 nữ VTN đã dậy thì được đưa vào biến
tổ hợp. Phân tích Kaplan Meier theo giới tính thấy
tuổi dậy thì ở nam muộn hơn nữ (biểu đồ 2) , khác
biệt có ý nghóa (Log Rank -Mantel-Cox ÷2=943.6,
p<0.001).
Ước lượng Kaplan Meier thấy tuổi dậy thì nam
có xu hướng ngày càng sớm hơn trong VTN trẻ tuổi
nữ theo tình trạng sức khoẻ (không trình bày bảng
số liệu kết quả ở đây).
Phân tích hồi qui Cox về tuổi dậy thì nữ và một
số yếu tố liên quan (tuổi, nơi ở, học vấn, điều kiện
kinh tế, tình trạng sức khoẻ), giá trò Omibus test (
χ2
= 368.6, p>0.05) phản ánh mô hình hồi qui phù hợp.
Kết quả là biến số nơi ở, điều kiện kinh tế (tỷ lệ
thuận) liên quan có ý nghóa thống kê với tỷ lệ dậy
thì ở nữ VNT. Tỷ lệ nữ VTN thành thò đã dậy thì gấp
1,3 lần nữ nông thôn (Wald = 25.6, p<0.001; OR =
1.3, CI=1.2-1.4). Tỷ lệ nữ VTN điều kiện kinh tế
khá giả đã dậy thì gấp 1,3 lần nữ kinh tế nghèo
(Wald = 13, p<0.001; OR = 1.3, CI=1.1-1.4).
Phân tích về hành vi QHTD ở VTN thấy tỷ lệ
VTN chưa kết hôn trả lời đã QHTD là 0,9% (1,4%
nam và 0,3% nữ). Trong số VTN trả lời câu hỏi về
QHTD (không tính từ chối trả lời) thì có 1,7% nam
và 0,4% nữ VTN trả lời đã QHTD. Nhóm VTN 10 -
14 tuổi đã QHTD ít hơn nhóm 15-19 tuổi, sự khác
biệt có ý nghóa thống kê (P<0.01). Chưa thấy bằng
chứng sự khác biệt về tỷ lệ QHTD giữa VTN thành
thò và nông thôn. Tỷ lệ VTN QHTD với bạn bè quen
ở VTN nông thôn cao hơn thành thò, sự khác nhau
có ý nghóa. Tuy nhiên hệ số Phi, Cramer's V nhỏ
phản ánh tác động của cỡ mẫu trong các phân nhóm
nhỏ do tần xuất sự kiện QHTD nhỏ (giá trò 0.1-0.3
là được, 0.3-0.5 là trung bình, trên 0.5 là tốt, giá trò
khuyến nghò >0.3).
Phân tích theo điều kiện kinh tế gia đình thấy
Đã từng QHTD
Số lượng VTN trả lời
3902
3949
3840
4011
3427
4424
Số lượng đã QHTD
66
14
36
44
15
65
Tỷ lệ %
1.7
0.4
0.9
1.1
0.4
1.5
χ2, P
χ2=34.8, P<0.001
54
Tỷ lệ %
1.4
0.2
0.7
0.9
0.2
1.2
χ2, P
χ2=38.4, P<0.001
χ2=1, P>0.05
χ2=27.6, P<0.001
OR, CI
OR=9, CI=3.9-21
OR=0.8, CI=0.5-1.3
OR=0.2, CI=0.1-0.3
Phi, Cramer’s V
0.1
0.01
0.1
QHTD với bạn quen
Số lượng VTN trả lời
3745
3829
QHTD với họ hàng
Số lượng VTN trả lời
3773
3844
3730
3887
3259
4358
Số lượng đã QHTD
18
12
10
20
24
6
Tỷ lệ %
0.5
0.3
0.3
0.5
0.7
0.1
χ2, P
χ2=1.3, P>0.05
12
Tỷ lệ %
0.5
0
0.2
0.3
0.2
0.3
χ2, P
χ2=18, P<0.001
χ2=0.7, P>0.05
χ2=0.6, P>0.05
OR, CI
***
OR=0.7, CI=0.3-1.7
OR=0.7, CI=0.3-1.8
Phi, Cramer’s V
0.1
0.01
0.01
Bảng 6. Khác nhau về QHTD chia theo giới tính,
nơi ở, nhóm tuổi
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13) 23
Kiểm đònh t test về tuổi QHTD lần đầu theo
nhóm tuổi, thành thò, nông thôn thấy tuổi QHTD lần
đầu ở VTN nhóm 10-14 tuổi thấp hơn nhóm 15-19
tuổi (p<0.001). Chưa thấy bằng chứng khác nhau
tuổi QHTD lần đầu giữa VTN thành thò và nông
một số biến số liên quan (tuổi, tuổi dậy thì, nơi ở,
học vấn, điều kiện kinh tế, đã từng bò lạm dụng tình
dục), giá trò Omibus test
χ2 = 32, P<0.001 phản ánh
mô hình hồi qui phù hợp. Kết quả là biến số tuổi dậy
thì có liên quan tỷ lệ nghòch và biến số bò lạm dụng
tình dục (QHTD bò ép buộc) liên quan tỷ lệ thuận
có ý nghóa thống kê dự đoán tỷ lệ QHTD lần đầu ở
Biểu đồ 3. Tuổi VTN QHTD và tuổi người QHTD
với VTN
Bảng 7. Khác nhau tuổi QHTD lần đầu theo nơi ở,
nhóm tuổi
Bảng 8. VTN đã QHTD theo giới tính, độ tuổi
Bảng 9. Ước lượng tuổi QHTD lần đầu ở nam theo
độ tuổi
(Không có nam dưới 13 tuổi QHTD)
24 Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
nam VTN. Khi tuổi dậy thì tăng lên 1 tuổi (dậy thì
muộn hơn) thì tỷ lệ QHTD giảm đi 42% so với tuổi
dậy thì trước đó (Wald = 12.3, p<0.001; OR = 0.6,
CI=0.4-0.8). Nam VTN đã từng bò lạm dụng tình
dục có nguy cơ QHTD gấp 58 lần nam VTN không
bò lạm dụng tình dục (Wald = 99.1, p<0.001; OR =
57.8, CI=26-128).
Ước lượng Kaplan Meier thấy tuổi QHTD ở nữ
có xu hướng ngày càng thấp hơn trong VTN đoàn
hệ tuổi trẻ hơn, nhưng chưa có bằng chứng khẳng
đònh (Log Rank -Mantel-Cox
χ2=2.8, P>0.05).
nhiễm với QHTD ở VTN tăng lên, làm tăng nguy cơ
QHTD không an toàn (có thai ngoài ý muốn, bệnh
lây truyền đường tình dục) ảnh hưởng tới sức khoẻ,
phát triển thể chất, tinh thần của VTN.
Sự kiện có kinh nguyệt lần đầu và có xuất tinh
lần đầu là sự kiện quan trọng ở tuổi VTN được lưu
ý và ghi nhớ, tuy nhiên khoảng 1/5 nữ và
½ nam
VTN không nhớ chính xác thời điểm lần đầu có sự
kiện này ở bản thân cho thấy sự kiện có kinh
nguyệt lần đầu được nữ ghi nhớ tốt hơn. Tuổi dậy
thì trung bình của VTN là 15,1 tuổi ở nam và 14,1
tuổi ở nữ. Tuổi dậy thì cả ở nam và nữ đều cao hơn
kết quả Điều tra quốc gia thanh thiếu niên năm
2003 (SAVY) khi so sánh cùng độ tuổi 14-19 tuổi
khu vực đồng bằng Bắc bộ [1]. Trong VTN 15 tuổi
có 70,4% nam và 94,2% nữ đã dậy thì cũng cao hơn
kết quả điều tra SAVY 2003 (50% nam và 79% nữ
đã dậy thì).
So sánh theo nhóm tuổi bằng kiểm đònh t test
thấy VTN nhóm 10-14 tuổi dậy thì sớm hơn nhóm
15-19 tuổi. Kết quả ước lượng Kaplan Meier cho
thấy xu hướng tuổi dậy thì ngày càng sớm hơn ở
nam, nữ trong các đoàn hệ VTN tuổi trẻ hơn. Kết
quả hồi qui Cox thấy VTN nam từ 16 tuổi trở lên thì
tỷ lệ dậy thì giảm đi so với đoàn hệ tuổi trước đó, tỷ
lệ VTN nam dậy thì chủ yếu ở học sinh cấp cấp 2.
VTN nữ từ 14 tuổi trở đi tỷ lệ dậy thì giảm đi so với
tuổi trước đó. Nam, nữ VTN thành thò dậy thì sớm
hơn nông thôn, VTN điều kiện kinh tế khá giả hơn
nam, 0,6% nữ). Nghiên cứu SAVY thấy rằng tỷ lệ
QHTD ở VTN thành thò cao hơn nông thôn và tỷ lệ
đã QHTD trong VTN Việt Nam 15-19 tuổi không
quá khác biệt với một số nước trong khu vực [1].
Tuổi trung bình QHTD lần đầu ở nam là 16,2
tuổi cao hơn tuổi trung bình của người QHTD lần
đầu với nam VTN (15,3 tuổi) thấp hơn điều tra
SAVY nhóm 14-19 tuổi (17.2 tuổi và 17.3 tuổi),
khác biệt với SAVY có ý nghóa thống kê (t test
p<0.001). Tuổi trung bình QHTD lần đầu ở nữ là
16,1 tuổi thấp hơn tuổi trung bình người QHTD lần
đầu với nữ (19,9 tuổi) cũng thấp hơn kết quả SAVY
(17 tuổi và 20.5 tuổi), tuy nhiên khác biệt với SAVY
không có ý nghóa thống kê (t test p>0.05). Kiểm
đònh T test cũng thấy tuổi QHTD lần đầu ở VTN (cả
nam và nữ) nhóm 10-14 tuổi thấp hơn nhóm 15-19
tuổi (P<0.001). Chưa thấy bằng chứng sự khác biệt
về tuổi QHTD lần đầu ở nam, nữ VTN theo học vấn
và điều kiện kinh tế. Tuổi của bạn tình và tuổi
QHTD lần đầu có liên quan tới nguy cơ về QHTD,
SKSS ở VTN. Nghiên cứu ở Mỹ thấy nữ VTN có
bạn tình nhiều tuổi hơn thường có QHTD lần đầu
sớm hơn, ít sử dụng bao cao su (BCS) hơn, và có tỷ
lệ có thai cao hơn [8]. Nghiên cứu ở châu Âu thấy
tuổi QHTD lần đầu càng sớm thì càng có nguy cơ
về SKSS, tình dục không an toàn [10].
Ước lượng Kaplan Meier thấy xu hướng tuổi
QHTD lần đầu ở nữ VTN sớm hơn nam. Tuổi QHTD
lần đầu ở nam có xu hướng sớm hơn trong các đoàn
hệ VTN tuổi trẻ hơn. Kết quả hồi qui Cox với nam
26 Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1. Bộ Y tế, T.C.T.K., WHO, UNICEF (2003). "Điều tra quốc
gia về vò thành niên, thanh niên SAVY."
2. Nguyễn Văn Nghò, Lê Cự Linh (2008): Đặc điểm dậy thì,
kiến thức về tình dục và BPTT của thanh thiếu niên: Kết quả
điều tra ban đầu nghiên cứu sức khoẻ vò thành niên, thanh
niên tại huyện Chí Linh, Hải Dương. Tạp chí Y học dự
phòng, tập XVIII số 6(98): 25-37.
3. Tổng cục thống kê (2006). Điều tra biến động dân số
KHHGĐ 1/4/2005 Nhà xuất bản Thống kê, Hà nội
4. Trường Đại học YTCC (2007). Nghiên cứu dọc về sức
khoẻ vò thành niên và thanh niên tại một vùng đô thò hoá
huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương: Báo cáo Mô đun 1
5. Uỷ ban Quốc gia Dân số- KHHGĐ (1999): Sức khoẻ sinh
sản vò thành niên: Khảo sát, đánh giá về kiến thức, thái độ
và thực hành của thanh thiếu niên Hải phòng với các vấn đề
liên quan đến SKSS. Hà nội 1999
6. Uỷ ban quốc gia dân số và KHHGĐ (2000). "Chiến lược
quốc gia DS-KHHGĐ giai đoạn 2001-2010." Hà nội.
7. Vũ Mạnh Lợi (2006). "Khác biệt giới trong thái độ và
hành vi liên quan đến các quan hệ tình dục của Vò thành niên
và thanh niên Việt nam." Hà nội.
Tiếng Anh
8. Ford, C.A., et al. (2005). "Predicting adolescents'
longitudinal risk for sexually transmitted infection: results
from the National Longitudinal Study of Adolescent
Health." Arch Pediatr Adolesc Med 159(7): 657-64.